Chưa có thông tin tác giả

 
 
  • Hội quán thư pháp Thạch Thiện
 
 

GÓP MỘT BÀN TAY CHUNG LO PHẬT SỰ

 

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

TÂM THƯ

 

GÓP MỘT BÀN TAY CHUNG LO PHẬT SỰ

 

Kính bạch: Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni.

Kính thưa: Quý Phật tử, doanh nhân, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm gần xa.

Phật dạy: “Người nào thấy pháp người ấy thấy Phật”. Có nghĩa là muốn giác ngộ giải thoát, người ấy phải hiểu giáo pháp. Phật Pháp như chiếc thuyền để đưa người mê qua sông.

Thưa quí vị ! Lời dạy ấy tuy rất đơn giản, tưởng như đã hiểu, nhưng thật tế không dễ hiểu tí nào, vô cùng gian nan để thấy được pháp, hiểu được đạo lý trong lời Phật dạy, nhất là Tăng ni và Phật tử Việt Nam, hiểu lời Phật dạy trong điều kiện thiếu kinh điển và sách hướng dẫn. Trong khi đó, quá trình hình thành kinh điển không đơn giản như những gì mà chúng ta được nghe, kinh luật đã được kết tập – biên tập thành chữ viết ngay lần kết tập thứ nhất, ngay sau khi đức Phật nhập diệt. Trên thực tế, sự kết tập kinh điển trải qua một quá trình rất dài, từ khẩu truyền cho đến chữ viết, nhiều nhóm nhiều nơi biên tập khác nhau, hiện còn 2 bản kinh A-hàm và Nikāya, nhiều bộ luật khác nhau, là những minh chứng cụ thể. Một điều cần chú ý là, giới nghiên cứu xác định, Thánh điển Pāli – Nikāya hiện còn được kết tập thành chữ viết tại Sri Lanka vào những năm 30 trước CN; còn kinh điển Hán truyền được phiên dịch sớm nhất vào cuối thế kỷ thứ nhất hay đầu thế kỷ thứ 2, rầm rộ vào thời Tùy, Đường…Thực trạng phiên dịch này phải chăng người dịch căn cứ từ bản Phạn (chữ viết) rồi dịch ra Hán văn? hay người dịch tức người truyền giáo dựa vào sự ghi nhớ của mình rồi dịch thành bản Hán? Phải chăng các nhà truyền giáo trực tiếp dịch từ Phạn sang Hán ? Hay từ Phạn dịch sang tiếng Hồ, rồi từ tiếng Hồ dịch sang Hán? Dịch từ văn bản hay chỉ dịch từ ký ức? Có thể nói đây là những vấn đề các nhà nghiên cứu đã nổ lực làm rõ.

tam-thu-03

Qua đó cho thấy, quá trình biên tập kinh điển rất phức tạp, từ khi đức Phật nói pháp, rõ ràng Ngài không tự viết, các đệ tử cũng không ai ghi chép, sau khi Ngài nhập diệt kinh điển lưu truyền dưới hình thức truyền khẩu, không phải chữ viết, mãi đến thời vua A Dục mới có một số kinh khắc trên bia đá, cho đến vài mươi năm trước CN, kinh điển mới chính thức biên tập thành chữ viết.

Quá trình biên tập và phiên dịch đầy phức tạp như thế, trong khi đó ở Việt Nam, loại sách chuyên đề nghiên cứu về lĩnh vực này viết bằng tiếng Việt hầu như không có, sách nghiên cứu về lịch sử tư tưởng các Bộ phái, lịch sử tư tưởng Phật giáo Ấn Độ cũng rất hạn chế …, càng nghiêm trọng hơn, cho đến ngày nay Phật giáo Việt Nam vẫn chưa có bộ Đại tạng kinh hoàn chỉnh bằng tiếng Việt. Thế thì làm thế nào Tăng ni và Phật tử có thể hiểu được ý nghĩa lời Phật dạy, phân định được kinh điển nào thuộc bộ phái nào, nguyên nhân tại sao lịch sử phải hình thành bộ phái đó. Từ đó dẫn đến sự tranh cãi vô ích, chê bai lẫn nhau, tự cho rằng mình là tu đúng, kẻ khác tu sai, phỉ báng Kinh điển Hán tạng – Đại thừa là phi Phật thuyết, ngạo nghễ chê bai Thánh điển Pāli – Nikāya là tiêu nha bại chủng… Thế thì trong ấy ai tu đúng ai tu sai? Kiinh điển nào mới là kinh của Phật nói? rõ ràng là sự hỗn loạn, tạo thành tâm trạng hoan mang trong tăng ni và Phật tử. Trước thực trạng này chúng ta thử suy nghĩ, văn hóa đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam được xây dựng trên nền tảng tư tưởng của Phật giáo, ngược lại trong Phật giáo có một số người kém hiểu biết phát biểu một cách tự do tùy tiện, ảnh hưởng không tốt đến xã hội, thử hỏi nếu văn hóa đạo đức của Phật giáo không còn là chỗ dựa cho dân tộc, thì vấn đề đạo đức của dân tộc như thế nào?

tam-thu-02

Nhằm để giải quyết những vấn đề này, Trung tâm nghiên cứu Phật giáo Hán truyền tiến hành các mặt hoạt động như sau:

  1. Mở lớp huấn luyện phiên dịch kinh điển và các nguồn tư liệu chữ Hán cho các Tăng Ni sinh.
  2. Dịch các tác phẩm có giá trị học thuật để làm tài liệu giảng dạy cho giảng viên, cũng là sách tham khảo cho các sinh viên, nghiên cứu sinh ngành Phật học;
  3. Tuyển dịch các bản Kinh, Luật, Luận quan trọng;
  4. Cập nhật kinh sách cho thư viện Tuệ Chủng;
  5. Nghiên cứu nhân vật và các tác phẩm của các Hòa thượng, Cư sĩ trong phong trào chấn hưng Phật giáo;
  6. In ấn, xuất bản các công trình nghiên cứu và dịch thuật do Trung tâm biên dịch;
  7. Hợp tác với Phật học viện Viên Quang đưa Tăng Ni sinh Việt Nam đang học lớp phiên dịch qua tu nghiệp tại Đài Loan mỗi học kỳ 1 tháng.

Trên đây là phương hướng hoạt động và những công việc cụ thể mà Trung tâm đang tiến hành. Trước mắt Trung tâm đã biên soạn, phiên dịch và xuất bản trên 20 tác phẩm

Do nhu cầu giải quyết công việc quá nhiều, sự thành tựu công việc hoàn toàn tùy thuộc vào kinh phí hoạt động, cơ sở vật chất. Tuy nhiên, cơ sở hoạt động của Trung tâm quá khiêm tốn, kinh phí sinh hoạt lại không có, từ trước đến nay chỉ hoạt động theo khả năng, do vậy, hiệu quả còn hạn chế. Thiết nghĩ, những công việc mà trung tâm đang tiến hành là cơ sở vững chắc cho việc phát triển cho nền giáo dục đào tạo Tăng ni và Phật tử cho Phật giáo Việt Nam. Trong đó sẽ làm rõ sự dị biệt giữa Phật giáo Việt Nam và Trung Quốc, chỉ ra những ưu khuyết điểm của Phật giáo Trung Quốc, điểm ưu ta sẽ nghiên cứu học tập, cái khuyết ta sẽ từ chối.

Do vậy, Trung tâm rất mong chư Tôn đức Tăng ni trong cả nước, cũng như tín đồ Phật tử quan tâm giúp đỡ, chung sức chung lòng cùng nhau lo Phật sự, dưới nhiều hình thức khác nhau:

  1. Khuyến khích Tăng ni đến tham gia học tập;
  2. Hổ trợ nơi ăn ở cho Tăng và ni sinh;
  3. Cúng dường thời gian phục vụ cho Trung tâm, chủ yếu làm những công việc cho thư viện.
  4. Đánh máy kinh sách;
  5. Kiểm tra, chỉnh sửa lỗi chính tả các tác phẩm của Trung tâm;
  6. Hổ trợ Trung tâm bằng cách thỉnh các tác phẩm do Trung tâm xuất bản;
  7. Hiến cúng hay cho mượn photo các kinh sách có liên quan đến mục 5;
  8. Hổ trợ các dụng cụ, thiết bị máy móc cho nhu cầu hoạt động của Trung tâm, như bàn ghế, computer…
  9. Kinh phí (tài chính) để trang trải các mặt: Thù lao giảng viên, in ấn xuất bản, mua các vật dụng văn phòng, phí điện nước…
  10. Số hóa Kinh sách Phật giáo.

Nơi đây, thành thật tri ân chư tôn giáo phẩm, Tăng ni và Phật tử.

                                                Tp. Hồ Chí Minh ngày 02 tháng 10 năm 2016

                                                                                             Giám đốc

                                                                                       Thích Hạnh Bình

 

Mọi chi tiết xin liên hệ:

Trung tâm nghiên cứu Phật học Hán truyền

(viện nghiên cứu Phật học Việt Nam)

Địa chỉ: Số 27, đường TL 26, Kp 3B, P. Thạnh Lộc, Q 12, Tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam

Sđt: 0862593367

website http://phathochantruyen.org/

Giám đốc trung tâm: Thượng tọa Thích Hạnh Bình

+84934914771 – thichhanhbinh@gmail.com

Vạn Lợi Quán Như

+84982120025 – quannhu@hotmail.com.tw

Ngân hàng: Á Châu (ACB) chi nhánh Thạnh Lộc, Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam

NGUYỄN ĐÌNH THUẬN

Số TK: 224346629

swiftcode: ASCBVNVX

tam-thu-01

 
Ý kiến bạn đọc