• Hội quán thư pháp Thạch Thiện
 
 

Y pháp bất y nhân

 

Trong 3 ngôi Tam bảo bao gồm: Phật pháp và Tăng là đối tượng cho người Phật tử trở về nương tựa. Phật là chỉ cho 3 đời chư Phật, cụ thể là đức Phật Thích Ca, nhưng sắc thân của Ngài đã nhập diệt cách đây hơn 2500 năm; Pháp là những lời giảng dạy của Phật trong suốt 45 (Đại thừa: 49 năm) khi Ngài còn tại thế, cụ thể là 3 tạng kinh điển, được gọi là Pháp thân của Phật; Tăng là đoàn thể Tăng già, là những người xuất gia chân chính sống trong tinh thần hòa hợp và thanh tịnh. Từ thật tế mà nói, Phật đã nhập Niết bàn, Pháp của Phật thì quá cao thâm khó hiểu, do vậy với người đệ tử mới xuất gia hay Phật tử tại gia, vai trò Tăng trong 3 ngôi Tam bảo giữ vai trò rất quan trọng trong việc truyền trao Phật pháp và kinh nghiệm tu tập cho đệ tử. Ở đây, khái niệm Tăng chúng ta cần chú ý, Tăng là Tăng già (sa×gha) là tập thể từ 4 người trở lên, cá nhân không thể gọi là Tăng. Như vậy, người thầy chỉ mang ý nghĩa là người đại diện cho Phật Pháp và Tăng giới thiệu Phật pháp đến thế gian, do vậy bản thể của Tăng già luôn thanh tịnh, sự ô nhiễm hay thối nát của một Tỷ kheo chỉ là mang tính cá nhân không phải là của Tăng. Từ ý nghĩa này cho thấy, người Phật tử trở về nương tựa (quy y) 3 ngôi Tam bảo , thì ngay cả người thầy mà mình xuất gia tu học chỉ là người đại diện, vị thầy chính của chúng ta vẫn là đức Phật, không phải là vị thầy mà mình qui y hay xuất gia, vị thầy ấy chÌ mang tính đại diện; pháp mà mình theo tu học đó là Pháp của Phật, không phải là ý kiến cá nhân nào; Tăng già mới là nơi nương tựa chính cho mình, không phải là một cá nhân của một người nào. Do vậy, vị thầy mà mình xin quy y hay xuất gia, nếu không may vị ấy qua đời, hoàn tục hoặc không đủ tư cách làm thầy cho mình, được quyền tìm vị thầy khác để nương tựa, không nhất thiết phải trung thành với vị thầy mà mình quy y hay xuất gia.

Vì mục đích chúng ta đến với đạo Phật để tìm cầu sự giác ngộ giải thoát, không phải đến như một thành viên của một tổ chức xã hội cùng nhau hưởng quyền lợi về vật chất. Vấn đề này chúng ta sẽ thảo luận ở phần kế tiếp. Để làm rõ ý nghĩa về vị trí người thầy trong việc tu học Phật pháp, trong “Kinh Trường A Hàm” ‘Kinh Du Hành’ đức Phật giải thích:
“Này A-nan, ngươi chớ nghĩ sau khi Ta diệt độ, các ngươi mất chỗ nương tựa, không ai che chở. Chớ có quan niệm như vậy. Nên biết những kinh và giới mà Ta đã dạy từ khi thành đạo đến nay là chỗ nương tựa, che chở các ngươi đó!”[1]

phapbao.org

Đọan kinh này là lời đức Phật dạy cho A nan (Ananda) trong bối cảnh tôn giả A nan chính mình trông thấy cảnh đức Thế Tôn là người thầy của mình sắp nhập Niết bàn. 25 năm làm thị giả cho Ngài là thời gian không ngắn để cảm nhận tình cảm thương yêu từ đức Phật, thời gian cận kề bên Ngài cũng là cơ hội tốt để cho A nan thấu hiểu tư tưởng và học tập nhiều điều tốt đẹp từ Thế Tôn. Tình cảm đó làm sao nguôi được trong một sớm một chiều! và một điều quan trọng hơn :quan điểm và tư tưởng của Ngài ai hiểu được ? bằng cách nào để duy trì và phát huy ? trước bối cảnh bậc đại sư huynh là tôn giả Xá Lợi Phất (Śāriputra) và Mục Kiền Liên (Mahāmaudgalyāyana) đã nhập diệt trước đó, ai có đủ  khả năng để hoằng dương Phật pháp ? Đây chính là lý do mà tôn giả A nan khóc rống lên trước cảnh đức Phật sắp nhập Niết bàn? Đức Thế Tôn thấu hiểu được nổi lòng của A nan, cho nên đã dạy lời này, tức là sau khi Thế Tôn nhập diệt, không ai có quyền lãnh đạo Tăng Đoàn, các Tỷ kheo nên lấy Pháp làm nÖi nương tựa, không nương tựa vào bất cứ ai. Đây chính là ý nghĩa câu “Y pháp bất y nhân”, có nghĩa là chúng ta dựa vào ý nghĩa Pháp của Phật là chính mà không nương tựa vào lời nói của một cá nhân nào. Khái niệm Pháp ở đây bao gồm kinh luật luận, vì trong thời kỳ đức Phật còn tại thế, luật và luận chưa tách rời khỏi kinh, có nghĩa là trong kinh có luật và luận. Có lẽ bản thân Ngài ít nhiều cũng rõ được tình hình sau khi Ngài nhập diệt, sẽ có người muốn lãnh đạo Tăng già, cho nên Ngài thường nhắc nhở:

“Này các Tỳ-kheo, hãy tự mình thắp lên ngọn đèn chánh pháp. Hãy nương tựa nơi pháp của chính mình, chớ đừng thắp lên ngọn đèn khác, đừng nương tựa một pháp khác (Pāli: Attadìpà bhikkhàve viharatha atta-saranà anañña-saranà. Dhammadìpà dhamma-saranà anañña-saranà.)[2]
Trong câu kinh vừa dẫn có ý nghĩa thật sâu sắc, chúng ta cần chú ý, trước tiên đức Phật khuyên chúng ta phải “Hãy tự mình thắp lên ngọn đèn chánh pháp”, có nghĩa là chúng ta phải hiểu rõ chánh pháp, biết được cái gì là chánh cái gì là tà, sau đó chúng ta mới nương tựa vào “pháp của chính mình”, tức là ngang qua sự hiểu biết của chính mình, tự mình quyết định nên làm gì và không nên làm gì, nên tu pháp nào và không nên tu pháp nào, không nên làm kẻ nô lệ về ý thức, giao sự hiểu biết cho người khác, người khác định đọat cuộc sống của mình, vì cuộc sống của mình mà không làm chủ lại để cho người khác làm chủ là nguy hiểm. Trong trường hợp, mình mới vào đạo, không rõ Phật pháp, cho nên phải nương tựa vào tăng, nương tựa vào thầy, trong thời gian nương tựa, nhiệm vụ chính là tìm hiểu Phật pháp, sau đó nương tựa vào pháp không nên nương tựa vào người. Đây chính là ý nghĩa câu “ Y pháp bất y nhân”. Vì người có thể nói đúng, cũng có thể nói sai lời Phật dạy, cho nên xem pháp là chính , không phải xem người chính. Mô tả về ý này “Kinh Du Hành” ghi:

“Nếu có vị Tỳ-kheo nào nói như vầy: ‘Này chư hiền, tôi từng ở tại thôn kia, thành kia, nước kia, đích thân theo Phật được nghe, được lãnh thọ giáo pháp này.’ Nghe như vậy thì các ngươi cũng không nên vội tin, cũng không nên bài bác. Hãy nương theo kinh mà xét chỗ hư thật. Nương theo luật, nương theo pháp mà xét rõ gốc ngọn. Nếu thấy lời nói ấy không trúng kinh, không trúng luật, không trúng pháp, thì các ngươi hãy nói lại người kia rằng: ‘Phật không nói như thế, ngươi đã nhớ lầm chăng? Bởi vì chúng tôi nương kinh, nương luật, nương pháp. Mà lời ngươi vừa nói trái với chánh pháp. Vậy này hiền sĩ, ngươi chớ có thọ trì và chớ đem nói cho người khác. Hãy từ bỏ nó đi.’ Trái lại nếu xét thấy lời kia trúng kinh, trúng luật, trúng pháp thì hãy nói với người kia rằng: ‘Lời ngươi vừa nói, đúng là lời Phật nói. Vì chúng tôi nương kinh, nương luật, nương pháp. Mà lời ngươi vừa nói phù hợp với chánh pháp. Vậy hiền sĩ! Hãy cẩn thận thọ trì và rộng nói cho người nghe, chớ có từ bỏ.”[3]
Qua nội dung và ý nghĩa đọan kinh vừa dẫn cho thấy, trong tiến trình tu chứng Pháp giữ vai trò quan trọng, pháp là nương tựa an ổn nhất cho hành giả, không phải là người thầy, do vậy không nên hoàn toàn tin tưởng vào người thầy, cần phải y cứ vào pháp. Bất cứ ai, dù ở vị trí nào trong xã hội, giữ chức vụ gì trong Giáo hội, lời người ấy phát biểu, cần phải xem xét lại ý nghĩa của nó đúng với tinh thần giáo dục của Phật như trong kinh luật hay không, nếu như đúng thì hành theo, ngược lại, không phù hợp với kinh luật thì chúng ta cần từ bỏ, không nên thọ trì làm theo quan điểm sai lầm đó. Đây là điểm chúng ta cần lưu ý.

 

Thích Hạnh Bình

Đọc thêm: http://vnbet.vn/y-phap-bat-y-nhan-94.html

 

[1] Thích Tuệ Sỹ dịch, “Kinh Trường A hàm” trong “Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh”, tập 1, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản, trang 120.

[2] Thích Tuệ Sỹ dịch, “Kinh Trung A hàm” ‘Kinh Chuyển Luân Vương’ trong “Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh”, tập 3, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản, trang 509.

[3] Thích Tuệ Sỹ dịch, “Kinh Trường A hàm” trong “Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh”, tập 1, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản, trang 84~85).

 
Ý kiến bạn đọc