Chưa có thông tin tác giả

 
 
  • Hội quán thư pháp Thạch Thiện
 
 

Tự lợi và lợi tha

 

福慧隨身書 No.016

自利與利他Tự lợi và lợi tha

印順導師著Đại sư Ấn Thuận trước tác

越譯釋萬利 Thích Vạn Lợi (Việt dịch)

Bồ tát trước khi giải thoát tự lợi, chú trọng ở từ bi lợi tha. Do đó nói: “Khi chưa có khả năng tự độ thì trước tiên phải độ người khác, đây mới là người phát tâm Bồ tát”. Sau khi chứng ngộ, họ càng phát huy việc cứu tế độ thoát vô lượng chúng sinh.

***

bo tat 1 pb

1. Vấn đề được đặt ra

Mùa đông năm 1946, khi tôi đang sinh hoạt tại Viện Phật học Vũ Hán, lúc đó ông La Vân Tiêu ở Hán Khẩu gửi cho tôi một bài viết với nội dung hoài nghi về Phật Pháp. Đây là bài viết mà ông chuẩn bị đăng trên một tạp chí, vì lòng ngưỡng mộ Phật Pháp của mình nên hy vọng sẽ được tôi giải đáp những điều nghi vấn, rồi sau đó mới đăng lên tạp chí. Theo nội dung hoài nghi của một thiếu nữ sống trong gia đình có truyền thống học Phật, thường nghe Phật pháp từ bố. Cô này đối với Phật pháp không có ác ý, chỉ là chưa đủ niềm tin mãnh liệt. Theo sự hiểu biết của cô, được nghe người cha dạy thì cảm thấy Phật pháp rất vĩ đại, song trong đó tồn tại một số vấn đề khó tránh khỏi mâu thuẫn. Vấn đề lớn đó được chia ra khoảng hơn 20 ý nhỏ, có thể giải đáp được, nhưng thật khó giải thích cụ thể nên tôi đã nhiều lần từ chối trong một khoảng thời gian dài. Gần đây, nghe tin ông La Vân Tiêu đang ở Hồng Kông, sắp đến Đài Loan, làm tôi nghĩ đến chuyện 7 năm trước, một công việc chưa hoàn thành.

Vấn đề trong đó liên quan đến từ bi và lợi tha, có nội dung đại ý như thế này: “Tinh thần từ bi và lợi tha của Phật giáo vô cùng vĩ đại, nhưng ai có khả năng lợi tha? Và lợi tha như thế nào? Trước hết nếu tự mình không giác ngộ triệt để, giải thoát tự tại thì không thể thực hiện được. Như vậy, trong giới Phật giáo có bao nhiêu người đạt được như thế? Nếu như số người này chỉ chiếm số ít, vậy thì những người còn lại đều không đủ tư cách lợi tha, chỉ khẩn cấp tìm cầu tự lợi. Đây chính là nguyên nhân mà Phật giáo luôn đưa ra khẩu hiệu từ bi và lợi tha, mà có ít ai thực hiện được!

Vì chỉ có người đã giác ngộ triệt để mới giải thoát tự tại, có thần thông biến hoá, có đầy đủ khả năng phân biệt nhận thức, hiểu rõ căn cơ của chúng sinh, mới giải thoát được sự trói buộc cho người khác, như Bồ tát Quán Thế Âm đại từ đại bi, nghe âm thanh của chúng sinh mong cầu liền từ bi cứu khổ. Thế thì việc thực hành từ bi và lợi tha của Phật giáo, có thể nói là quá khó, chẳng phải việc của người bình thường”!

Những điều hoài nghi như vậy đương nhiên vốn không mấy thích đáng, nhưng cũng không phải do cô này cố ý làm méo mó vấn đề, mà đó thật là điều suy nghĩ của một bộ phận Phật tử. Cũng may mắn vì chỉ một số ít có ý nghĩ thiếu chính xác như vậy, nên vấn đề này cần phải có lời giải đáp cụ thể.

2. Thế nào là lợi tha?

Nói đến lợi tha thì trước hết nên hiểu rõ ý nghĩa về “lợi” là gì? Lợi là lợi ích, lợi lạc: là lìa hư vọng, xấu ác, thiếu thốn, khổ đau, đạt được chơn thật, thiện mỹ, phong phú, an lạc. Tự lợi với lợi tha là làm cho chính mình và tha nhân đạt được lợi ích an lạc. Pháp thế gian, có lợi tất có hại, có vui sẽ có khổ, tuy không đạt được một cách triệt để hoàn thiện nhưng vẫn có giá trị tương đối của nó. Còn Phật pháp hoằng hóa trong nhân gian thì ngoài lợi ích rốt ráo (triệt ngộ giải thoát) ra, cũng còn có lợi lạc thông thường của thế gian.

Phật giáo xuất hiện ở đời, khiến con người được “hiện đời an lạc, đời sau an lạc, rốt ráo giải thoát an lạc”. Chỉ có Thanh văn – hành giả Tiểu thừa, mới thiên về “gấp mong tự lợi”, chú trọng việc cá nhân đạt được an lạc giải thoát. Nếu đề cập đến lợi tha của Phật giáo, không nên rơi vào điểm này của Thanh văn, vì họ chỉ thiên về tự lợi, chuyên chú trọng về giải thoát tự tại, lợi lạc cho cá nhân. Nếu như bỏ qua “hiện đời an lạc”, thì chính mình thu hẹp nội dung của Phật giáo, tự mình rời bỏ nhân gian, thì khó trách người trong xã hội hiểu lầm!

 

Về lợi tha thì có hai loại lớn:

Một là lợi tha bằng vật chất (tài thí): Cứu trợ giúp đỡ về các vấn đề ăn mặc cho người bần hàn, thuốc men trị liệu cho người bệnh tật, sửa chữa đường xá, khai khẩn đất hoang v.v… dùng sức lực hoặc sinh mệnh của chính mình, để cứu trợ giúp đỡ người khác.

Hai là lợi tha từ tinh thần (pháp thí): Đem đến tri thức cho người thiếu hiểu biết, sự an ủi cho những ai đang ưu sầu khổ não, khích lệ chúng sinh bị khiếp nhược không còn sợ sệt; Tất cả vì sự nghiệp văn hoá khiến nhân tâm hướng thượng, đi đến quang minh, trung đạo, chính thường, an ổn. Nó không chỉ là giáo hoá hướng dẫn pháp xuất thế không, mà còn đem chính pháp thế gian để giáo hoá, hướng dẫn khiến cho nhân loại luôn nuôi dưỡng nhân cách tốt đẹp, đề cao đạo đức, tri thức và năng lực, làm bước đệm cho pháp xuất thế gian.

Đương nhiên, pháp thí so với tài thí càng triệt để hơn. Nếu như tài thí cứu trợ, giúp đỡ người thiếu thốn khổ sở về áo quần, ẩm thực, thuộc tính lâm thời thì khi đó chỉ giải quyết được phần ngọn. Còn đem chính pháp khởi phát chuyển hướng họ, giảng dạy tri thức kỹ năng, tạo công ăn việc làm cho họ (trừ trẻ em, người cao tuổi và người tàn tật), tức bằng lao động chính đáng của cá nhân, giải quyết vấn đề cho việc sinh hoạt chính mình, điều này tốt hơn nhiều so với sự cứu giúp lâm thời.

Trong Phật pháp, pháp thí xuất thế gian tốt hơn nhiều pháp thí thế gian, song không thể không cần đến tài thí và pháp thí thế gian. Nếu như chỉ đề cập lợi ích của giải thoát tự tại, thì thật là điều hiểu lầm căn bản đối với Phật pháp.

Nếu đem pháp thí xuất thế làm cho người khác đạt được giải thoát, cũng không có gì sai lầm trong sự tưởng tượng của họ. Nếu muốn giải thoát thì phải tu tập hành trì mà đạt được. Hành giả Tiểu thừa mới bắt đầu phát tâm xuất ly, gieo trồng hạt giống giải thoát sau đó tuỳ thuận tu học, dần dần thành thục; Cuối cùng mới chứng chơn thật, đoạn trừ mê hoặc và đạt được giải thoát. Còn hành giả Đại thừa, mới đầu phát tâm Bồ-đề, tức trồng hạt giống Bồ-đề; Trải qua thời gian dài tu hành mới thành thục, mới được rốt ráo thành Phật.

Đại thừa với Tiểu thừa đều phải trải qua quá trình “gieo trồng hạt giống” đi đến “thành thục” cuối cùng đạt được “giải thoát”. Do đó, giáo hoá pháp xuất thế, không chỉ khiến người khác ở hiện tại đạt được giải thoát tự tại mới là lợi tha. Khiến người khác “gieo trồng hạt giống”, đi đến “thành thục”, điều này không phải là lợi tha hay sao? Khiến người khác đạt được giải thoát ở hiện tại trong khi tự mình không đạt được giải thoát, đó là điều không thể (cũng có trường hợp tự mình chưa được giải thoát mà có khả năng khiến người khác đạt được giải thoát). Nhưng khiến người khác đạt được lợi ích từ việc “gieo trồng hạt giống” và “thành thục”, tự mình tuy chưa từng đạt được lợi ích “giải thoát”, thì điều này hoàn toàn là có khả năng.

Do đó, “Kinh Niết Bàn” dạy: “Người còn nhiều phiền não” nhưng nếu họ hiểu được một phần ý nghĩa chơn thật của Phật pháp thì có khả năng làm nơi y chỉ (thầy) của người khác. Nếu người hiểu được ý nghĩa chơn thật của Phật pháp, không đem đến lợi ích an lạc hiện tại cho người khác, chỉ chuyên vì giải thoát an lạc cho cá nhân, cũng nhất định không phải “vì tự mình trước tiên giác ngộ triệt để thì không thể”. Chẳng qua người có khả năng giải thoát tự tại thì năng lực đem đến lợi ích cho chúng sinh càng sâu sắc càng quảng đại hơn thôi.

Người chất vấn nghi ngờ này có điểm xuất phát là người chưa giác ngộ triệt để thì không thể lợi tha, điều này cũng không phải là vấn đề to lớn. Nhưng một bộ phận đệ tử Phật, hết sức cường điệu lợi ích giải thoát tự tại trong hiện tại, xướng khởi quan niệm chưa được tự lợi thì không thể lợi tha. Cuối cùng có hay không đạt đến tự lợi (giải thoát) vẫn chưa đạt được mà tất cả việc lợi tha đều hoàn toàn bỏ qua!

 botat pb

3. Đại thừa chú trọng lợi tha

Mục tiêu chung của đệ tử Phật là tịnh hoá thân tâm, phát triển đức tính, từ trong sự giác ngộ triệt để đó đạt được tự lợi giải thoát tự tại. Còn sự khác nhau giữa Thanh văn đạo và Bồ tát đạo chỉ là chú trọng ở tự lợi, hoặc chú trọng ở lợi tha, từ trong lợi tha mà hoàn thành tự lợi.

Thanh văn không phải không có khả năng lợi tha, họ vẫn giữ gìn Phật pháp, lợi lạc nhân thiên, độ thoát chúng sinh, chẳng qua họ chú trọng giải thoát tự lợi. Khi họ chưa đạt được giải thoát, vì tâm yếm ly quá sâu nên ít thích tu tập công đức lợi tha. Sau khi họ chứng ngộ, cũng giáo hoá tùy duyên không mấy tích cực. Còn Bồ tát trước khi giải thoát tự lợi, chú trọng từ bi lợi tha. Do đó: “Khi chưa có khả năng tự độ thì trước tiên phải độ người khác, đây mới là người phát tâm Bồ tát”. Sau khi chứng ngộ, họ càng vì việc cứu tế độ thoát vô lượng chúng sinh. Vì động cơ chính của Thanh văn thừa là chú trọng ở phần trí chứng; Còn động cơ chính của Bồ tát thừa, là chú trọng ở Bồ tát đạo từ bi cứu tế.

Bồ tát đạo, trong Thánh điển thời sơ kỳ hay thường gọi là Tam tạng của Thanh văn cũng có tồn tại, đó chính là “Bồ tát Bổn Sinh Đàm” đã ghi chép lại việc Bồ tát ở trong ba đại A-tăng-kỳ kiếp, là quốc vương, vương tử, hoặc làm tể quan, ngoại đạo, nông dân, công nhân, thương nhân, bác sỹ, thuyền trưởng; Hoặc các loại chúng sinh khác, như chim chóc thú vật. Bồ tát không tiếc tài vật, không tiếc thân mạng, vì lợi ích cho chúng sinh mà cống hiến dâng tặng. Trong cõi Diêm-phù-đề, không có nơi nào mà không có sự hy sinh máu thịt xương tuỷ của Bồ tát. Tất cả việc tu học trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, bốn loại Ba-la-mật, sáu loại hoặc mười loại Ba-la-mật, đều từ đại hạnh khó hành được quy nạp ở trong “Bổn Sinh Đàm”.

Từ bi lợi tha như thế đều là trước khi Bồ Tát chứng ngộ giải thoát, nên nói không tự lợi chẳng có khả năng lợi tha! Đến khi tu hành thành thục, dưới cội Bồ-đề một niệm tương ưng diệu huệ, viên thành vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Đến ngộ thành Phật như thế là từ trong tu tập từ bi lợi tha, trải qua ba đại A-tăng-kỳ kiếp mới đạt được. Điểm khác nhau cụ thể nhất chính là trong sinh tử trường kỳ, không cầu tự lợi giải thoát mà chú trọng ở từ bi lợi tha.

Kinh điển vào thời sơ kỳ của Đại thừa, đối với việc tu hành ba kỳ có chút khác với Tam tạng của Thanh văn. Đại thừa cho là: Bồ tát thực hành lợi tha, trước khi chưa chứng ngộ là sự hành, thắng giải hành tuy việc làm này rất khó có nhưng công đức vẫn chưa được quảng đại. Sau khi triệt ngộ chứng chơn (vô sinh pháp nhẫn), trang nghiêm tịnh độ, đại hạnh lợi tha thành thục chúng sinh, công đức lớn hơn rất nhiều. Bởi vì lúc này tương ưng với chơn trí, sự lý tương dung, bình đẳng vô ngại.

Đại thừa chia Bồ tát đạo tu hành thành hai giai đoạn: Bát-nhã đạo là Bồ tát tu tập trải qua một đại A-tăng-kỳ kiếp, trước khi thực chứng địa tiền; Duy Thức tông gọi đây là Tư lương vị và Gia hành vị (đến kiến đạo vị) cũng gọi là Thắng giải hành địa. Sau khi chứng ngộ là phương tiện đạo, Bồ tát tu hành trải qua hai đại A-tăng-kỳ kiếp tức Đăng địa Bồ tát, Duy Thức gia cho là từ kiến đạo đến tu đạo vị. Đại thể nói: Bồ tát địa tiền, tuy có thắng giải mà chưa có hiện chứng, quảng tập vô biên phước đức tư lương, tương cận với điều được nói trong “Bổn Sinh Đàm”. Còn Bồ tát đại địa hiện chứng pháp giới như Bồ tát Quan Âm v.v… từ bi phổ độ cứu tế chúng sinh không thể nghĩ bàn. Trong “Bổn Sinh Đàm” ghi chép: Bồ tát có một phần hạnh nguyện như vậy, thuộc một giai đoạn của hoá thân. Tuy có hai giai đoạn lớn là chưa chứng ngộ và đã chứng ngộ, mà trước khi chưa chứng ngộ, Bồ tát vẫn là từ bi lợi tha, quyết không có một tâm một ý nào dù chỉ là tìm cầu giải thoát tự lợi. Căn cứ vào ý nghĩa chính của Bồ tát hạnh, thì người đưa ra chất vấn nghi ngờ, hoàn toàn là sai lầm, căn bản không thành vấn đề. Bồ tát Quan Thế Âm v.v… nghe âm thanh mà cứu khổ, là việc làm của Bồ tát đại địa, song đó không phải là hành giả Bồ tát sơ học, không cần thực tiễn hành vi từ bi lợi tha này.

Chẳng qua, một phần Đại thừa thời hậu kỳ, tự xưng Đại thừa là tối đại thừa, Thượng thừa là tối thượng thừa; Chí viên chí đốn, chí cao chí thượng. Không cần đại căn chưa hoàn thành, mà là một tâm một ý tốc cầu thành tựu. Do vậy thịnh hành các thuật ngữ mỹ diệu như “hoành xuất”, “đốn siêu”, “nhất sinh thủ biện”, “tam sinh viên chứng”, “tức sinh thành Phật”, “tức tâm tức Phật” v.v… “Sinh tử chưa dứt, khẩn cấp bi thương”; “sinh tử đại sự, vô thường tấn tốc”. Đây là một loại tâm tình yếm ly của Thanh văn, đã hiển nhiên đi vào trong tâm của hành giả Đại thừa chí viên chí đốn. Lúc này tịnh tu trong núi rừng, được tán thán là chánh đạo của Bồ tát, mà không còn hướng đến “kinh đô thành ấp xóm làng” nữa.

Trong các loại tư tưởng trên, điều nghi ngờ chất vấn đó cũng không thể thành vấn đề được. Bởi vì tất cả công đức lợi tha vốn đã viên thành, không cần phải hướng ngoại tìm cầu. Nếu như một niệm chứng ngộ, thì đầy đủ sáu ba-la-mật, vô biên công đức, không có thiếu xót một điểm nhỏ nào. Ở trong lý luận hoặc trong tâm cảnh, đương nhiên là lời nói hợp với đạo lý, lập luận có căn cứ, nhưng trong con mắt bình thường của mọi người, cho rằng công đức lợi tha của Bồ tát như vậy chẳng qua là nội dung trong tâm của tín đồ tôn giáo. Còn thực tế biểu hiện chỉ thấy tự lợi, chưa có lợi tha nên khó tránh khỏi điều hoài nghi của người khác.

Trong thời kỳ kháng chiến, sau chuyến đi thăm các nước Đông Nam Á, đại sư Thái Hư trở về phát biểu: Giáo lý ở Nam Phương là Tiểu thừa, nhưng hành vi lại là Đại thừa; Còn giáo lý ở Trung Quốc là Đại thừa, nhưng hành vi là Tiểu thừa. Quả thật vậy, Phật giáo Nam phương tuy là Tam tạng, Thanh văn; Nhưng vì mất đi tinh thần chính của Thanh văn, nên hình như không còn tâm cấp cầu yếm ly, chuyên tu thiền huệ, mà hướng về giải thoát. Thiếu đi tâm cấp cầu chứng ngộ, do đó mà ngược lại, lại chú trọng việc giáo hoá thế gian, thực hiện sự nghiệp văn hoá từ thiện. Còn ở Trung Quốc, không chỉ giáo lý là Đại thừa tối đại thừa, tu trì đốn siêu trực nhập cũng là Đại thừa tối Đại thừa, nhưng Phật giáo Đại thừa mà sống bằng tinh thần của Thanh văn – cấp cầu tự lợi, cấp cầu chứng nhập. Bỏ đi tinh thần từ bi tế độ, thực hành Đại thừa cứu thế làm trước tiên, việc đó chỉ còn uỷ thác vào huyền lý duy tâm thôi!

4. Ở trong sinh tử đem lại lợi ích cho chúng sinh

Người (Bồ tát) tu học Phật giáo Đại thừa, nếu như không có chứng ngộ, vẫn chưa có khả năng giải thoát tự tại, thì họ làm sao ở trong sinh tử mà tu hành? Không sợ thất bại hay sao? Nếu không có khả năng tự mình làm chủ, thì giống một số phàm phu bị đọa ác đạo, hoặc sinh vào cõi trời Trường Thọ hay sao? Tự mình không biết bơi, làm sao cứu người bị nước cuốn? Họ không sợ bị cuốn trôi theo dòng nước hay sao? Một số người tu học chuyên chú trọng tín nguyện, mong cầu tín tâm không thối chuyển; Hoặc chú trọng ở trí chứng, có khuynh hướng cấp cầu giải thoát, cấp cầu thành Phật, đều không ra ngoài sự ảnh hưởng của nguồn tư tưởng này.

Đương nhiên, mình không biết bơi, thì không thể xuống nước cứu người. Nhưng tự mình ở trên bờ thì làm sao cứu người bị nước cuốn trôi? Hàng Thanh văn cấp cầu tự chứng, liễu thoát sinh tử, đợi đến khi phiền não đoạn trừ, tức “cách biệt với sinh tử” và tiếp đến nếu không có khả năng phát tâm Bồ-đề – trường kỳ trong sinh tử tu tập Bồ tát hạnh. Tuy trong Kinh điển Đại thừa, có kết luận là tiến triển đến đây có thể hồi Tiểu hướng Đại, song họ bị chê trách là thuộc hàng tiêu nha bại chủng, mất rất nhiều phương tiện giáo hóa, mới khiến họ hướng về Đại thừa? Họ phải tiếp tục tu tập rất nhiều kiếp về tín tâm Đại thừa, mới có khả năng chứng Bồ tát địa? Tức khiến hồi nhập Bồ tát thừa, vì họ đã tích tụ tập khí tự lợi của quá khứ khó cải đổi, nên không tinh tấn thuận lợi bằng trực tiếp tu tập Đại thừa. Do đó, trong Kinh Đại thừa, đem việc thối thất tâm Bồ-đề cho là phạm trọng giới của Bồ tát; Từ bi và nguyện lực không đủ thì đoạ vào tự lợi là nhất định mất tâm bồ đề không còn nghi ngờ gì cả. Không chú trọng từ bi nguyện lực, không tích tập các loại công đức lợi tha, mà nhất tâm nhất ý vì tự lợi, cho đó là mau sớm thành Phật, điều này thật là đáng thương xót cho tinh thần chơn chánh của Đại thừa đã bị mai một!

Muốn cứu người bị chìm, thì không thể đứng trên bờ mà cứu, phải biết bơi, còn muốn biết bơi, thì phải ở trong nước học bơi mới được. Bồ tát phải trường kỳ ở trong sinh tử mà tu tập Bồ tát hạnh, tự nhiên học tập ở trong sinh tử, phải có một phương thức trường kỳ ở trong sinh tử, mà có bản lĩnh đem đến lợi ích bình đẳng cho tất cả chúng sinh. Song không phải ỷ lại ở Phật lực để hoàn thành; Cũng chẳng phải tự mình trước tiên đạt được liễu thoát sinh tử, giải thoát tự tại, bởi vì như vậy là rơi vào vực sâu của Tiểu thừa.

Phương thức mà Bồ tát ở trong trường kỳ sinh tử mà có bản lĩnh đem lại lợi ích cho chúng sinh, thì ngoài “tín nguyện kiên định” và “trưởng dưỡng từ bi” ra, chủ yếu là “thắng giải Không tánh”. Họ quán chiếu tất cả pháp như huyễn như hoá, hiểu được nó không có tự tánh, đạt được chánh kiến vô ngại về Thế tục đế và Thắng nghĩa đế, là phương pháp chủ yếu nhất. Do đó trong Kinh dạy: “Dù ở trong thế gian, người có chánh kiến tăng thượng, tuy trải trăm ngàn đời, quyết không đoạ đường ác”. Chỉ có người liễu đạt được sinh tử và Niết-bàn, đều là như huyễn như hoá, thì mới không như phàm phu luyến tiếc sinh tử, cũng không giống Tiểu thừa yếm ly thế gian, chán ghét cấp cầu giải thoát khỏi “ba cõi như lao ngục, sinh tử như oan gia”. Đây mới có khả năng không như phàm phu lo sợ Niết-bàn, có khả năng hiểu sâu công đức của Niết-bàn, mà cũng không như Tiểu thừa gấp cầu đạt được Niết-bàn.

Bơi lội ở trong sinh tử, nhân vì họ có tâm tín nguyện và từ bi, đặc biệt là Không thắng giải lực, dần dần điều phục phiền não, đạt đến phiền não tuy hiện khởi ít mà không bị đại náo loạn động. Họ không đoạn phiền não, cũng không tạo ác nghiệp to lớn, luôn xem nỗi thống khổ của chúng sinh như của chính mình, chúng sinh được lợi ích an lạc thành sự an lạc lợi ích của chính mình; Ngã kiến ngày ngày cạn dần, từ bi ngày ngày thâm hậu, thì đâu có sợ gì đoạ lạc?

Chỉ có ai chuyên tính toán lợi ích cho bản thân, thì lúc nào cũng lo sợ đoạ lạc. Phát nguyện ở trong sinh tử, thường được thấy Phật, thường được nghe pháp, “đời đời thường hành Bồ tát đạo”, đây là ý nghĩa chung của sơ kỳ Đại thừa, cũng là ý nghĩa chung của hai tông Trung Quán và Du-già. Như đức Phật ở trong Kinh dạy: “Ta xưa kia hay thường trụ ở Không, nên chứng được giác ngộ vô thượng”. Điều này rất khác với Thanh văn, chỉ thường tu tập có tâm yếm ly nỗi khổ sinh tử vô thường. Kinh điển Đại thừa chỉ rõ các pháp đều Không, khiến hành giả không trụ sinh tử, không trụ Niết-bàn, tu tập Bồ tát hạnh làm đại phương tiện thành Phật. Loại Không tánh thắng giải này, hoặc gọi là “chơn Không kiến”, phải từ văn huệ và tư huệ mà tiến đến tu tập, lấy tín nguyện và từ bi để trợ thành. Họ luôn luôn ghi nhớ: “Hiện tại là lúc tu học, chưa phải khi chứng ngộ” (bi nguyện chưa cụ túc mà chứng Không, thì sẽ đoạ nhập vào Tiểu thừa). Đây mới có khả năng trường kỳ trong sinh tử, nhẫn thọ sinh tử khổ nạn và các loại bức hại của chúng sinh, mà không thối tâm Bồ-đề. Ở trong sinh tử Bồ tát đem tứ nhiếp pháp: bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự đem lại lợi ích rộng lớn cho tất cả chúng sinh. Tự mình chưa được giải thoát, mà có khả năng quảng hành từ bi lợi tha, nan hành khổ hành, tuy không phải ai ai cũng có khả năng, nhưng con đường chung của Bồ tát, xác thật là như vậy.

bo-tat-quan-the-am

5. Nhân hành Bồ tát hạnh lấy tinh thần từ bi làm gốc

Bồ tát là siêu việt qua phàm phu và cũng siêu việt qua nhị thừa. Tâm hành luyến trước thế gian của phàm phu là việc bình thường của thế gian, như nước tự nhiên chảy từ trên cao xuống thấp, không cần học cũng biết. Còn tu hành siêu xuất sinh tử của Nhị thừa lại thiên về sự yếm ly, nghiêng lệch về một bên, cũng là điều không mấy khó. Chỉ có Bồ tát hạnh không đắm trước thế gian, không lìa thế gian, mới là khó nhất trong các việc khó!

Sự thật chính xác như thế: tâm hạnh của phàm phu, hình như tất cả đều là vậy; Còn trong chúng hội của Phật Thích Ca, chủ yếu là hiền thánh Tiểu thừa, điều này không dễ, nhưng cũng vẫn là chưa quá khó, Bồ tát thì chỉ có Bồ tát Thích Ca và Bồ tát Di-lặc; Đây là sự thật lịch sử của nhân loại. Có thể thấy tâm hành của Bồ tát thật là không dễ, giống như đoá hoa sen xanh trong hầm lửa. Trong Kinh điển Đại thừa nói: Có vô lượng vô biên Bồ tát ở trong mười phương, đó là mười phương có như vậy, song cõi này thường ít thấy. Cho đến nơi Bồ tát hoá hiện, có thể nhiều nơi đều có, nhưng họ không phải là cõi nhân gian có thể nhận biết được. Nên từ phước đức của người phàm phu ở cõi này mà luận về Bồ tát hành, chỉ có cách tưởng tượng, mang màu sắc thần bí, tôn trọng kính ngưỡng, điều này vốn không nhiều. Nên trong Kinh dạy: “Vô lượng vô biên chúng sinh phát tâm Bồ-đề, đạt được một hai vị bất thối chuyển là điều hy hữu”. Do đó kết luận: “hoa xoài với trứng cá, và người phát tâm Bồ tát, ba hạt giống này tuy nhiều, nhưng kết quả lại rất ít”. Vì việc xuất thế là việc của đại trượng phu, mà Bồ tát là đại trượng phu trong hàng đại trượng phu! Nếu có một vị phát tâm thành tựu được bất thối chuyển, thì đối với lợi ích cho chúng sinh, thật là không thể tính hết, giống như giá trị của viên châu báu ma-ni, hơn hẳn tất cả báu vật ở cõi Diêm-phù-đề.

Chúng ta phải nhận thức rõ ràng: tên gọi Bồ tát phù hợp với sự thật công hạnh của họ, Bồ tát rất là vĩ đại! Điểm vĩ đại nhất là họ không suy nghĩ vì cá nhân, lấy việc lợi tha làm tự lợi. Điều vĩ đại này, chúng ta nên học tập; Hoằng dương pháp Đại thừa, kính ngưỡng sự viên mãn của đức Phật và sự nghiệp vĩ đại, đại hạnh của Bồ tát, tuy phải trải qua nhiều kiếp tu hành, hoặc tạm thời dừng lại không tiến hành, nhưng một khi nghe đến tai, thì vạn kiếp bất thất, nhân duyên đến, cuối cùng cũng từ đó mà thành Phật. Bồ tát thành tựu bất thối, tuy nói không có nhiều, nhưng đại trượng phu đầu đội trời chân đạp đất, tự có người chơn thật phát tâm Bồ-đề. Có tín nguyện, từ bi và thắng giải Không tánh, ở trong biển sinh tử rèn luyện thân tâm, từ đầu đến cuối đều vì tự lợi lợi tha.

Một số người tuỳ hỷ, ngưỡng mộ, học tập Bồ tát hành, đều là trồng xuống hạt giống Bồ-đề, đều là người hiền triết, bậc thượng sĩ ở trong đời. Phàm phu có đại tâm, tích cực lợi tha, vì pháp vì người, cho dù họ là “Bồ tát bại hoại”, cũng hơn so với người chỉ chuyên lo vì mình!

Người có Bồ tát hạnh lấy từ bi làm chính này, nếu tâm còn nhỏ hẹp thì là hàng chánh nhân quân tử (Thập thiện Bồ tát) trong đời có tâm hướng Phật thừa; Còn tâm quảng đại thâm sâu hơn luôn nghĩ vì lợi ích cho đời, có chí khí Đại thừa vì lợi ích cho nhân gian.

Bồ tát từ ngoại phàm, nội phàm dần dần chứng Hiền vị, chưa đạt được giải thoát tự lợi, song có khả năng vì tất cả chúng sinh mà tu học, vì tất cả chúng sinh mà hy sinh. Dần dần tu học ngày càng thâm sâu, từ chánh hạnh của nhân gian mà từng cấp thang lên Phật thừa, đây chính là chánh hành trung đạo của Bồ tát. Nếu ai chơn thật có tồn tại tấm lòng của Bồ tát, có phong cách của Bồ tát, hiểu được tinh thần chơn thật lợi tha của Bồ tát, thì làm sao cấp cầu tự lợi như thế?

Tinh thần chơn chánh lợi tha của Phật giáo, bị trói buộc, bị hiểu lầm, bị méo mó, điều này không thể không từ gốc mà cải đổi! Điều này không thể không từ sự chọn lựa trong Bồ tát đạo, đem nó phát huy ra không được! Đó mới phù hợp với hoài bão của đức Phật và báo đáp ân đức của chúng sinh. Và chỉ có như thế, mới trả lời được sự nghi vấn của mọi người.

Trích từ “Phật Học Tam Yếu” trang 141 – 154

Đại ý:

1. Ý nghĩa của “Lợi”

Phật giáo xuất hiện ở đời, khiến con người được “hiện đời an lạc, đời sau an lạc, rốt ráo giải thoát an lạc”.

2. Đại thừa chú trọng lợi tha

Bồ tát trước khi giải thoát tự lợi, chú trọng ở từ bi lợi tha. Do đó nói: “Khi chưa có khả năng tự độ thì trước tiên phải độ người khác, đây mới là người phát tâm Bồ tát”. Sau khi chứng ngộ, họ càng vì việc cứu tế độ thoát vô lượng chúng sinh.

3. Ở trong sinh tử đem lại lợi ích cho chúng sinh

Phương thức mà Bồ tát ở trong trường kỳ sinh tử mà có bản lĩnh đem lại lợi ích cho chúng sinh, thì ngoài “tín nguyện kiên định” và “trưởng dưỡng từ bi” ra, chủ yếu là “thắng giải Không tánh”, hay gọi là “Chơn Không Kiến”.

4. Nhân hành Bồ tát hạnh lấy tinh thần từ bi làm gốc

Điểm vĩ đại của Bồ tát là thực hành lợi tha vì tự lợi. Người có Bồ tát hạnh lấy từ bi làm chính này, là hàng chánh nhân quân tử (Thập thiện Bồ tát) trong đời có tâm hướng Phật thừa; tâm quảng đại thâm sâu luôn nghĩ vì lợi ích cho đời, có chí khí Đại thừa vì lợi ích cho nhân gian.

 

 

 

 
Ý kiến bạn đọc