Chưa có thông tin tác giả

 
 
  • Hội quán thư pháp Thạch Thiện
 
 

Phật Quang Đại Từ Điển – M

 

Xem sách dạng pdf

M

2997

M

M A

M A

I. Ma.

Cũng gọi Ba, bà.

Tức là chữ (ba) 1 trong 42, 1 trong 50

chữ cáiTất đàm.

Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già

Kim cương đính (Đại 18, 339 thượng), nói:

“”Chữ (ba) nghĩa là tất cả pháp trói buộc

đều không thật có”.

Phẩm Thị thư trong kinh Phương quảng

đại trang nghiêm quyển 4 (Đại 3, 560 thượng),

nói: “Khi xướng chữ Ba thì phát ra âm thanh

cởi bỏ tất cả sự trói buộc”. Bởi vì chữ Phạm

Bandhana(ba đà) nghĩa là trói buộc, mà

chữ này bắt đầu bằng chữ Ba ( ), cho nên

xưa nay chữ này được gọi là chữ của sự

trói buộc.

Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển

57 (Đại 9, 765 hạ), nói: “Khi xướng chữ Ba

là vào cửa Bát nhã ba la mật, gọi là Kim

cương tràng”.

[X. phẩm Văn tự trong kinh Niết bàn

Q.8 (bản Nam); phẩm Quảng thừa trong

kinh Đại phẩm bát nhã Q.5; phẩm Đà la ni

trong kinh Phóng quang bát nhã Q.4; phẩm

Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.2; phẩm

tập học kĩ nghệ trong kinh Phật bản hạnh

tập Q.11; phẩm Quán trong kinh Quang tán

bát nhã Q.7; phẩm Tự mẫu trong kinh Văn

thù sư lợi vấn Q.thượng].

II. Ma.

1. Trợ từ nghi vấn đặt ở cuối câu (phần

nhiều dùng trong các bộ ngữ lục của Thiền

tông).

Thiền quan sách tiến (Đại 48, 1101

thượng), nói: “Ban ngày tỉnh táo làm chủ

được chăng?(tác đắc chủ ma?).

Đáp: Làm được!

Lại hỏi: Trong giấc mộng làm chủ được

chăng?

Đáp: “Làm được!”.

Chữ Ma cũng được dùng trong các câu

nghi vấn, tức trong lời văn có hàm ý bất

định, hoặc có ngữ khí phản vấn, phản ngữ.

2. Đặt ở cuối câu điều kiện, mang ngữ

khí nhấn mạnh, giả định: Nếu như… thì…

Chữ này cũng còn được dùng khi nêu lên

chủ đề, như: Về… mà nói… thì…

Thiền quan sách tiến (Đại 48, 1098 hạ),

nói: “Nhĩchư nhân yếu tham thiền ma?

Tu thị phóng hạ trứ:Các ông muốn tham

thiền chăng? Nếu thế thì phải buông bỏ

hết!”.

3. Tiếp Vĩ ngữ. Như thậm ma, thập ma,

na ma, nhẫm ma, tác ma, dữ ma.

[X. chương Lục tổ Tuệ năng trong Tổ

đường tập Q.2].

 

M

2998

M A

..

Cũng gọi Mãng, Minh.

Là chữ (ma), 1 trong 42, 1 trong 50

chữ cái Tất đàm.

Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Kim

cương đính cho rằng, chữ Ma tức biểu thị

nghĩa vào các pháp “ngã sở” là bất khả đắc.

Phẩm Thị thư trong kinh Phương quảng

đại trang nghiêm quyển 4 thì cho rằng, khi

xướng chữ Ma có thể phát ra âm thanh

tiêu diệt tất cả sự kiêu mạn. Kinh Hoa

nghiêm quyển 33 (bản dịch cũ) nói, khi

xướng chữ Ma thì nhập vào môn Bát nhã

ba la mật. Còn phẩm Tập học kĩ nghệ trong

kinh Phật bản hạnh tập quyển 11 thì nói

(Đại 3, 704 trung): “Khi xướng chữ Ma thì

phát ra âm thanh nói về sinh tử là tất cả sự

khủng bố rất đáng sợ” v.v… Sở dĩ chữ Ma

có các nghĩa trên là vì những tiếng Phạm

mamatà(ngã),mamakàra(ngã sở= của

ta), mada(kiêu mạn)v.v… đều bắt đầu bằng

chữ “ma”.

[X. phẩm Quảng thừa trong kinh Đại

phẩm bát nhã Q.5; phẩm Đà la ni trong kinh

Phóng quang bát nhã Q.4; phẩm Tự mẫu

trong kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng;

kinh Đại bát niết bàn Q.8 (bản Bắc); phẩm

Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.2].

M A

..

Phạm,Pàli: Màra.

Gọi đủ: Ma la. Cũng gọi Ác ma.

Hán dịch: Sát giả, Đoạt mệnh, Năng đoạt

mệnh giả, Chướng ngại.

Chỉ cho loại ác quỉ thần chuyên cướp

lấy mệnh sống con người và làm trở ngại các

việc thiện.

Cứ theo phẩm Hàng ma trong kinh Phổ

diệu quyển 6, khi đức Phật thành đạo, ma

vương Ba tuần sai 4 ma nữ tên là Dục phi,

Duyệt bỉ, Khoái quan và Kiến tòng đến não

loạn đức Phật.

Theo phẩm Đao lợi thiên trong kinh

Trường a hàm quyển 20 và kinh Quá khứ

hiện tại nhân quả quyển 3, thì Ma vương là

Tha hóa tự tại thiên, trụ ở tầng trời thứ 6

của cõi Dục, là vị thần chuyên phá hoại chính

pháp, được gọi là Thiên tử ma, hoặc Thiên

ma Ba tuần.

Còn theo kinh Tăng nhất a hàm quyển

27, thì ma vương Ba tuần có đầy đủ 5 lực là

sắc lực, thanh lực, hương lực, vị lực và tế

hoạt lực.

Kinh Phật bản hạnh tập quyển 12 thì

nêu ra 12 thứ ma quân là: Tham muốn, hay

tức giận, đói khát lạnh nóng, tình ái đắm

đuối, ngủ nghỉ, kinh hãi khiếp sợ, ngờ vực,

sân hận phẫn nộ, tranh giành danh lợi, ngu

si không trí, tự cao khoe khoang và thường

chê bai người khác.

Nói theo nội quán thì tất cả những gì

làm não loạn chúng sinh như phiền não,

nghi hoặc, mê luyến v.v… đều gọi là ma;

chướng ngại do thân tâm của mình sinh ra,

gọi là nội ma, chướng ngại từ bên ngoài đến,

gọi là ngoại ma, cả 2 gọi chung là Nhị ma.

Theo luận Đại trí độ quyển 5 thì ngoài thực

tướng các pháp, còn tất cả đều là ma.

Luận Du già sư địa quyển 29 nêu ra 4

loại ma:

1. Ngũ uẩn ma, cũng gọi Ấm ma, Uẩn

ma, Ngũ chúng ma, Ấm giới nhập ma. Năm

uẩn hay sinh ra các thứ khổ não, là nhân

duyên cướp mất mệnh sống.

2. Phiền não ma: Phiền não thường

mang lại khổ đau từ lúc sinh ra cho đến khi

chết.

3. Tử ma: Chính cái chết được gọi là Tử

ma.

4. Thiên tử ma, cũng gọi Thiên ma.

Những cái làm chướng ngại sự giải thoát

sinh tử.

Tứ ma thêm “tội ma” thành Ngũ ma,

M A

 

M

2999

hoặc Tứ ma thêm 4 tâm điên đảo như vô

thường, vô ngã v.v… thành Bát ma.

Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao

quyển 29 thì nêu 10 loại ma: Uẩn, phiền

não, nghiệp, tâm, tử, thiên, thiện căn, tam

muội, thiện tri thức, bồ đề pháp trí.

Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương

quyển 6, phần đầu, thì tổng hợp các loại ma

chia thành 2 thứ: Phần đoạn ma và Biến

dịch ma. Phần đoạn ma là Phiền não chướng,

ngăn trở sự chứng đạo của hàng Nhị thừa,

còn Biến dịch ma tức là Sở tri chướng, ngăn

ngại sự chứng đạo của hàng Bồ tát. Phần

đoạn và Biến dịch mỗi loại lại có 4 ma, cộng

thành 8 ma.

Ngoài ra, Ma ha chỉ quán quyển 8, hạ,

có nói rất rõ về các ma chướng sinh khởi

trong khi tu thiền.

Về phương pháp đối trị ma thì có thể

niệm tam qui, ngũ giới hoặc tụng chú trừ

ma, niệm Phật v.v… Trong pháp tu Mật giáo

thường hạn chế 1 khu vực nhất định có kết

giới pháp, để ngăn ngừa sự xâm nhập của

ma chướng.

[X. kinh Tạp a hàm quyển 39; kinh Hàng

ma trong Trung a hàm Q.30; kinh Phật bản

hạnh tập Q.26; phẩm Phá ma trong Phật sở

hành tán Q.3; Huyền ứng âm nghĩa Q.24;

Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ, Tuệ lâm âm nghĩa

Q.12, 25]. (xt. Ác Ma).

MA CA

…..

Phạm:Màlikà.

Cũng gọi Ma lỗ ca,

Ma lâu ca, Ma lợi ca.

Một loại dây leo

như sắn, bìm, mây,

song… thường quấn

quanh các thân cây,

ví dụ các dục, tham,

sân v.v… trói buộc

chúng sinh.

Luận Du già sư địa quyển 18 (Đại 30, 377

thượng), nói: “Chúng sinh bị các dục tham,

khuể, tầm, tư trói buộc, giống như dây leo

ma lỗ ca ở thế gian quấn quanh thân cây rừng”.

[X. Huyền ứng âm nghĩa Q.22; Tuệ lâm

âm nghĩa Q.26].

MA CẢNH

Cảnh địa của Ma chướng.

Tây phương hợp luận quyển 5 (Đại 47,

402 hạ), nói: “Vì thế nên biết, ngoài tâm mà

thấy Phật thì đó là cảnh ma. Tại sao? Vì

ngoài tâm không có 1 pháp nào”.

MA CHUYÊN

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Mài gạch, người tu đạo mà còn có chỗ

mong cầu thì rốt cuộc không thành tựu được

gì, giống như mài gạch mong thành gương.

Chương Nam nhạc Hoài nhượng trong

Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5, ghi: “Mã

tổ Đạo nhất trọn ngày ngồi thiền, muốn cầu

thành Phật. Một hôm, Thiền sư Nam nhạc

Hoài nhượng đến trước cửa am của Mã tổ

ngồi mài gạch, Mã tổ hỏi:

mài gạch để làm gì?

Nam nhạc đáp:

Để

làm gương.

Mã tổ nói:

Mài

gạch mà thành gương sao được?

Nam nhạc nói:

Nếu

mài gạch không thành gương, thì

ngồi thiền cũng chẳng thành Phật!”

(xt. Nam Nhạc Ma Chuyên).

MA CHƯỚNG

Ma chướng làm trở ngại Phật đạo và việc

tu tập các thiện pháp, vì muốn nhấn mạnh

ý nghĩa chướng ngại nên dùng chung cả

Phạm và Hán mà gọi là Ma chướng. Các

MA CHƯỚNG

Cây Ma La

 

M

3000

phiền não thường ngăn ngại sự thành tựu

Phật đạo nên cũng gọi là Ma chướng.

Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết

quyển 5, phần 1, dùng thí dụ về sáng và

tối, bảo rằng ma chướng thường ngăn trở

Chỉ quán.

(xt. Ma, Ma Quân).

MA CỐC BẢO TRIÊT (?-?)

Thiền tăng Trung quốc, sống vào đời

Đường, pháp hiệu Bảo triệt.

Sau khi xuất gia, sư tham yết ngài Mã tổ

Đạo nhất và được nối pháp của ngài. Về

sau, sư đến ở núi Ma cốc(cũng gọi núi Ma

dục) tại Bồ châu (Sơn tây) xiển dương Thiền

phong. Sư có những công án nổi tiếng như:

Ma cốc chấn tích, Ma cốc thủ cân, Phong

tính thường trụ v.v… được lưu truyền trong

Thiền lâm.

[X. Tổ đường tập Q.15; Cảnh đức truyền

đăng lục Q.7].

MA CỐC CHẤN TÍCH

Cũng gọi Ma cốc trì tích, Ma cốc lưỡng

xứ chấn tích, Ma cốc chấn tích nhiễu sàng.

Tên công án trong Thiền lâm.

Nội dung công án này nói về cơ duyên

vấn đáp giữa ngài Ma cốc và 2 vị pháp huynh

là Chương kính Hoài uẩn, Nam tuyền Phổ

nguyện.

Tắc 31, Bích nham lục (Đại 48, 236 hạ),

nói: “Ma cốc cầm gậy đến ngài Chương kính,

đi quanh giường Thiền 3 vòng, dộng gậy

xuống đất 1 cái, rồi đứng lặng yên. Chương

kính nói: “Phải! Phải! Sau đó, Ma cốc lại

đến ngài Nam tuyền, đi quanh giường Thiền

3 vòng, dộng gậy xuống đất 1 cái, rồi đứng

lặng yên. Ngài Nam tuyền nói: Không phải!

Không phải!

Ma cốc hỏi: Vì sao Hòa thượng nói không

phải?

Ngài Nam tuyền đáp:

Chương

kính thì phải, còn ông thì

không phải. Đây là sức gió xoay chuyển, cuối

cùng thành bại hoại”.

MA CỐC TỰ

……..

Chùa ở Trung thanh nam, Hàn quốc,

hiệu là Thái hoa sơn, được sáng lập vào thời

đại Hưng đức vương (826-835) nước Tân la.

Có thuyết cho rằng chùa này do ngài Phổ

chiếu nước Tân la xây cất, nay là 1 trong 31

bản sơn của Phật giáo Hàn quốc.

Chùa hiện có các kiến trúc như: Đại

hùng bảo điện, Đại quang bảo nghiêm, Linh

sơn điện, Đại hương các, tháp đá 5 tầng và

8 ngôi am. Trong đó, tòa tháp đá 5 tầng

thân thon cao, được xây trên cái nền 2 tầng,

góc tháp treo những cái chuông gió, trên

đỉnh đặt 1 bảo tháp nhỏ bằng đồng xanh

theo kiểu tháp Lạt ma, là di vật quí giá để

nghiên cứu về

tháp Lạt ma.

Hiện chùa này

cai quản 99 tự

viện phụ

thuộc, trong

đó, Giáp tự ở

núi Kê long,

do ngài Từ

tạng khai sáng

vào thời Tân

la cũng rất nổi

tiếng.

MA CUNG

…..

Chỗ ở của ác ma.

Kinh Tâm địa quán quyển 5 (Đại 3, 314

trung), nói: “Nếu phát tâm cầu xuất gia,

nhàm chán thế gian tu Phật đạo, thì ma cung

ở 10 phương đều rúng động, người ấy mau

chứng thân Pháp vương”.

MA CUNG

Tháp đá 5 tầng ở chùa Ma Cốc

 

M

3001

MA DA PHU NHÂN

Ma da, Phạm,Pàli:Mahàmàyà.

Cũng gọi Ma ha ma da, Ma ha ma tà.

Hán dịch: Đại huyễn hóa, Đại thuật,

Diệu.

Mẹ của đức Thích tôn, phu nhân của

vua Tịnh phạn (Phạm: Zuddhodana) ở

thành Ca tì la vệ (Phạm:Kapilavastu) tại

Ấn độ thời xưa. Bà là con của vua Tu bồ

đề (Phạm:Subhùti) ở thành Thiên tí

(Phạm:Devadaha), sau khi sinh đức Thích

tôn được 7 ngày thì Bà qua đời. Theo truyền

thuyết, Bà được sinh lên cõi trời Đao lợi

(Phạm:Tràyastriôza, tầng thứ 2 trong 6

tầng trời cõi Dục), có lần đức Thích tôn

lên cung trời này nói pháp cho mẫu hậu

nghe.

[X. kinh Tạp a hàm Q.19; Vị tằng hữu

pháp trong kinh Trung a hàm Q.8; kinh Du

hành trong Trường a hàm Q.4; kinh Tăng

nhất a hàm Q.28; phẩm Giáng thân trong

kinh Tu hành bản khởi Q.thượng; kinh Quá

khứ hiện tại nhân quả Q.1; phẩm Hiền kiếp

vương chủng trong kinh Phật bản hạnh tập

Q.5; phẩm Thụ hạ đản sinh trong kinh Phật

bản hạnh tập Q.8; kinh Chúng hứa ma ha

đế Q.3].

MA DIÊT

…..

Tiêu diệt, tiêu mất. Nghĩa là tất cả các

pháp hữu vi đều vô thường, mỗi ngày cứ

hao mòn dần, cuối cùng thì tiêu diệt, không

thường trụ.

Kinh Đại bảo tích quyển 96 (Đại 11,

542 thượng), nói: “Núi Tu di cũng khô

cháy, sông biển rồi cũng cạn kiệt, cuối

cùng tất cả sẽ tiêu diệt mà trở về hư

không”.

[X. Hồi hướng nghĩa tam môn phân biệt

trong Đại thừa nghĩa chương Q.9].

MA DUYÊN

…..

Chỉ cho quyến thuộc của ác ma, chuyên

gây trở ngại cho người tu hành Phật đạo,

hoặc chỉ cho sự phương hại do ma vương

tạo ra.

MA ĐA LA THẦN

………..

Cũng gọi Ma đát la, Ma đô la.

Vị thần thủ hộ Thường hành tam muội

đường ở chùa Diên lịch tại Nhật bản, cũng

là Bản tôn của đàn Huyền chỉ qui mệnh.

Về nguồn gốc của vị thần này không được

rõ. Nhưng theo truyền thuyết thì là vị thần

mà vị Đại sư Từ giác Viên nhân thuộc tông

Thiên thai, Nhật bản cảm được khi ngài đáp

thuyền trên đường từ Trung quốc trở về

Nhật bản. Người tu niệm Phật lúc sắp mệnh

chung được vị thần này giữ gìn che chở, giúp

cho được chính niệm vãng sinh.

Về hình tượng, vị thần này đầu chít khăn

kiểu đời Đường, Trung quốc, mình mặc áo

thợ săn kiểu Nhật bản, 2 tay đánh trống; 2

đồng tử hầu 2 bên, đầu đội mũ phong chiết

màu đen, tay cầm búp lá sen với tư thế đang

nhảy múa, trong áng mây trên đỉnh có vẽ 7

ngôi sao Bắc đẩu.

[X. Ma đát lợi thần kí; Nhật bản Thiên

thai sử biệt sách; Ma đa la thần khảo (Đông

dương triết học 26, phần 12].

MA ĐA LỢI THỦ

………..

Phạm:Màtarizvan.

Tên vị thần được nói đến trong kinh Lê

câu phệ đà của Bà la môn giáo Ấn độ.

Theo truyền thuyết thần thoại của Bà la

môn giáo thì vị thần này ở trong hư không,

phát hiện được lửa ẩn giấu và dùng phương

pháp ma sát mà lấy được lửa từ trên trời, rồi

giao lại cho tiên nhân Ba lợi hỗ (Phạm:

MA ĐA LỢI THỦ

 

M

3002

Bhfgu). Vì vị thần này là vị đầu tiên lấy lửa

từ nơi thiên thần cung cấp cho loài người,

nên cũng được gọi là thần lửa.

MA ĐA THỂ VĂN

Từ ngữ gọi chung các mẫu tự Tất đàm.

Ma đa là phiên âm của chữ Phạm:

Màtfkà, nghĩa là nguyên âm, có tất cả 16

chữ, được chia làm 2 phần:

1. Mười hai âm(cũng gọi 12 vần): Từ chữ

(a) đến (a#).

2. Nguyên âm riêng: Gồm 4 âm, từ chữ

(f) trở xuống, tính chất khác với những

chữ trước.

Thể văn là Hán dịch từ tiếng Phạm

Vyaĩjana, tức là phụ âm, có tất cả 35 chữ,

cũng được chia làm 2 phần:

1. Năm loại thanh: Gồm 25 âm. Năm

loại thanh này chỉ cho 5 âm: Cổ họng, hàm

ếch, lưỡi, răng và môi, gồm các chữ từ (ka)

trở xuống đến chữ (ma).

2. Thanh biến khẩu, cũng gọi Thanh mãn

khẩu: Gồm 10 chữ từ chữ (ya) trở xuống.

Ma đa(nguyên âm) và Thể văn(phụ âm)

cùng với chữ Hán dịch của chúng có nói trong

phẩm Thích tự mẫu của kinh Du già Kim

cương đính do ngài Bất không dịch vào đời

Đường, được trình bày theo biểu đồ sau đây:

[X. kinh Đại bát niết bàn Q.8 (bản

Bắc); phẩm Thị thư trong kinh Phương

quảng đại trang nghiêm Q.4; Đại bát niết

bàn kinh nghĩa kí Q.4; Tất đàm tự kí; Tất

đàm tạng Q.5; Đại đường tây vực kí Q.2].

(xt. Tất Đàm).

MA ĐÀ NA QUẢ

Ma đà na, Phạm,Pàli:Madana.

Cũng gọi Mạt đạt na, Ma đạt na, Ma đà

la.

Hán dịch: Túy nhân quả.

Tên khoa học: Datura metel.

Một loại thực vật thuộc họ cà, quả nó ăn

vào có thể làm cho người ta say.

Loại cây này phần nhiều mọc ở vùng cao

nguyên miền Tây Ấn độ, vỏ và nhựa cây

đều có chất độc, có thể dùng làm thuốc.

Tuệ lâm âm nghĩa quyển 18 (Đại 54, 419

hạ), nói: “Quả Mạt đạt na là tên quả ở các

nước Tây vực, Trung quốc không có loại quả

này. Quả to bằng quả cau. Vì ăn vào khiến

người ta say nên cũng gọi là Túy nhân quả

(quả làm người say). Có thể được dùng làm

thuốc”.

[X. kinh Thắng thiên vương bát nhã ba

la mật Q.7; Phiên Phạm ngữ Q.10; Huyền

ứng âm nghĩa Q.23].

MA ĐÀN

…..

Đối lại: Phật đàn.

Nghĩa là làm việc bố thí(đàn)mà phương

hại cho chính đạo thì đó là hạnh bố thí của

ma. Tâm có phiền não nhiễu loạn mà làm

việc bố thí, hoặc vì mong cầu quả báo trong

3 cõi mà bố thí thì đều gọi là Ma đàn.

Luận Đại trí độ quyển 12 (Đại 25, 145

trung), nói: “Đàn có 2 loại: Ma đàn và Phật

đàn. Nếu bị giặc phiền não xâm đoạt, lo buồn

sợ hãi mà bố thí thì đó là Ma đàn (…). Nếu

có tâm thanh tịnh mà bố thí, Ma Đa Thể Văn không có giặc

MA ĐÀN

 

M

3003

phiền não, không có gì sợ hãi, được đến Phật

đạo, thì đó là Phật đàn”.

[X. Ma ha chỉ quán Q.8 hạ].

MA ĐẠO

…..

Cũng gọi Ma la đạo.

Chỉ cho hành vi của ác ma, hoặc thế giới

của ác ma.

Kinh Lăng nghiêm quyển 6 (Đại 19, 131

hạ), nói: “Cho dù có đa trí và thiền định

hiện tiền mà không đoạn dâm thì chắc chắn

cũng sẽ rơi vào Ma đạo”.

MA ĐÁT LÍ CA

Phạm:Màtfkà.

Pàli: Màtikà.

Cũng gọi Ma trất lí ca, Ma đế lợi ca, Ma

đắc lạc già, Ma di.

Hán dịch: Mẫu, Bản mẫu, Trí mẫu, Hành

mẫu, Luận mẫu, Hành cảnh giới.

Danh từ gọi chung cho Ưu ba đề xá

trong 12 thể tài kinh và A tì đạt ma tạng

trong Tam tạng là bộ phận chuyên nghiên

cứu và phân tích kĩ tính tướng của các pháp

để làm cho giáo nghĩa chân chính của Phật

giáo sáng tỏ.

Cứ theo luận Du già sư địa quyển 81,

thì trong các kinh, bộ phận mà đức Thế

tôn phân biệt tính tướng của các pháp, rồi

giải thích rõ ràng thấu đáo ý nghĩa của

chúng, thì gọi là Ma đát lí ca. Còn những

tác phẩm trong đó các bậc Thánh đệ tử

tường thuật việc các Ngài chứng đắc đế lí

và luận giải rõ ràng về tính tướng các pháp,

thì gọi là A tì đạt ma tạng(Luận tạng), cũng

gọi Ma đát lí ca.

Huyền ứng âm nghĩa quyển 16, 23 cho

rằng vì Ma đát lí ca có năng lực sinh ra trí và

hành nên dịch là Mẫu(mẹ).

Du già luận kí quyển 5, thượng (Đại 42,

403 trung), nói: “Ma đát lí ca, Hán dịch là

Bản mẫu, tức là tập hợp ý nghĩa các kinh để

bàn giải rõ ràng, làm phát sinh nghĩa đặc

biệt trong các kinh, vì thế gọi là Bản mẫu”.

Ngoài ra, trong các luận thư của Phật

giáo Nam truyền, phần đặt ở đầu bộ luận,

hoặc ở đầu chương để nêu rõ cương yếu,

cũng gọi là Ma đát lí ca.

[X. luật Ma ha tăng kì Q.13; luận Du già

sư địa Q.85; luận A tì đạt ma thuận chính lí

Q.44; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương

Q.2]. (xt. A Tì Đạt Ma, Ưu Ba Đề Xá).

MA ĐẠT QUỐC

Ma đạt, Phạm:Madra,Pàli:Madda.

Tên 1 vương quốc ở Ấn độ cổ đại, thủ

đô là Sa kiệt la (Pàli:Sàgala).

Cứ theo Trưởng lão ni kệ kinh chú (Pàli:

Thìg. A.), thì có 1 vị tỉ khưu ni, dòng dõi

vua chúa, tên là Sấm ma (Pàli:Khemà)

sinh ở Sa kiệt la tại nước Ma yết đà (Phạm,

Pàli: Magadha). Nhưng theo kinh Thí dụ

(Pàli: Apadàna), được dẫn dụ trong bản

chú này thì vì có câu “Tại Sa kiệt la của nước

Ma đạt” nên có thuyết suy đoán rằng nước

Ma đạt là 1 nước dưới quyền bảo hộ của

nước Ma yết đà.

MA ĐĂNG GIÀ

Phạm,Pàli: Màtaíga.

Cũng gọi Ma đặng già.

Gọi tắt: Ma trừng.

Hán dịch: Hữu chí, Kiêu dật, Ác tác

nghiệp.

Từ gọi chung những người đàn ông thuộc

giai cấp tiện dân ở Ấn độ. Trái lại, những

người đàn bà tiện dân thì gọi là Ma đăng kì

(Phạm,Pàli:Màtaígi).

Du già luận kí Q.23 thượng (Đại 42, 829

hạ), nói: “Ma đăng kì tức là những tiện dân

đàn bà, còn những tiện dân đàn ông thì gọi

là Ma đăng già, đây là 2 danh từ chung.

M A ĐĂNG GIÀ

 

M

3004

Những người đàn bà này chỉ sống bằng nghề

quét rác”.

Trong kinh Đại Phật đính thủ lăng

nghiêm quyển 1, có chép truyện 1 Ma đăng

già nữ tên là Bát cát đế, từng dụ dỗ ngài A

nan; dâm nữ này xuất thân từ chủng tộc

Chiên đà la, là giai cấp tiện dân thấp nhất.

[X. Nhị thập duy thức thuật kí Q.hạ;

Huyền ứng âm nghĩa Q.22].

MA ĐĂNG GIÀ TIÊN NHÂN

Cũng gọi Mạt đăng già tiên nhân.

Vị tiên tu thiền định trong rừng núi ở

thời quá khứ.

Cứ theo Duy thức nhị thập luận thập

kí quyển hạ, thì thủa xưa có tiên nhân Ma

đăng già, hình dáng rất xấu xí, tu được 5

thứ thần thông, thường ngồi thiền định

trong núi. Bấy giờ, có 1 dâm nữ được vua

yêu quí, nhưng vì xúc phạm nhà vua nên

bị đuổi. Dâm nữ đi vào trong núi, thấy tiên

nhân xấu xí, cho vị tiên nhân là điềm chẳng

lành, lại nghĩ mình bị vua đuổi cũng là

chẳng lành, nếu trả lại điềm chẳng lành

này thì chắc sẽ được tốt lành. Nghĩ rồi, dâm

nữ liền sai thị tì lấy nước phân dội lên mình

tiên nhân, vị tiên nhẫn chịu, không hề có

ý sân hận, ngay lúc ấy có vị đệ tử Bà la

môn tắm giặt cho tiên nhân, còn dâm nữ

kia hôm sau lại được vua yêu dấu. Không

bao lâu, vị Quốc sư cũng có việc buồn rầu,

dâm nữ kia liền nói với Quốc sư là nếu trả

lại việc chẳng lành cho tiên nhân thì sẽ có

được điều tốt lành. Quốc sư làm theo lời

nàng, đem nước phân dội lên người tiên,

vị tiên nhân lại nhẫn chịu, người đệ tử Bà

la môn cũng lại tắm giặt cho tiên nhân, sau

đó Quốc sư được điều tốt lành. Về sau, nhà

vua muốn xâm lăng nước khác, Quốc sư

khuyên vua, nếu đem điều chẳng lành đến

cho vị tiên nhân thì chắc chắn được việc

tốt lành. Nhà vua liền đi vào núi, dội nước

phân lên đầu tiên nhân, rồi về cất quân

chinh phạt nước khác, quả nhiên thắng lợi.

Từ đó, hễ gặp việc trái ý, vua lại sai người

dội nước phân lên mình tiên nhân. Và cũng

từ đó, tiên nhân không còn nhẫn chịu được

nữa, tâm sinh sân hận, bèn hóa phép tuôn

mưa đá xuống, người trong nước đều chết

hết, chỉ có người đệ tử Bà la môn thường

chăm sóc, hầu hạ tiên nhân là may mắn

được sống sót, trong giây lát, cả nước biến

thành rừng núi, gọi là rừng Ma đăng già.

MA ĐẦU

…..

Cũng gọi Ma chủ.

Chức vụ vị tăng trông nom nhà giã gạo

trong Thiền lâm.

Điều liệt chức tạp vụ trong Sắc tu Bách

trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1133

thượng), nói: “Ma chủ đứng đầu nhà giã gạo,

là chức vụ quan trọng đối với việc cung cấp

gạo và mì cho đại chúng, phải chọn người

có đạo tâm, am hiểu công việc xay giã để giữ

chức này”.

[X. điều Ma đầu Viên đầu Trang chủ giải

viện chủ trong Thiền uyển thanh qui Q.4;

môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí

tiên].

MA ĐẦU CƯU LA SƠN

…………..

Ma đầu cưu la, Phạm,Pàli:Madhukula.

Hán dịch: Mật chủng sơn.

Núi ở nước Ma yết đà (Phạm,Pàli:

Magadha) thuộc Trung Ấn độ.

Thủa xưa, khi đức Thế tôn giáo hóa Ca

diếp, được 1 chiếc áo phẫn tảo trong rừng,

bấy giờ trời Đế thích biết đức Thế tôn muốn

giặt chiếc áo ấy, liền đến núi Ma đầu cưu la,

mang về 1 tảng đá lớn và đặt ở bên bờ ao, để

tiện cho việc đức Thế tôn giặt áo.

[X. luật Tứ phần quyển 11, 33; Phiên

Phạm ngữ Q.9].

MA ĐẦU CƯU LA SƠN

 

M

3005

MA ĐÍNH

…..

Đức Phật dùng tay xoa đỉnh đầu các vị

đệ tử để phó chúc Đại pháp hoặc thụ kí việc

thành Phật trong vị lai.

Phẩm Chúc lụy trong kinh Pháp hoa

(Đại 9, 52 hạ), nói: “Đức Phật Thích ca

mâu ni từ tòa ngồi đứng dậy, hiện đại thần

lực, đưa tay phải xoa đỉnh đầu của vô lượng

Đại Bồ tát”.

Truyền pháp thất nội mật thị văn kí cũng

chép, đức Phật nhỏ 3 giọt nước của 4 biển

lớn trên đỉnh đầu ngài Ca diếp, rồi xoa đầu

mà phó chúc Đại pháp.

MA GIÁO

Danh từ do giai cấp địa chủ đời Tống,

Trung quốc, dùng để chê bai Minh giáo.

Minh giáo là 1 tổ chức tông giáo bí mật

phát triển từ Ma ni giáo mà thành, không

thờ thần quỉ, chỉ thờ Ma ni, thời bấy giờ

thường được phong trào nông dân khởi

nghĩa lợi dụng. Giai cấp địa chủ liền đổi chữ

Ma (..) thành chữ Ma (..), rồi vu khống

Ma ni (…..) là Ma vương ( ), Minh

giáo ( ) là Ma giáo ( ).

Vì giáo phái này ăn chay, kiêng rượu nên

cũng gọi là “ăn chay thờ ma”.

MA GIỚI

Giữ giới với mục đích cầu danh tiếng và

lợi dưỡng.

Nếu vì sợ hãi sức mạnh bên ngoài mà tu

hạnh nhẫn nhục, thì gọi là Ma nhẫn; nếu vì

cầu tiếng tăm lợi lộc mà tu hành tinh tiến,

thì gọi là Ma tinh tiến; tà thiền trái với chính

lí gọi là Ma thiền; tà tuệ sa vào lưới kiến giải

phân biệt gọi là Ma tuệ.

Ma ha chỉ quán quyển 8, hạ (Đại 46, 116

hạ), nói: “Từ nhiều kiếp lâu xa đến nay, bị

ma sai khiến, nên khởi ma đàn để cầu quả

báo, trì ma giới để mong lợi dưỡng; thực

hành ma nhẫn vì sợ người khác, tập ma tinh

tiến để cầu tiếng tăm, được ma thiền vì lầm

quỉ pháp, ưa thích ma tuệ vì mắc lưới kiến

giải phân biệt”.

Ngoài ra, những việc khiến cho người ta

sinh ra phiền não, phá tâm hoan hỉ, hủy

hoại pháp thân tuệ mệnh, dấy lên niệm

tưởng tà bậy, cướp đoạt công đức của người

v.v… gọi là Ma bệnh.

[X. Ma ha chỉ quán Q.8, thượng].

MA GIỚI

…..

I. Ma Giới.

Cũng gọi Ma đạo.

Chỉ cho cảnh giới của ác ma.

Kinh Thủ lăng nghiêm tam muội quyển

hạ (Đại 15, 639 hạ), nói: “Ma giới “như” tức

là Phật giới “như”; Ma giới như, Phật giới

như, không hai không khác”.

II. Ma Giới.

Chỉ cho các cõi trời: Tha hóa tự tại, Hóa

lạc, Đâu suất và Dạ ma trong 6 tầng trời của

cõi Dục.

MA HA

…..

Phạm:Pàli: Mahà.

Cũng gọi Mạc ha, Ma hạ, Ma hê.

Hán dịch: Đại.

Hàm ý là nhiều, lớn, thù thắng, mầu

nhiệm.

Luận Đại trí độ quyển 3 (Đại 25, 79

trung), nói: “Ma ha, Trung quốc dịch là đại

(lớn), hoặc đa(nhiều), hoặc thắng(thù

thắng).

MA HA BA XÀ BA ĐỀ

Phạm:Mahàprajàpatì.

Pàli: Mahàpajàpatì.

MA HA BA XÀ BA ĐỀ

 

M

3006

Cũng gọi Ma ha bát lạt xà bát để, Ma ha

ti da hòa đề.

Gọi tắt: Ba xà ba đề, Ba đề phu nhân.

Hán dịch: Đại ái đạo, Đại thắng sinh chủ,

Đại sinh chủ, Đại thế chủ.

Hoặc gọi: Ma ha pha la xà bát đề cù đàm

di (Phạm:Mahàprajàpatì-gautamì, Pàli:

Mahàpajàtì-gotamì).

Hán dịch: Đại ái đạo cù đàm di, Cù đàm

di đại ái.

Gọi tắt: Cù đàm di.

Là di mẫu của Thái tử Tất đạt đa, em gái

của Hoàng hậu Ma ha Ma da, con của vua

Thiện giác thành Thiên tí ở Ấn độ cổ đại.

Đức Thích tôn sinh ra được 7 ngày thì

mẹ Ngài là Ma da phu nhân qua đời, Ngài

được di mẫu thay thế nuôi nấng. Năm năm

sau khi đức Thích tôn thành đạo thì vua

Tịnh phạn cũng mệnh chung, bà Đại ái đạo

dẫn Da du đà la và 500 phụ nữ thuộc dòng

họ Thích ca đến xin đức Thích tôn được

xuất gia và đức Phật đã hứa khả. Đây là

những vị tỉ khưu ni đầu tiên trong giáo đoàn

của Phật giáo. Sau khi xuất gia, chính bà đã

lãnh đạo các tỉ khưu ni, trụ ở ni viện gần

tinh xá, truyền giới Cụ túc cho nữ chúng,

giúp đỡ đức Phật rất nhiều trong việc hóa

đạo. Về sau, vì không nỡ trông thấy đức Phật

nhập diệt, nên trước đó 3 tháng, bà ngồi kết

già trong thành Tì xá li, vào Sơ thiền rồi

dần dần vào đến Tứ thiền thiên và xả bỏ

thân mệnh, bấy giờ chư thiên trong cõi Dục

đều tiếc thương than khóc.

[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.9; kinh

Trung bản khởi Q.hạ; kinh Hiền ngu Q.3,

12; luật Tứ phần Q.12; luật Ngũ phần Q.29;

Câu xá luận quang kí Q.14].

MA HA BÀ LA ĐA

…………..

Phạm:Mahàbhàrata.

Cũng gọi Bà la đa thư, Đại chiến thư.

Là bộ Đại tự sự thi được viết bằng tiếng

Phạm của dân tộc Ấn độ đời xưa. Tương

truyền do tiên nhân Tì da sa (Phạm:Vyàsa)

soạn, nhưng có thuyết cho rằng Tì da sa chỉ

là người biên chép. Sử thi này được truyền

miệng nhau hàng mấy thế kỉ trước Tây lịch,

qua nhiều lần hiệu đính bổ sung, đến năm

200 Tây lịch mới có được phần khái yếu và

đến thế kỉ thứ IV Tây lịch mới hoàn thành

hình thức như hiện nay.

Nội dung gồm 18 thiên, 10 vạn bài tụng,

phần phụ lục có 1 thiên gồm 1 vạn 6 nghìn

tụng, là bộ sử thi dài nhất thế giới. Bộ này

cùng với bộ La ma da na (Phạm:Ràmàyana)

là 2 bộ sử thi lớn của Ấn độ.

Chủ đề của bộ sử thi này là nói về nhân

vật Côi đà thập đà (Phạm:Dhftaràwỉra),

hậu duệ của dòng họ Bà la đa, tranh giành

ngôi vua với dòng họ Bàng đô (Phạm:

Pàịđu), gây ra cuộc chiến tranh kéo dài 18

ngày. Về niên đại của cuộc chiến tuy không

được minh xác, nhưng trên mặt sự thực lịch

sử thì nó đã xảy ra, điều này không còn hồ

nghi gì nữa.

Tác phẩm sử dụng tiếng Phạm, lời văn

bình dị, tao nhã. Ngoài chủ đề chính ra, tác

phẩm còn bao gồm thần thoại, truyền thuyết,

sự tích luyến ái, những lời dạy về cách xử

thế v.v…, rồi đối với những vấn đề như: Đạo

đức, phong tục, chế độ xã hội, triết học, tông

giáo của Ấn độ đương thời cũng trình bày

một cách hết sức rõ ràng. Đây là 1 tư liệu

quí giá về tư tưởng sử của Ấn độ. Trong tác

phẩm còn có các truyện cổ tích nổi tiếng

như: Bạc già phạm ca (Phạm:Bhagavad

Gita), Sa côn đát la (Phạm:Zakuntalì) v.v…

Đối với văn học sử tiếng Phạm, bộ sách này

có 1 giá trị bất hủ, cung cấp rất nhiều đề tài

cho nền văn học đời sau, đến nay vẫn còn

được người Ấn độ ưa thích đọc tụng. Không

những chỉ trong nội địa Ấn độ, mà bất cứ

nơi nào, nhất là các nước vùng Đông Nam

á, chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn độ, cũng đều

có lưu truyền bộ sử thi này.

MA HA BÀ LA ĐA

 

M

3007

[X. A. Holtzmann: Das Mahàbhàrata

und seine Teile, 1892-1895; E.W. Hopkins:

The Great Epic of India, 1901; V. Fausbôll:

Indian mythology, 1902; H. Jacobi:

Mahàbhàrata, 1903; E.W. Hopkins: Epic

mythology, 1915; A. Holtzmann: Indische

Sagen, 1921].

MA HA BÁT NHÃ

Phạm:Mahàprajĩà.

Hán dịch: Đại trí tuệ.

Tức là trí tuệ rốt ráo, thù thắng soi rõ

thực tướng các pháp.

Thiền uyển thanh qui quyển 10 (Vạn tục

111, 465 thượng), nói: “Nếu người chưa ngộ

được Ma ha bát nhã, thì cứ y theo lời đức

Phật dạy mà tu hành”.

[X. Duy thức xu yếu Q.thượng, phần

đầu].

MA HA BÁT NHàBA LA MẬT KINH

I. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh.

Phạm: Paĩcaviôzati-sàhasrikàprajĩàpàramità.

Cũng gọi: Đại phẩm bát nhã kinh, Tân

đại phẩm kinh, Đại phẩm kinh, Ma ha bát

nhã kinh.

Kinh, 27 quyển (hoặc 30, 40 quyển), do

ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần,

thu vào Đại chính tạng tập 8.

Kinh này là phần thứ 2 (quyển 401-478)

trong kinh Đại bát nhã. Nội dung thuyết

minh về pháp Bát nhã ba la mật. Đây là bộ

kinh căn bản nói về Bát nhã không quán ở

thời kì đầu của Phật giáo Đại thừa.

Kinh Quang tán bát nhã, 10 quyển (do

ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn) và

kinh Phóng quang bát nhã, 20 quyển (do

ngài Vô xoa la dịch vào đời Tây Tấn) đều là

các bản dịch khác của kinh này.

Ngoài ra, Trung phẩm bát nhã bằng

tiếng Phạm, tức là bộ Nhị vạn ngũ thiên

tụng Bát nhã, chia làm 8 phẩm, tương

đương với kinh này. Sách chú thích kinh

này là bộ luận Đại trí độ của bồ tát Long

thụ và nhiều sách chú thích khác của Trung

quốc và Nhật bản.

[X. Xuất tam tạng kí tập 2, 8; Lịch đại

Tam bảo kỉ Q.8; Khai nguyên thích giáo lục

Q.4].

II. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh.

Phạm:Awỉasàhasrikà-prajĩàpàramità.

Cũng gọi Tiểu phẩm bát nhã ba la mật

kinh, Tiểu phẩm bát nhã kinh, Tân tiểu

phẩm kinh.

Kinh, 10 quyển, gồm 29 phẩm, do ngài

Cưu la ma thập dịch vào đời Hậu Tần, được

thu vào Đại chính tạng tập 8.

Kinh này là phẩm thứ 4 (quyển 538-555)

trong kinh Đại bát nhã. Nội dung thuyết

minh về pháp Bát nhã ba la mật.

Về các bản dịch khác của kinh này thì

có: Kinh Đạo hành bát nhã 10 quyển (do

ngài Chi lâu ca sấm dịch vào đời Hậu Hán),

kinh Đại minh độ vô cực 6 quyển (do ngài

Chi khiêm dịch vào đời Ngô thời Tam quốc),

kinh Ma ha bát nhã ba la mật đa sao 5 quyển

(do các ngài Đàm ma tì và Trúc phật niệm

cùng dịch vào đời Tiền Tần). Ngoài ra, bộ

Bát thiên tụng bát nhã bằng tiếng Phạm

tương đương với kinh này và là 1 trong 9

Đại kinh của nước Nepal.

Sách chú thích kinh này là bộ Thích luận

bằng tiếng Phạm, do ngài Sư tử hiền (Phạm:

Haribhadra) soạn.

[X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai

nguyên thích giáo lục Q.4].

MA HA BỒ ĐỀ HỘI

Mahàbodhi Society.

Cũng gọi Ma ha bồ đề xã, Ma ha bồ đề

hiệp hội, Đại bồ đề hội.

Tổ chức quốc tế vận động phục hưng

MA HA BỒ ĐỀ HỘI

 

M

3008

Phật giáo Ấn độ, nguyên tên là Bồ đề già da

ma ha bồ đề hội(Hội Đại bồ đề Già da), do

cư sĩ Đạt ma ba la (Dharmapàla), người

Tích lan và học giả Henrey Stell Olcott

(1832-1907), người Hoa kì, thành lập vào

tháng 5 năm 1891.

Ban đầu, Hội trù tính đặt trụ sở ở Bồ đề

già da, nơi đức Phật thành đạo, nhưng sau

quyết định chính thức thiết lập cơ sở của

Hội ở Colombo, thủ đô nước Tích lan (Sri

Lanka). Mục đích đầu tiên của Hội là thu

hồi Đại tháp Thánh tích ở Bồ đề đạo tràng

mà từ lâu đã nằm trong tay những tín đồ

Ấn độ giáo, rồi phục hưng Phật giáo ở Ấn

độ và các nơi khác trên thế giới.

Hội nghị Phật giáo Quốc tế lần đầu tiên

được tổ chức tại Bồ đề già da vào tháng 10

năm 1891, gồm đại biểu các nước: Tích lan,

Trung quốc, Nhật bản, Miến điện và Ấn

độ tham dự. Năm 1892, Hội xuất bản tạp

chí “Ma ha bồ đề và Liên hiệp Phật giáo

thế giới”, sau được đổi tên là Ma ha bồ đề;

trụ sở được dời từ Colombo sang Calcutta,

Ấn độ. Năm 1920, Hội kiến thiết chùa Pháp

giới tử tại Calcutta để đặt Tổng bộ, thành

lập các bộ Quản lí, Chấp hành ủy viên hội,

Tài chính ủy viên hội v.v… Ở vườn Lộc

dã, Bombay và các nơi khác, Hội xây cất

chùa, mở thư viện, trường học, phòng phát

thuốc miễm phí, sửa lại các tháp Phật, giữ

gìn các nơi Phật tích, làm các việc từ thiện

xã hội, văn hóa, giáo dục, kiến thiết kí

túc xá ở những nơi Phật tích, để Phật tử

thế giới về chiêm bái có chỗ ăn ở, chỉnh

lí, phiên dịch và xuất bản kinh sách Phật

v.v… Ngoài ra, Hội Thanh niên Phật giáo

Tích lan cũng phát động phong trào ủng

hộ công cuộc phục hưng Phật giáo, lần

lượt thành lập các chi hội tại Ấn độ và

các nước Đông Nam á, giúp cho Hội Ma

ha bồ đề ngày càng phát triển. Hiện nay,

ở các nước Anh, Mĩ, Đức, Nhật, Tích lan,

Thái lan, Ấn độ đều có chi hội Ma ha bồ

đề, là những tổ chức đoàn thể chủ yếu

trong sự nghiệp phục hưng Phật giáo quốc

tế hiện đại.

MA HA BỒ ĐỀ TĂNG GIÀ LAM

Phạm,Pàli: Mahàbodhi-saíghàrama.

Cũng gọi Đại giác tự, Đại bồ đề tự.

Ngôi chùa ở phía ngoài cửa Bắc của khu

vườn cây Bồ đề thuộc nước Ma yết đà, Trung

Ấn độ, do vua nước Tích lan sáng lập vào

thế kỉ thứ IV, dành cho Phật tử Tích lan

hành hương, chiêm bái các nơi Phật tích ở

Ấn độ có chỗ nghỉ ngơi. Khi ngài Huyền

trang đến đây vào thế kỉ thứ VII, trong chùa

có khoảng 1.000 vị tăng tu học giáo pháp

Thượng tọa bộ.

Đại đường tây vực kí quyển 8 (Đại 51,

918 trung), nói: “Nhà cửa 6 viện, lầu gác 3

tầng, tường xây chung quanh cao ba bốn

trượng, kiến trúc rất kì công. (…) Các tốt đổ

ba(tháp) cao rộng đẹp đẽ, trong có thờ xá

lợi của đức Như lai”.

Cầu pháp cao tăng truyện quyển thượng

(Đại 51, 5 trung), nói: “Nền chùa lúc ban

đầu chỉ rộng hơn cái tháp vuông, con cháu

đời sau của vua tiếp tục mở mang, chùa ngày

càng to lớn, đến nay thì ở châu Thiệm bộ

không có chùa nào hơn”.

MA HA CA CHIÊN DIÊN

Phạm:Mahàkàtyàyana.

Pàli: Mahàccàyana, Mahàkaccàna.

Cũng gọi Ma ha ca đa diễn na, Ma ha ca

để da dạ na, Đại ca chiên diên, Ca chiên

diên.

Hán dịch: Đại tiễn dịch chủng nam.

Tên vị A la hán, 1 trong 10 đệ tử lớn của

đức Phật, người nước A bàn đề (Phạm:

Avanti) Tây Ấn độ.

Về dòng họ và nhân duyên qui y xuất

gia theo Phật của Ngài có nhiều thuyết.

MA HA CA CHIÊN DIÊN

 

M

3009

Cứ theo phẩm Na la đà xuất gia trong

kinh Phật bản hạnh tập 37, thì Ngài là con

thứ 2 của Bà la môn Đại ca chiên diên ở

thôn Di hầu thực, tên là Na la đà (Phạm:

Nàlaka, cũng gọi Na la ca, Na la ma nạp).

Ban đầu, Ngài vào núi Tần đà, gần thủ đô

Ưu thiền da ni, theo người cậu là tiên nhân

A tư đà học tập giáo pháp Phệ đà. Sau, tiên

A tư đà thấy tướng hảo trang nghiêm của

đức Thích tôn lúc mới sinh, đoán trước rằng

trong tương lai chắc chắn Ngài sẽ thành Phật,

bởi thế, khi lâm chung, ông căn dặn Na la

đà thờ đức Thích tôn làm thầy. Sau khi Na

la đà xuất gia qui Phật, theo dòng họ của

Ngài mà gọi là Đại ca chiên diên. Ngài siêng

năng tu hành không hề trễ nải, nên đã chứng

được quả A la hán. Sau khi đức Phật nhập

Niết bàn, Ngài vẫn còn sống, giáo hóa đồ

chúng, thường luận chiến với ngoại đạo.

Trong hàng đệ tử đức Phật, Ngài được tôn

là “Luận Nghị Đệ Nhất”.

Theo Câu xá luận quang kí quyển 1, thì

A tì đạt ma thi thiết luận trong Lục túc luận

là do Ngài soạn.

Trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới

của Mật giáo, Ngài được đặt ở vị trí thứ 6,

hàng phía trên,

bên trái Phật

Thích ca mâu ni.

Hình tượng của

Ngài ngồi trên tòa

lá sen, bàn tay

phải dựng đứng,

co ngón vô danh

và ngón út; còn

tay trái thì cầm 1

góc áo ca sa đặt ở

trước ngực.

[X. Trưởng lão kệ chú (tiếngPàli); kinh

Tạp a hàm Q.9, 19, 20; luật Ngũ phần Q.21;

luật Thập tụng Q.25; Pháp hoa kinh văn cú

Q.1, hạ; Tuệ lâm âm nghĩa Q.8; Thai tạng

giới thất tập Q.thượng].

MA HA CHỈ QUÁN

Cũng gọi: Thiên thai ma ha chỉ quán.

Gọi tắt: Chỉ quán.

Tác phẩm, 10 (hoặc 20 quyển), do Đại

sư Thiên thai Trí khải (538-597) thuyết giảng

vào năm Khai hoàng 14 (594) đời Tùy, đệ

tử là ngài Quán đính (561-627) ghi chép,

được thu vào Đại chính tạng tập 46, cùng

với Pháp hoa huyền nghĩa và Pháp hoa văn

cú gọi chung là Pháp hoa tam đại bộ.

Sách này do Đại sư Trí khải giảng thuật

vào cuối đời (3 năm trước khi ngài tịch)nên là

tác phẩm trọn vẹn, đầy đủ nhất về mặt thể

hệ trong các trứ tác của Ngài.

Nội dung nói rõ về pháp Chỉ quán viên

đốn, vốn là sự thể nghiệm và thực tiễn đặc

biệt của ngài Trí khải về đời sống tông giáo.

Vì muốn trình bày quan điểm dùng tư duy

Thiền quán để thể nghiệm Chỉ quán viên

đốn, là cảnh giới tông giáo sâu xa kín nhiệm,

vượt ra ngoài sự hiểu biết thông thường,

nên ngài Trí khải đem chia pháp cụ thể

thực tiễn của ngài làm 2 phần là: Tổng luận

lược thuyết (5 lược) và Biệt luận quảng

thuyết (10 quảng) để giải thích tỉ mỉ, rõ

ràng. Năm lược chỉ cho 5 đoạn: Phát đại

tâm, Tu đại hạnh, Cảm đại quả, Liệt đại

võng và Qui đại xứ; còn Mười quảng thì

chỉ cho 10 chương: Đại ý, Thích danh, Thể

tướng, Nhiếp pháp, Thiên viên, Phương

tiện, Chính quán, Quả báo, Khởi giáo và

Chỉ qui. Hai phần này gọi chung là Ngũ

lược thập quảng.

Cứ theo Chỉ quán phụ hành truyền

hoằng quyết quyển 1, phần 1 thì sách này

có 3 loại bản in: Bản 20 quyển, bản 10

quyển và bản hiện nay, cả 3 bản đều có tên

là Viên đốn chỉ quán; theo truyền thuyết

của người đương thời thì bản thứ 2 là

Quảng bản, bản thứ 3 là Lược bản; thực ra

bản thứ 3 là do sửa lại bản thứ 2 rồi đổi

MA HA CHỈ QUÁN

Ma Ha Ca Chiên Diên

(Mạn đồ la Thai tạng giới)

 

M

3010

tên là Ma ha chỉ quán. Năm Thiên thánh

thứ 2 (1024) đời Tống, theo sự tấu thỉnh

của ngài Tuân thức, vua ban sắc cho sách

này được đưa vào tạng.

Về các bản chú thích sách này thì có:

Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết 40

quyển, Chỉ quán nghĩa lệ 2 quyển, Chỉ quán

đại ý 1 quyển của ngài Trạm nhiên, San định

chỉ quán 3 quyển của Lương túc.

[X. Đại đường nội điển lục Q.10; Phật tổ

thống kỉ Q.25; Đại đường hòa thượng đông

chinh truyện; Tân biên chư tông giáo tạng

tổng lục Q.3].

MA HA CHỈ QUÁN NGHĨA LÊ TOẢN YẾU

Cũng gọi Toản yếu, Chỉ quán nghĩa lệ

toản yếu.

Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Tòng nghĩa

soạn vào đời Tống, được đưa vào Vạn tục

tạng tập 99.

Đây là sách chú thích bộ Chỉ quán nghĩa

lệ của ngài Kinh khê Trạm nhiên. Nội dung

trước hết nói về đại ý của Chỉ quán nghĩa lệ

và về lí do soạn thuật, kế đến là giải thích

chính văn, trích dẫn những câu văn chủ yếu

trong sách để thành lập thuyết của mình.

Sách cũng dẫn dụng nhiều nội và ngoại điển

và giải thích Chỉ quán nghĩa lệ rất rõ ràng,

tường tận.

MA HA CHỈ QUÁN PHỤ HÀNH SƯU YẾU KÍ

Cũng gọi Ma ha chỉ quán hoằng quyết

sưu yếu kí, Ma ha chỉ quán sưu yếu kí, Chỉ

quán phụ hành sưu yếu kí.

Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Trạm nhiên

(711-782) soạn vào đời Đường, được thu vào

Vạn tục tạng tập 99.

Nội dung sách này tóm tắt những điểm

cốt yếu trong bộ Ma ha chỉ quán phụ hành

truyền hoằng quyết, đồng thời, giải thích

thêm những chỗ mà văn nghĩa chưa được

sáng tỏ và sửa lại những chữ sai lầm, để

cho những người tu hành Chỉ quán tiện sử

dụng.

Theo lời tựa ở đầu sách, tác phẩm này

được soạn thuật khoảng ba, bốn năm trước

khi tác giả thị tịch.

[X. Trí chứng đại sư thỉnh lai mục lục].

MA HA CHỈ QUÁN PHỤ HÀNH TRUYỀN HOẰNG

QUYẾT

Cũng gọi Chỉ quán phụ hành truyền

hoằng quyết, Chỉ quán phụ hành hoằng

quyết, Chỉ quán phụ hành, Phụ hành, Hoằng

quyết.

Tác phẩm, 40 quyển, do ngài Trạm nhiên

(711-782) ở Kinh khê soạn vào đời Đường,

được thu vào Đại chính tạng tập 46.

Nội dung sách này là chú thích bộ Ma

ha chỉ quán của ngài Trí khải, tên sách là

“Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết”

đã nêu rõ chỉ thú của toàn bộ tác phẩm;

nghĩa là dùng các giáo pháp mà đức Phật

đã nói trong 1 đời để “phụ”(giúp) cho việc

tu “hành” chỉ quán mầu nhiệm, rồi lại

nương vào sự tu hành chỉ quán mà “truyền

hoằng” giáo chỉ của Phật; cho nên trong

toàn bộ 40 quyển đều dùng các “quyết”

như: Tư bẩm khẩu quyết, Thẩm lí yếu

quyết v.v… để làm sáng tỏ ý nghĩa giáo,

hành giúp đỡ lẫn nhau. Từ trước đến nay,

những người giảng Ma ha chỉ quán đều

dùng sách này làm bằng cứ. Trong sách

có rất nhiều chỗ dẫn dụng ngoại điển, điều

này chứng tỏ tác giả là người xem nhiều

đọc rộng. Sách này được lưu hành riêng

trong thời gian khá lâu, mãi đến năm

Thiên thánh thứ 2 (1024) đời Bắc Tống

mới được đưa vào tạng.

Về các sách chú thích thì có: Ma ha chỉ

quán phụ hành sưu yếu kí, 10 quyển, của

ngài Trạm nhiên, Ma ha chỉ quán phụ hành

truyền hoằng quyết trợ lãm, 4 quyển, của

MA HA CHỈ QUÁN PHỤ HÀNH SƯU YẾU KÍ

 

M

3011

ngài Hữu nghiêm, Ma ha chỉ quán luận

hoằng quyết toản nghĩa, 8 quyển, của ngài

Đạo thúy.

[X. Phật tổ thống kỉ Q.10, 11, 25; Phật

tổ lịch đại thông tải Q.27].

MA HA DIỄN

……..

Phạm: Mahà-yàna.

I. Ma Ha Diễn.

Gọi đủ: Ma ha diễn na.

Chỉ cho giáo pháp Đại thừa.

(xt. Đại Thừa).

II. Ma Ha Diễn.

Đức hiệu của ngài Cầu na bạt đà la, vị

Cao tăng ở đời Lưu Tống thuộc Nam triều.

Vì ngài chuyên hoằng truyền giáo pháp

Đại thừa nên người đời tôn xưng là Ma

ha diễn.

(xt. Cầu Na Bạt Đà La).

III. Ma Ha Diễn.

Cũng gọi Ma ha diễn na, Đại thừa hòa

thượng.

Thiền sư Trung quốc, sống vào đời

Đường.

Vào thời vua Đức tông (ở ngôi 780-805),

sư vào đất Tây tạng hoằng pháp, ra sức xiển

dương yếu chỉ “Trực chỉ nhân tâm kiến tính

thành Phật” của Thiền tông, nên đã có 1

thời chư tăng Tây tạng đều theo học và

nhiều Phật tử Tây tạng theo sư xin xuất

gia, trong đó có hàng quí tộc. Về sau, vua

Khất lật song đề tán (ở ngôi 742-797) thỉnh

đệ tử của ngài Tịch hộ là Liên hoa giới từ

Nepal đến Tây tạng để truyền bá giáo pháp

Ấn độ. Ngài Liên hoa giới tinh thông Trung

quán, lại giỏi về Nhân minh, trái hẳn với

Thiền chỉ mà ngài Ma ha diễn hoằng truyền

trước nay tại Tây tạng, vì thế 2 bên tranh

luận đã lâu mà không bên nào quyết được,

vua Tây tạng bèn triệu tập chúng tăng mời

2 vị biện luận, ngài Liên hoa giới dùng lời

lẽ để luận nạn, sư không ứng đối được nên

bị trả về Trung quốc, từ đó giáo pháp Trung

quán thay thế cho Thiền pháp ở Tây tạng.

Trong lịch sử Phật giáo Tây tạng, sự kiện

này được gọi là “Lạp tát luận tranh”(cuộc

tranh luận ở Lhasa), cũng gọi là “Đốn tiệm

chi tranh”(cuộc tranh luận về đốn và tiệm)

rất nổi tiếng.

Hòa thượng Đại thừa rập khuôn theo

truyền thống Thiền tông Trung quốc, chủ

trương đốn ngộ trực chỉ để hóa độ rộng rãi,

xem thường việc diễn dịch giáo nghĩa trên

bình diện tư duy phân biệt; pháp môn đốn

ngộ trực chỉ này chỉ hợp với sự tham cứu,

dùng mặc chiếu điểm phá khiến tâm lãnh

hội, nhưng sư lại dùng biện luận để chứng

minh, thì tránh sao khỏi thất bại?

Phật giáo Ấn độ từ ngài Thế thân, Tăng

hộ trở đi, đặc biệt xem trọng kĩ xảo biện

luận. Trong trường hợp này, ngài Liên hoa

giới sử dụng thành thạo luận lí học Nhân

minh, mà Thiền thì chủ trương “bất lập

văn tự, trực chỉ nhân tâm”, cho nên sự thất

bại của Hòa thượng Đại thừa chỉ là việc tất

nhiên. Tuy vậy, không phải vì sự kiện này

mà ảnh hưởng của Thiền tông đã mất hẳn

ở Tây tạng. Hiện nay, trong các thư tịch

Tây tạng vẫn có nhiều chỗ nói về Thiền

tông.

[X. Tây tạng Phật học nguyên luận; Đốn

ngộ Đại thừa chính lí quyết (Vương tích)].

MA HA DIỄN TẠNG

………..

Chỉ cho kinh điển Đại thừa, tức là

những kinh nói về đạo Bồ tát như: Kinh

Pháp hoa, kinh Hoa nghiêm, kinh Niết

bàn v.v…

Luận Đại trí độ quyển 100 (Đại 25, 756

trung), nói: “Tuy cùng cầu một môn giải

thoát, nhưng có tự lợi, lợi tha khác nhau,

cho nên có Đại thừa, Tiểu thừa sai biệt, (…)

Tam tạng là pháp Thanh văn, Ma ha diễn là

pháp Đại thừa”.

MA HA DIỄN TẠNG

 

M

3012

MA HA KIẾP TÂN NA

…………..

Phạm: Mahàkalpina.

Pàli: Mahàkapphiịa.

Cũng gọi Ma ha kiếp tân ninh, Ma ha

kiếp tỉ noa, Ma ha kế tân na, Ma ha ca thất

na, Ma ha kim tì la, Đại kiếp tân na.

Gọi tắt: Kiếp tân na.

Hán dịch: Hoàng sắc, Phòng tú, Đại phân

biệt thời.

Vị A la hán đệ tử của đức Phật, tinh

thông thiên văn, lịch số, chiêm tinh bậc nhất

trong chúng tăng.

Cứ theo phẩm Đại kiếp tân ninh trong

kinh Hiền ngu quyển 7 chép, thì ngài là

con của vua Kiếp tân ninh nước Kim địa,

bẩm tính thông minh, khỏe mạnh, sau khi

phụ vương băng hà, ngài lên nối ngôi, quân

lực hùng mạnh, uy thế lừng lẫy; vì muốn

áp chế Trung Ấn độ nên ngài sai sứ đến

nước Xá vệ xin triều cống vua Ba tư nặc.

Bấy giờ đức Phật đang trụ ở tinh xá Kì hoàn,

hóa làm Chuyển luân Thánh vương, dùng

thần thông biến hiện làm cho Kiếp tân na

tin phục. Từ đó, vua Kiếp tân na xa lìa

trần tục, xuất gia tu trì, luôn dũng mãnh

tinh tiến, thường an trụ trong định. Sau

được pháp nhãn thanh tịnh và chứng đắc

quả A la hán.

Ngoài ra, cứ theo Quang trạch Pháp hoa

nghĩa sớ quyển 1 và Pháp hoa huyền tán

quyển 1 chép, thì vì đức Như lai biết trước

nhân duyên thành đạo của Kiếp tân na, nên

hóa hiện làm 1 vị tỉ khưu già ngủ trong tăng

phòng và nói pháp cho Kiếp tân na nghe,

ngay đêm đó ngài Kiếp tân na đắc đạo nên

gọi ngài là Phòng túc.

Còn theo Pháp hoa văn cú quyển 1,

thượng, thì vì cha mẹ ngài cầu nguyện sao

Phòng mà sinh được ngài, cho nên đặt tên

là Phòng tú.

[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.22; kinh

Bản sự Q.6; kinh Hiền ngu Q.6; Pháp hoa

nghĩa kí Q.8; Phiên Phạm ngữ Q.2, 4; Tuệ

lâm âm nghĩa Q.23].

MA HA LẠT ĐÀ QUỐC

Ma ha lạt đà, Phạm:Mahà-ràwỉra;Pàli:

Mahà-raỉỉha.

Cũng gọi Ma ha la sá quốc, Ma ha lặc trá

quốc, Ma ha lại tra quốc.

Hán dịch: Đại quốc.

Tên 1 nước xưa ở phía nam nước Ma lạp

bà thuộc Nam Ấn độ.

Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 11

chép, thì nước này chu vi hơn 6.000 dặm,

đất đai phì nhiêu, phong tục thuần phác,

tính người hiếu học và kiêu hùng, mang ân

thì đền, có oán phải trả, quân đội rất mạnh.

Thời xưa, vua Giới nhật chinh phạt đông

tây, chỉ có nước này không chịu thần phục.

Trong nước có hơn 100 ngôi chùa với hơn

5.000 tăng đồ, tu học cả Đại thừa và Tiểu

thừa, có mấy trăm đền thờ trời, rất nhiều

ngoại đạo. Trong cũng như ngoài đô thành

có rất nhiều tháp. Trong hang núi phía đông

có 1 ngôi chùa lớn, do A la hán A chiết la

xây cất để hồi hướng cho mẹ. Chùa cao hơn

trăm thước, bên trong khắc pho tượng Phật

bằng đá cao hơn 70 thước, thủa xưa, bồ tát

Trần na thường trụ ở đây. Ngôi chùa này

hiện nay là động đá A chiên đa (Phạm:

Ajantà) nổi tiếng.

[X. kinh Trường a hàm Q.5; kinh Đại

phương đẳng đại tập Q.55; Phiên Phạm

ngữ Q.8].

MA HA MA DA KINH

…………..

Cũng gọi: Phật thăng Đao lợi thiên vị

mẫu thuyết pháp kinh, Phật lâm bát niết

bàn mẫu tử tương kiến kinh.

Gọi tắt: Ma da kinh.

Kinh, 2 quyển, do ngài Đàm cảnh dịch

MA HA MA DA KINH

 

M

3013

vào đời Bắc Tề, được thu vào Đại chính tạng

tập 12.

Nội dung kinh này được chia làm 2:

Nửa bộ trước tường thuật việc đức Phật

lên cung trời Đao lợi thuyết pháp cho thân

mẫu là Ma da phu nhân nghe, khiến cho

phu nhân chứng Sơ quả, nửa bộ sau thuật

lại việc đức Phật đi hóa đạo các nước, cuối

cùng, đến rừng Sa la

song thụ gần thành

Câu thi na yết la vào

Niết bàn, phu nhân

Ma da từ cung trời

Đao lợi xuống than

khóc thảm sầu, lúc

ấy đức Phật liền mở

kim quan từ biệt

thân mẫu. Sau hết,

kinh này còn thuật

lại việc đức Phật

huyền kí(dự đoán)

về tình hình pháp

trụ, pháp diệt.

[X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.4; Pháp kinh

lục Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.1, 6;

Duyệt tạng tri tân Q.25].

MA HA NAM

……..

Phạm,Pàli: Mahàmàna.

I. Ma Ha Nam.

Cũng gọi: Ma ha na ma.

Hán dịch: Đại hiệu, Đại danh.

Tên của vị đệ tử Phật, là 1 trong 5 tỉ

khưu được đức Phật hóa độ đầu tiên.

Trong kinh Trung bản khởi ghi tên ngài

là Ma nam câu lợi (Phạm: Mahànàma-

Koơiya), trong Phật sở hành tán, ngài được

gọi là Thập lực Ca diếp. Ngài là 1 trong 5

người của hoàng tộc được vua Tịnh phạn

chọn đi theo hầu Thái tử Tất đạt đa khi

Thái tử vượt thành xuất gia; sau khi Thái

tử đắc đạo thành Phật, chuyển pháp luân

lần đầu tiên ở vườn Lộc dã, để độ cho

ngài và 4 vị kia đều đắc đạo, chứng quả A

la hán.

Về sau, ngài hộ trì đức Phật giáo hóa

chúng sinh.

Phẩm Đệ tử trong kinh Tăng nhất a hàm

quyển 3 (Đại 2, 557 thượng), nói: “Mau

chóng thành tựu thần thông, trong đó

không có hối tiếc, chính là tỉ khưu Ma ha

nam”.

[X. kinh Thị giả trong Trung a hàm Q.8;

kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; luật

Tứ phần Q.32; luận Đại tì bà sa Q.182; Pháp

hoa văn cú Q.1, thượng, Đại đường tây vực

kí Q.7].

II. Ma Ha Nam.

Cũng gọi Thích chủng ma ha nam

(Phạm: Sakkamahànàma), Ma ha nam

thích, Thích ma nam.

Vị cư sĩ Phật tử thuộc dòng họ Thích ca

ở thành Ca tì la vệ, Trung Ấn độ.

Luật Ngũ phần quyển 15 và Hữu bộ tì

nại da phá tăng sự quyển 2, đều nói ngài là

con của vua Hộc phạn. Còn luận Đại trí

độ quyển 3 và Đại sự (Phạm:Mahàvastu)

thì cho rằng ngài là con vua Cam lộ phạn.

Sau khi người em là A na luật xuất gia thì

ngài đảm trách các việc trong nhà, rất kính

trọng giáo pháp của Phật, thường cúng

dường thuốc thang, y phục và thức ăn uống

cho chúng tăng. Bài kinh Khổ ấm trong

kinh Trung a hàm là do ngài thỉnh đức Phật

tuyên thuyết. Cứ theo kinh Tăng nhất a

hàm quyển 26 chép, thì lúc vua Tì lưu li

thành Xá vệ đánh giết dòng họ Thích ca ở

thành Ca tì la vệ, ngài Ma ha nam đã tự

nguyện chết trong nước để cứu dòng họ

Thích. Có thuyết cho rằng Thích chủng

ma ha nam này chính là tỉ khưu Ma ha

nam nói ở trên.

[X. kinh Tạp a hàm Q.29, 30; kinh Tăng

nhất a hàm Q.3, 35; kinh Phật bản hạnh

tập Q.11, 58; luật Ngũ phần Q.3].

MA HA NAM

Kinh Ma Ha Ma Da

(bản đào được ở Đôn Hoàng)

 

M

3014

MA HA TÁT ĐÓA

Phạm:Mahàsattva.

Pàli: Mahàsatta.

I. Ma Ha Tát Đóa.

Gọi tắt: Ma ha tát.

Hán dịch: Đại hữu tình, Đại chúng sinh.

Từ gọi chung bậc Bồ tát hoặc Đại sĩ. Tức

là bậc có Nguyện đại, Hạnh đại, Độ chúng

sinh đại, là bậc tối thượng trong các chúng

sinh ở thế gian và không bao giờ lui sụt đại

tâm ấy, cho nên gọi là Ma ha tát đóa.

[X. luận Đại trí độ Q.5; Pháp hoa nghĩa

sớ Q.2; Pháp hoa huyền tán Q.2].

II. Ma Ha Tát Đóa.

Cũng gọi Tát đóa vương tử.

Tên của đức Phật ở đời quá khứ khi tu

hạnh Bồ tát.

Ở đời quá khứ xa xưa, có 1 vị vua tên là

Ma ha la đà (Phạm:Mahà-ratha, Hán dịch:

Đại xa), siêng tu các pháp lành. Vua có 3

người con, đều tướng hảo đoan nghiêm,

người con thứ 1 tên là Ma ha ba na la (Phạm:

Mahà-praịàda), người thứ 2 tên là Ma ha

đề bà (Phạm:Mahàdeva) và người thứ 3

tên là Ma ha tát đóa.

Một hôm, 3 vương tử vào chơi trong

rừng trúc, thấy con hổ mẹ sinh 7 hổ con,

các hổ con đang vây quanh hổ mẹ, đói lả

tiều tụy, thân thể gầy ốm, sinh mệnh sắp

dứt, 3 vương tử trông thấy đều thương tâm

mà bỏ đi. Nửa đường, Ma ha tát đóa, động

lòng thương quá, bảo 2 anh về trước, còn

1 mình trở lại khu rừng, đến chỗ hổ đói,

phát nguyện vì cầu đạo Vô thượng bồ đề

mà xả bỏ cái thân nhơ nhớp này; nguyện

rồi, cởi y phục vắt lên cành tre, gieo mình

vào trước những con hổ đói. Nhưng hổ

sợ uy lực từ bi của Tát đóa không dám ăn

thịt; Tát đóa thấy thế liền leo lên ngọn

cây gieo mình xuống đất, bấy giờ thần đất

đưa tay đỡ lấy Tát đóa nên không bị

thương tổn. Tát

đóa lại dùng

khúc tre khô

đâm vào cổ,

ngay lúc ấy mặt

đất rúng động,

hoa từ trên hư

không rơi

xuống, hổ đói

thấy máu của

Tát đóa chảy ra,

đi đến liếm máu

và ăn thịt, chỉ

còn bộ xương.

Bảy hổ con lúc bấy giờ, sau này là tôn

giả Mục kiền liên, Xá lợi phất và 5 vị tỉ

khưu khi đức Phật còn tại thế. Đức Thế

tôn cũng nhân công đức này mà thành Phật

trước 11 kiếp.

[X. kinh Hiền ngu Q.1; kinh Kim quang

minh Q.4; kinh Đại bảo tích Q.80; kinh

Bồ tát bản hạnh Q.hạ; luận Phân biệt công

đức Q.2].

MA HA TĂNG KÌ LUẬT

Phạm: Mahàsaíghavinaya.

Gọi tắt: Tăng kì luật.

Hán dịch: Đại chúng luật.

Luật, 40 quyển, do các ngài Phật đà bạt

đà la và Pháp hiển cùng dịch vào đời Đông

Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 22.

Đây là bộ Luật của Đại chúng bộ trong thời

Phật giáo bộ phái.

Toàn bộ sách được chia làm 2 phần: Tỉ

khưu giới pháp (35 quyển đầu) và Tỉ khưu

ni giới pháp (05 quyển sau). Phần đầu nêu

rõ 218 giới, Tạp tụng bạt cừ pháp, Uy nghi

pháp, tường thuật các nguyên do chế giới,

giải thích các giới điều và tình hình ứng dụng

thích hợp. Trong đó, pháp Tạp tụng bạt cừ

và pháp Uy nghi tương đương với phẩm Kiền

độ của luật Tứ phần, tức nói về các qui định

MA HA TĂNG KÌ LUẬT

 

M

3015

liên quan đến nghi thức hành sự, yết ma và

sự sinh hoạt hàng ngày của tăng chúng như:

ăn, mặc và ở v.v… Phần 2 thì liệt kê 277 giới

và Tạp bạt cừ pháp.

Sách này cùng với luật Tứ phần, luật Ngũ

phần và luật Thập tụng, từ xưa đến nay,

được gọi là Tứ Quảng luật. Nếu so với 3 bộ

luật kia thì sách này đặc sắc hơn nhiều, vì

các điểm sau đây:

1. Về thời gian chế định 4 pháp Ba la di

được suy định vào khoảng từ nửa tháng thứ

5 mùa đông năm thứ 5 sau khi đức Phật

thành đạo, đến nửa tháng thứ 4 mùa đông

năm thứ 6.

2. Những điều được ghi trong Thất

bách kết tập Luật tạng, không nêu ra 10

việc phi pháp, mà chỉ nói đến Ngũ tịnh

pháp. Hơn nữa, cũng không đề cập gì đến

chủ trương phủ nhận của các tỉ khưu Bạt

kì.

3. Nội dung sách có chép hơn 40 loại

Bản sinh đàm và viện dẫn hơn 20 loại kinh

Bản sinh v.v…

Cứ theo điều “Ngũ bách tỉ khưu tập

pháp tạng” trong quyển 32 của bộ luật

này, thì luật Ma ha tăng kì là do ngài Ưu

ba li vâng mệnh ngài Ma ha Ca diếp mà

tụng ra, kế đến, điều đã dẫn, ghi rõ têncủa

27 vị truyền thừa luật này, bắt đầu từ các

Ngài: Đà sa bà la, Thụ đề đà sa, Kì đa v.v…

Đây là tư liệu về sự truyền thừa của luật

này.

Lại theo Pháp hiển truyện chép, thì mục

đích của ngài Pháp hiển đến Ấn độ là để

tìm cầu giới luật, nhưng giới luật ở các nước

Bắc Thiên trúc thì đều thầy trò truyền miệng

cho nhau, không có bản văn để có thể sao

chép lại. Mãi đến khi ngài Pháp hiển tới chùa

Ma ha diễn tại Trung Thiên trúc mới có

được 1 bộ luật, tức là luật Ma ha tăng kì

chúng, được truyền ở tinh xá Kì hoàn, là bộ

luật được đại chúng hành trì sớm nhất, lúc

đức Phật còn tại thế.

Ngoài ra, Xuất tam tạng kí tập quyển 3

và Thập tì ni nghĩa sao quyển 1, cho rằng

luật Tăng kì là do Độc tử bộ truyền, thuyết

này e có sự lầm lẫn.

[X. Đại đường tây vực kí Q.9; Lịch đại

Tam bảo kỉ Q.3, 4, 5; Khai nguyên thích

giáo lục Q.1, 3, 15].

MA HA TẤT LỢI ĐA PHÁP HỘI

………………..

Mahàpirita.

Pháp hội cầu phúc của Phật giáo Tích

lan.

Tại Tích lan, khi tín đồ Phật giáo gặp

những việc vui mừng, đau buồn hoặc bệnh

tật v.v… thì thường thỉnh các vị tỉ khưu đến

nhà tụng kinh cầu bình an, phúc lợi.

Nghi thức pháp hội này gần giống như

pháp hội Tì la tất lợi đa (Tích lan:Veilpirita,

Hán dịch: Tiểu bảo hộ, Tiểu kì phúc pháp

hội), nhưng khác ở chỗ thời gian tụng kinh

lâu hơn.

MA HA TÌ LA

Phạm:Mahàvìra.

Hán dịch: Đại hùng.

Tức là Ni càn đà nhã đề tử, Tổ khai sáng

Kì na giáo ở Ấn độ, một trong Lục sư ngoại

độ. Ông sống cùng

thời đại với đức

Phật. Ông xuất gia

năm 30 tuổi, tu

khổ hạnh ròng rã

12 năm mới ngộ

đạo. Để đối kháng

với những mối tệ

lâu đời của Bà la

môn giáo nên ông

sáng lập ra tông

giáo mới, gọi là Kì

na giáo.

(xt. Ni Càn Đà Nhã Đề Tử).

MA HA TÌ LA

Tượng ngồi của Ma Ha Tì La

 

M

3016

MA HẦU LA CA

Phạm: Mahoraga.

Cũng gọi Ma hầu la già, Ma hộ la nga,

Mạc hô lặc già, Ma hưu lạc, Ma phục lặc.

Hán dịch: Địa long, Đại mãng thần, Đại

mãng xà, Đại hung hành, Đại phúc hành,

Đại hung phúc hành.

Quỉ thần đầu rắn, mình người, là 1 trong

8 bộ Thiên long.

Cứ theo Duy ma kinh lược sớ quyển 2,

thì Ma hầu la già là vị thần không có chân,

đi bằng bụng như loài bò sát. Khi làm người,

vì phá hủy giới cấm, dối trá, nhiều sân hận,

ít bố thí, tham ưa rượu thịt, nên sau khi

chết, bị rơi vào đường quỉ thần, trong thân

thể có rất nhiều trùng độc rúc rỉa ăn thịt,

đau đớn vô cùng.

Tuệ lâm âm nghĩa quyển 11 thì cho rằng,

Ma hầu la già là loại thần âm nhạc, có hình

đầu rắn.

Trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng

giới của Mật giáo có an trí 3 vị tôn Ma

hầu la già, vị tôn ở giữa co 2 tay, nắm tay

thành quyền, ngón trỏ duỗi thẳng, để ở

trước ngực,

ngồi co chân

phải, đầu gối

trái dựng

đứng; vị tôn

bên trái đội

mũ rắn, mặt

hướng về bên

phải; còn vị

tôn bên phải

thì mặt hướng

về bên trái,

trong tư thế

đang thổi sáo.

[X. phẩm Phổ thông chân ngôn tạng

trong kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh sớ

Q.10; Phiên Phạm ngữ Q.7; Tuệ lâm âm

nghĩa Q.1, 25, 27; Phiên dịch danh nghĩa

tập Q.4].

MA HI ĐÀ

Phạm: Mahendra.

Pàli:Mahinda.

Cũng gọi Ma hi nhân đà la.

Vị Khai tổ của Phật giáo Tích lan, người

đời gọi là Tổ truyền luật thứ 6. Ngài là con

của vua A dục thuộc Vương triều Khổng

tước ở Ấn độ đời xưa. Ngài sinh ra tại Ô xà

diễn na (Phạm:Ujayana), thân mẫu là bà

Đới phỉ (Pàli: Devì), con gái của 1 thương

gia giàu có ở làng Ti địa tả (Pàli:Vedisa)

tại Tây bắc Ấn độ.

Năm 20 tuổi ngài xuất gia, thờ tôn giả

Mục kiền liên tử đế tu (Pàli: Moggaliputta-

Tissa) làm thầy, theo ngài Ma ha đề bà thụ

giới Sa di và y vào ngài Mạt xiển đề thụ giới

Cụ túc, thụ giới xong liền chứng được quả

A la hán.

Vào thế kỉ thứ III trước Tây lịch, ngài

vâng mệnh phụ vương, đến đảo Tích lan

truyền bá Phật giáo, được vua nước Tích lan

tôn sùng và bảo hộ. Ngài sáng lập đạo tràng

Đại tự (Pàli: Mahàvihàra) ở thủ đô A nâu

la đà bổ la (Phạm,Pàli:Anuràdhapura),

hoằng truyền Bình đẳng tâm kinh (Pàli:

Samacitta-suttanta), đồng thời, tạo lập động

đá để kết hạ an cư, đặt nền tảng vững chắc

cho Phật giáo Tích lan sau này. Về sau, em

gái của ngài là tỉ khưu ni Tăng già mật đa

(Phạm:Saôghamitrà, Pàli: Saíghamittà)

đem 1 cành cây Bồ đề từ nơi đức Thích tôn

thành đạo đến trồng ở Tích lan và truyền

giới cho các tỉ khưu ni Tích lan. Ngài triệu

tập đại hội tỉ khưu ở tháp Đổ ba la ni, chính

thức thành lập Tăng đoàn Phật giáo, do

Trưởng lão A lợi đa làm Thượng thủ, dùng

tiếng Tích lan để giảng diễn và chú thích

Tam tạngPàli. Hai anh em ngài chung sức

hoằng dương Phật pháp trong hơn 30 năm.

MA HI ĐÀ

Ma Hầu La Ca

(Mạn đồ la Thai tạng giới)

 

M

3017

Ngài thị tịch tại Tháp sơn (Pàli:Cetiyagiri)

ở Tích lan, thọ 60 tuổi.

[X. luận Phân biệt công đức Q.2; Đại

đường tây vực kí Q.11].

MA HI HÀ

Ma hi, Phạm,Pàli:Mahì.

Cũng gọi Ma xí hà, Mạc hi hà.

Sông nằm về phía bắc sông Hằng, là 1

trong 5 chi nhánh của sông Hằng, tức nay

là con sông chảy qua khu vực Bombay ở

Tây Ấn độ rồi đổ vào Ấn độ dương. Trong

kinh điển có rất nhiều chỗ nói về con sông

này.

Kinh Thất nhật trong Trung a hàm

quyển 2 (Đại 1, 428 hạ), chép: “Các nguồn

suối lớn đều phát xuất từ 5 sông lớn của

châu Diêm phù, thứ 1 là sông Hằng (…), thứ

5 là sông Ma xí; các nguồn suối lớn ấy đều

sẽ cạn khô hết, không tồn tại mãi, cho nên

biết tất cả các hành đều vô thường (…), nên

cầu xả li, nên cầu giải thoát”.

Điều Ma lạp bà quốc trong Đại đường

tây vực kí quyển 11 (Đại 51, 935 hạ), nói:

“Nước Ma lạp bà chu vi hơn 6.000 dặm,

thủ đô rộng hơn 30 dặm, nằm về phía đông

nam sông Mạc hi”.

MA HỔ LA THẦN

Tạng:Sgra-#dsin.

Cũng gọi Ma hô la thần, Ma hưu la thần,

Ma hầu la thần, Bạc hô la thần.

Hán dịch: Chấp ngôn thần.

Vua thần Dược xoa thủ hộ Phật pháp, là

vị thứ 9 trong 12 vị thần tướng của đức Phật

Dược sư.

Cứ theo Dược sư lưu li quang vương

thất Phật bản nguyện công đức kinh niệm

tụng nghi quĩ cúng dường pháp nói, thì thần

Ma hổ la, thân màu trắng, tay cầm búa báu,

thống lĩnh 7 ức Dược xoa, thệ nguyện giữ

gìn giáo pháp của Như lai.

Về hình tượng của vị tôn này, trong

Tu Dược sư nghi quĩ bố đàn pháp và Tịnh

lưu li Tịnh độ tiêu, còn có các thuyết khác

nhau.

[X. kinh Quán đính Q.12, kinh Dược sư

Như lai bản nguyện; Dược sư thập nhị thần

tướng đồ].

MA HƯƠNG

…..

Đối lại: Tịnh độ.

Làng ma. Chỉ cho thế giới Sa bà, trong

đó, chúng sinh luân hồi trong 6 đường, toàn

là ô trược và mê hoặc.

Quán kinh sớ định thiện nghĩa (Đại 37,

263 thượng), nói: “Về đi thôi, Ma hương

không thể dừng, trôi lăn từ nhiều kiếp đến

nay, 6 đường đều từng trải, chẳng đâu có

chút vui, toàn nghe tiếng than sầu”.

MA KHƯ

Phạm:Màgha.

Cũng gọi: Ma già, Mạc già.

Hán dịch: Quí đông, Tinh nguyệt, Thất

tinh, Thất tinh nguyệt.

Chỉ cho tháng 11 trong lịch Ấn độ, tương

đương với khoảng thời gian từ ngày 16 tháng

11 đến ngày 15 tháng 12 âm lịch.

Màghavốn là tên của 1 ngôi sao trong

Nhị thập bát tú, vào ngày 15 tháng 11 mặt

trăng gặp sao này mới tròn, cho nên sao này

được dùng làm tên của tháng 11.

Đại đường tây vực kí quyển 2 (Đại 51,

876 thượng), nói: “Ba tháng mùa đông gọi

là Báo sa nguyệt, Ma khư nguyệt, Phả lặc

lũ nã nguyệt, tương đương từ ngày 16

tháng 10 đến ngày 15 tháng giêng của

Trung quốc”.

[X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.42;

kinh Tú diệu Q.thượng; luận Đại tì bà sa

Q.136].

MA KHƯ

 

M

3018

MA KIÊT NGƯ

Ma kiệt, Phạm,Pàli:Makara.

Cũng gọi Ma già la ngư, Ma ca la ngư.

Hán dịch: Đại thể ngư, Kình ngư, Cự

ngao.

Một loại cá lớn được nói đến nhiều trong

các kinh luận và được xem là cùng loài với

cá sấu, cá giao(cá sạ) và lợn biển. Hoặc là

loại cá trong giả tưởng.

Trong thần thoại Ấn độ, cá này là vật

cỡi của Thủy thần (Phạm:Varuịa), trên lá

cờ cầm tay của Ái thần (Phạm:Kàma-deva)

cũng có vẽ hình cá ma kiệt.

Ngoài ra, 1 trong 12 cung, gọi là cung

Ma kiệt, đầu và chân trước giống con linh

dương(dê rừng), mình và đuôi là hình cá.

Còn trong “Quán Tự tại bồ tát a ma lai

pháp” thì cá ma kiệt là vật cầm tay của bồ

tát Quan âm A ma lai.

[X. kinh Hoa nghiêm Q.59 (bản dịch cũ);

kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.2;

luận Đại trí độ Q.7; luận Thập trụ tì bà sa

Q.7; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Phiên dịch

danh nghĩa tập Q.6].

MA LA

Phạm:Màlà.

Hán dịch: Man, Hoa man.

Hoa được xâu vào sợi dây làm thành cái

vòng rồi quấn lên đầu làm vật trang sức.

[X. Huyền ứng âm nghĩa Q.18; Phạm ngữ

tạp danh].

MA LA

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Nghĩa là sỉ nhục, hổ thẹn.

Tắc 1, Bích nham lục (Đại 48, 140

thượng), nói: “Đạt ma liền qua sông đến

đất Ngụy (dã hồ tinh ấy không khỏi 1 phen

hổ thẹn(ma la),từ tây qua đông, từ đông

qua tây)”.

[X. tắc 28, 44, Bích nham lục].

MA LA DỮU

Phạm:Malayù.

Tên khoa học: Ficus oppositifolia.

Một loại hương liệu từ cây bạch đàn.

Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 658

trung), nói: “Hương bạch đàn, Ấn độ gọi

là Ma la dữu, vốn là tên núi. Luận Đại

trí độ cho rằng, ngoài núi Ma lê(tức Ma

la dữu) ra, không nơi nào có bạch chiên

đàn”.

Cứ theo Tuệ uyển âm nghĩa quyển hạ,

cây bạch chiên đàn mọc ở núi Ma la da

(Phạm:Malaya, tức núi Ma lê).

Tuệ lâm âm nghĩa quyển 26 thì nói,

núi Ma la da ở Nam Ấn độ có loại bạch

chiên đàn, ai vào đây cũng cảm thấy từ

trong thân mình tỏa ra mùi thơm trong

sạch, vì thế nên núi này còn được gọi là

núi Trừ cấu.

[X. luận Đại trí độ Q.2].

MA LA NAN ĐÀ

Phạm:Màlànanda.

Cũng gọi Ma la nan đề.

Hán dịch: Đồng học.

Cao tăng Ấn độ, là 1 trong 3 vị tăng đầu

tiên truyền Phật giáo vào nước Bách tế. Vào

năm 384, khi vua Chẩm lưu đời thứ 15 nước

Bách tế lên ngôi, ngài Ma la nan đà cùng với

ngài Thuận đạo nước Cao li và ngài A đạo

nước Tân la, từ Trung quốc đến Triều tiên

và hoằng dương Phật pháp ở nước Bách tế

lần đầu tiên.

[X. Tam quốc di sự Q.3; Hải đông cao

tăng truyện Q.1; Tam quốc sử kí Q.18;

Đông quốc thông giám Q.4; Tam quốc Phật

giáo sử].

MA LA NAN ĐÀ

 

M

3019

MA LA QUỐC

Ma la, Phạm,Pàli:Malla.

Cũng gọi Mạt la quốc, Mãn la quốc, Bạt

la quốc, Mạt lao quốc, Mạt lợi quốc.

Hán dịch: Lực sĩ quốc, Tráng sĩ quốc,

Hoa quốc.

Tên 1 nước trong 16 nước lớn ở Ấn độ

vào thời đức Phật còn tại thế. Vị trí nước

này ở về phía bắc sông Hằng, phía đông

thành Ca tì la vệ, Trung Ấn độ, thủ đô là

Câu thi na yết la (Phạm:Kuzinagara) và

các thành ấp khác như: Ba bà (Phạm:Pàvà),

A nô di (Phạm:Anupriyà) v.v…

Ma la vốn là tên của 1 chủng tộc. Trong

luật Ma ha tăng kì có những danh xưng như:

Thích chủng nữ, Li xa nữ, Ma la nữ v.v…

Cứ theo pháp điển Ma nô thì chủng tộc này

là hậu duệ của dòng Sát đế lợi, từ xưa đã nổi

tiếng nhờ có sức lực mạnh mẽ. Tương truyền

từng có việc lạ kì là hơn 500 lực sĩ cùng nhấc

1 tảng đá rất lớn, cho nên nước này được

gọi là “Mạt la lực sĩ quốc”. Khi đức Phật

nhập Niết bàn ở rừng Sa la thì 500 người

thuộc chủng tộc Mạt la ở thành Câu thi na

yết la than khóc thảm thiết, rồi khiêng kim

quan của Phật đến chùa Thiên quan, cúng

dường trong 7 ngày, sau đó mới trà tì. Chủng

tộc này và chủng tộc Mạt la ở nước Ba bà

đều được chia cho 1 phần xá lợi của Phật để

xây tháp cúng dường. Đây đều là những sự

thực lịch sử nổi tiếng.

[X. kinh Tạp a hàm Q.32; kinh Trường

a hàm Q.4; kinh Tăng nhất a hàm Q.36;

luật Tứ phần Q.41; Hữu bộ tì nại da tạp sự

Q.38; Phiên Phạm ngữ Q.8].

MA LẠP BÀ QUỐC

Ma lạp bà, Phạm:Màlava.

Cũng gọi Ma la bà quốc, Ma la la quốc.

Tên 1 nước xưa ở Nam Ấn độ, nằm về

phía tây nước Ô xà diễn na, mạn đông nam

sông Mạc hi.

Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 11,

thì nước này đất đai màu mỡ, lúa mạ xanh

tốt, có vài trăm ngôi chùa và hơn 2 vạn tăng

đồ, học tập giáo pháp Chính lượng bộ. Thủa

xưa, vua Giới nhật thương yêu nhân dân,

sùng kính Tam bảo, hàng năm mở Đại hội

Vô già, cung thỉnh chư tăng từ khắp nơi về

để tứ sự cúng dường. Ở nơi cách kinh đô về

phía tây bắc hơn 20 dặm có 1 cái hố sâu,

trong đó Bà la môn Đại mạn tâm bị chôn

vùi. Truyền thuyết nói rằng, người Bà la môn

kiêu mạn này, sau khi bị tỉ khưu Hiền ái

hàng phục, vì căm phẫn nên hủy báng Đại

thừa, khinh miệt các bậc hiền thánh, nên

đất tự nứt ra, người Bà la môn rơi xuống và

bị chôn vùi.

[X. kinh Khổng tước vương chú

Q.thượng; kinh Đại phương quảng bồ tát

tạng Văn thù sư lợi căn bản nghi quĩ Q.18;

On Yuan Chwang, vol. II (T. Watters); Early

History of India (V.A. Smith); Cunnigham’s

Ancient Geography of India (S.N.

Majumdar)].

MA LỢI CHI THIÊN

Ma lợi chi, Phạm:Marìci.

Cũng gọi Ma lí chi thiên, Mạt lợi chi

thiên, Mạt lợi chi đề bà, Mạt lợi chi thiên

bồ tát.

Hán dịch: Uy quang thiên, Dương diệm

thiên.

Vị trời có sức thần thông tự tại, khéo ẩn

mình, thường tiêu trừ các chướng nạn, mang

lại lợi ích cho mọi người.

Hình tượng của vị trời này là hình thiên

nữ nói trong kinh Mạt lợi chi đề bà hoa

man và hình tượng 3 mặt 6 tay cỡi heo(lợn)

nói trong kinh Đại ma lí chi bồ tát quyển 1.

Vị trời này vốn là vị thần được dân gian Ấn

độ đời xưa sùng bái, sau được Phật giáo tiếp

MA LỢI CHI THIÊN

 

M

3020

thu và xếp vào hàng

Thiên bộ. Hiện nay

ở chùa Na lan đà

tạiẤn độ vẫn còn

pho tượng cổ của vị

trời này.

Pháp tu thờ vị

trời này làm bản

tôn gọi là Ma lợi chi

thiên pháp, có các

công năng như: Hộ

thân, ẩn thân, phát

tài, tranh luận

thắng lợi v.v…

Tại Nhật bản, vị trời này chỉ được các

vũ sĩ tin thờ.

[X. kinh Ma lợi chi bồ tát đà la ni; Ma

lợi chi bồ tát lược niệm tụng pháp; A sa

phược sao Q.145; Chân tục Phật sự biên

Q.1].

MA LỤC ĐA

Phạm:Murut.

Vị thần gió, đặc biệt chỉ cho thần bão,

trong Bà la môn giáo Ấn độ, được nói đến

trong Lê câu phệ đà và Sử thi La ma da na.

Theo Lê câu phệ đà thì cha của thần này là

Lỗ đạt la (Phạm:Rudra), nhưng Sử thi La

ma da na lại bảo thần này là con của Để đề

(Phạm:Diti).

Về hình tượng thì toàn thân vị thần này

màu hồng, ngồi xe bằng vàng, tóc lóe sáng

như lửa, mình mặc áo giáp bằng vàng, ngực

trang sức vàng, vai vác giáo dài, thường đi

theo vị thần Nhân đà la đánh dẹp ác ma,

khi tiến quân thì như mãnh thú ra uy, cát

bay đá chạy, trời đất tối tăm mù mịt, núi

non rúng động, hung hãn đáng sợ; còn khi

lui bình thì hệt như đứa trẻ chơi dỡn, rất dễ

thương.

Có thuyết cho rằng vị thần này có liên

quan đến việc làm mưa.

MA MA

Phạm: Mama.

Hán dịch: Ngã sở, Ngã đích.

Nghĩa là cái tôi, vật của tôi v.v…, là sở hữu

cách về tôi, thuộc nhân xưng ngôi thứ nhất

trong thuộc cách theo văn pháp (grammar)

của tiếng Phạm. Tuy nhiên, trong kinh cũng

có khi ma ma được gọi là “ngã”(tôi).

Phạm ngữ tạp danh (Đại 54, 1229 trung),

nói: “Ngã là ma ma”.

MA MA KÊ BỒ TÁT

Ma ma kê, Phạm: Màmakì.

Cũng gọi Mang mãng kê bồ tát, Mang

mãng kế bồ tát, Mang mang kê bồ tát, Ma

mạc chỉ bồ tát.

Hán dịch: Kim cương mẫu.

Vị Bồ tát bộ mẫu của Kim cương bộ

Mật giáo, ngồi ở viện Kim cương thủ trong

Mạn đồ la Kim cương giới, là mẹ của tất cả

Bồ tát.

(xt. Mang Mãng Kê Bồ Tát).

MA MÊ

…..

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Ma (..) đồng nghĩa với Ma ( ), tức

không cảm giác; Mê (..) là Mị (..), nghĩa là

do một vật gì đó như cát, dằm bay vào mắt,

không mở mắt ra được, do đó không thấy

được gì.

Trong Thiền lâm, từ “ma mê” thường

được sử dụng để miêu tả cái trạng thái lờ

mờ, thấy không được rõ ràng, hoặc chê

những người không có kiến giải rốt ráo.

Đông lâm hòa thượng Vân môn am chủ

tụng cổ (Vạn tục 118, 399 thượng), nói:

“Người câm nằm mộng nói cùng ai? Tỉnh

dậy đối diện nhau mắt lại mờ(ma mê)”.

[X. Cổ tôn túc ngữ lục Q.47].

MA MÊ

Ma Lợi Chi Thiên

 

M

3021

MA NA ĐỎA

Phạm,Pàli: Manatta.

Cũng gọi Ma na đóa, Lục dạ ma na đỏa,

Ma na đỏa yết ma.

Hán dịch: Duyệt chúng ý, Ý hỉ, Hảo, Hạ

ý, Biến tịnh, Chiết phục cống cao.

Phương pháp diệt tội và sám hối của vị

tỉ khưu khi phạm tội Tăng tàn.

Khi phạm tội Tăng tàn, phải phát lộ

sám hối ngay, trong vòng 6 ngày 6 đêm ở

riêng 1 chỗ, làm các việc khó nhọc thay

cho chúng tăng, như quét tước tháp, tăng

phòng, dọn dẹp cầu tiêu, nhà tắm, tuy

vào trong tăng nhưng không được nóibàn

với người khác; trong thời gian này, chí

thành sám hối, khiến chúng tăng được

hoan hỉ.

Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành

sự sao quyển trung, phần 1 (Đại 40, 47 hạ),

nói: “Ma ha đỏa, Hán dịch là Duyệt chúng ý

(làm đẹp lòng mọi người), tức là thuận theo lời

dạy bảo của chúng tăng, làm cho chúng tăng

đều hoan hỉ”.

Kinh Tì ni mẫu quyển 2 (Đại 24, 811

trung), nói: “Ma na đỏa, trước chỉ có tự mình

hoan hỉ và sinh tâm hổ thẹn nên cũng làm

cho chúng tăng hoan hỉ; do muốn được hoan

hỉ trước nên mới dành cho vị ấy ít ngày để

sám hối, do ít ngày sám hối mới được gọi là

Hỉ. Còn chúng tăng hoan hỉ là vì xét thấy

người ấy không còn hành vi tái phạm nữa,

nên khen ngợi nói rằng: “Nhờ sự sám hối

này mà người phạm tội dứt hết phiền não,

thành người thanh tịnh”, vì thế chúng tăng

hoan hỉ”.

Tuệ lâm âm nghĩa gọi Ma na đỏa là

“biến tịnh”(thanh tịnh khắp cả)chính là ý

này.

[X. luật Tứ phần Q.45; Yết ma pháp

trong luật Ngũ phần Q.23; luật Thập tụng

Q.32; luật Ma ha tăng kì Q.25, 26].

MA NA TƯ LONG VƯƠNG

Ma na tư, Phạm: Manasvati.

Cũng gọi Ma na tô bà đế long.

Hán dịch: Đại thân long vương, Từ tâm

long vương, Đại lực long vương, Cao ý long

vương, Đại ý long vương.

Vị vua rồng coi về việc làm mưa, là 1

trong 8 vị Đại long vương.

Rồng này mình dài có thể quấn chung

quanh núi Tu di 7 vòng, vì thế gọi là Đại

thân. Lúc sắp làm mưa thì trước hết nổi mây

đen trong 7 ngày, đợi cho nhân gian sắp xếp

mọi việc xong xuôi, đâu vào đấy rồi mới trút

mưa xuống. Vì khi nổi mây làm mưa đều

phát xuất từ lòng thương, cho nên gọi là Từ

tâm long vương.

Pháp hoa văn cú quyển 2, hạ (Đại 34,

24 hạ), nói: “Ma na tư (…) A tu la dâng

nước biển làm ngập thành Hỉ kiến, rồng

này quấn mình quanh thành để ngăn nước

biển”. Vì rồng này có uy đức nên trở thành

vua của tất cả các loài tôm tép có hình giống

rồng.

[X. Pháp hoa quang trạch sớ Q.1; Hoa

nghiêm kinh thám huyền kí Q.2].

MA NẠP

Một loại ca sa may bằng lụa rất mịn,

tương truyền do nước Cao li sản xuất.

Phẩm Tuyên chiếu trong Lục tổ đàn kinh

(Đại 48, 360 thượng), nói: “Thâm cảm ân

đức của Thầy, xin đê đầu đính lễ, đồng thời

dâng tấm ca sa ma nạp và bát thủy tinh cúng

dường”.

Còn theo bài tựa Ma nạp tán trong Đông

pha toàn tập, thì khi ngài Phật ấn Liễu

nguyên đến kinh đô, vua nghe danh đức của

ngài, ban cho chiếc áo ma nạp do nước Cao

li triều cống.

Lại môn Chương phục trong Thiền lâm

MA NẠP

 

M

3022

tượng khí tiên trích dẫn lời trong Kê lâm

chí rằng, những vị tăng Cao li mặc áo ma

nạp là Thiền pháp sư, loại áo này rất mịn

và đẹp.

MA NẠP BÀ

……..

I. Ma Nạp Bà.

Phạm:Mànava.

Hán dịch: Thắng ngã.

Là cái “ngã”(ta)thù thắng mầu nhiệm

mà ngoại đạo Tì nữu thiên chấp rằng trong

thân của mỗi hữu tình đều có.

[X. kinh Hoa nghiêm Q.19 (bản dịch

mới); kinh Đại bảo tích Q.35; Đại nhật kinh

sớ Q.2].

II. Ma Nạp Bà.

Phạm: Màịava hoặc Màịavaka.

Cũng gọi Ma nạp phược ca, Ma nạp, Ma

na bà.

Hán dịch: Nho đồng, Thiếu niên, Nhân

đồng tử, Niên thiếu, Niên thiếu tịnh hành,

Tịnh trì.

Tức là thanh thiếu niên, đặc biệt chỉ cho

thanh thiếu niên Bà la môn.

[X. Hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.14;

luật Ngũ phần Q.15].

MA NẠP TIÊN

……..

Ma nạp, Phạm,Pàli: Màịava.

Hán dịch: Nho đồng.

Vị tiên trong thời quá khứ, là tiền thân

của Phật Thích ca.

Khi còn ở địa vị tu nhân, đức Thích ca

Như lai là tiên nhân Ma nạp, lúc hết kiếp

A tăng kì thứ 2 Ngài gặp đức Phật Nhiên

đăng ra đời, bấy giờ, tiên nhân Ma nạp

dâng 5 cành sen cúng dường đức Phật,

đồng thời, trải tóc của mình lên chỗ bùn

lầy để Phật bước qua; nhờ nhân duyên

tinh tiến ấy mà tiên nhân Ma nạp được

thụ kí thành Phật trong đời vị lai, vượt

qua 8 kiếp sinh tử trong bể khổ.

[X. kinh Tâm địa quán Q.1].

MA NGHỊCH KINH

……..

Phạm:Maĩjuzrì-vikurvàịa-parivarta.

Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ

dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại

chính tạng tập 15.

Nội dung kinh này ghi lại cuộc vấn đáp

về ma sự giữa Đại quang thiên tử và ngài

Văn thù sư lợi. Lúc ấy ma đến quấy nhiễu,

ngài Văn thù dùng sức Tam muội trói buộc

ma và biến ma thành thân Phật, bàn luận

về Phật pháp với các tỉ khưu, cuối cùng ma

Ba tuần lo buồn, khóc lóc bỏ đi.

Nguyên bản tiếng Phạm của kinh này đã

thất lạc, lại không có bản Hán dịch nào khác,

chỉ còn bản dịch Tây tạng đề là: “Thánh

Văn thù sư lợi Thần biến phẩm chi Đại thừa

kinh”, hoàn toàn khác với tên kinh của bản

Hán dịch.

MA NGƯU

Vốn chỉ cho con trâu kéo cày, ví dụ tăng

ni chưa tu hành một cách chân chính. Con

trâu kéo cày, ngày ngày gắng sức cực nhọc

mà không hề dụng tâm, chỉ khổ thân và

luống công vô ích; ma ngưu được dùng để ví

dụ cho tăng ni tu hành Phật đạo, thân tuy

hành đạo mà tâm không hành đạo.

Tứ thập nhị chương kinh chú (Vạn tục

59, 39 hạ), nói: “Sa môn hành đạo không

nên như con trâu kéo cày; thân tuy hành

đạo nhưng tâm đạo chẳng hành. Tâm đạo

nếu hành thì cần gì thân phải hành đạo?”

[X. Vạn thiện đồng qui tập Q.2].

MA NHAI

…..

Cũng gọi Ma nhai thạch khắc.

Làm phẳng bề mặt vách đá của sườn

MA NHAI

 

M

3023

núi hoặc mài nhẵn mặt những tảng đá lớn,

rồi khắc chìm hoặc khắc nổi những văn

tự, thi phú hoặc tượng Phật v.v… gọi là Ma

nhai.

Những ma nhai xưa nhất là những Pháp

sắc của vua A dục được khắc vào thế kỉ

thứ III trước Tây lịch, hiện còn để lại rải

rác ở nhiều nơi trên đất nước Ấn độ. Những

ma nhai mà ngày nay đã tìm thấy được gồm

có: Đại ma nhai pháp sắc 7 chỗ và Tiểu ma

nhai pháp sắc 8 chỗ. Nội dung chủ yếu của

các Pháp sắc là chính sách, chính lệnh lấy

giáo thuyết Phật giáo làm nền tảng. Ngoài

ra cũng có sự tích của vua A dục và những

qui định về quản lí hành chính nói chung.

Còn ở Ba mễ dương (Bàmiyan) tại nước

A phú hãn còn 2 pho tượng Phật lớn nhất

thế giới bằng đá trong khám được khắc vào

thế kỉ thứ V.

Tại Trung quốc thì như động Vân cương

tỉnh Sơn tây, các hang động ở huyện Củng

tỉnh Hà nam, sườn núi Hoàng thạch ở Lịch

thành, tỉnh Sơn đông v.v… cũng có 1 số ít

tượng Phật ma nhai. Còn các kinh được khắc

trên đá theo hình thức ma nhai thì có: Kinh

Kim cương bát nhã ở khe núi Kinh thạch,

huyện Thái sơn, tỉnh Sơn đông, kinh Đại

phẩm bát nhã ở động Ánh Phật, núi Tồ lai,

tỉnh Sơn đông, kinh Hoa nghiêm ở núi Ốc

lai, huyện Liêu xuyên, tỉnh Sơn tây v.v…

Tại Nhật bản cũng có nhiều tượng Phật

ma nhai như: Phật ma nhai Đại cốc ở thị

trấn Vũ đô cung, huyện Lệ mộc, Phật ma

nhai ở quận Lật thái, huyện Tư hạ, Phật

ma nhai ở

thị trấn Cậu

chử, huyện

Đại phản và

Phật ma

nhai ở thị

trấn Phong

hậu cao

điền … đều

được xem là

những di

tích lịch sử

đặc biệt.

(xt. A Dục Vương Khắc Văn).

MA NHĨ PHẠT ĐA PHÁI

Malwatta-nikàya.

Cũng gọi Mạn nhĩ ngõa đa phái.

Phái Xiêm la, 1 phái chủ yếu thuộc

Thượng tọa bộ trong Phật giáo Tích lan được

thành lập vào giữa thế kỉ XIX.

Tổng bộ do hơn 20 ngôi chùa Ma nhĩ

phạt đa ở Kandy(miền Trung Tích lan) hợp

lại mà thành; tỉ khưu thuộc phái Phật giáo

thôn cú (Gàmavàsina#), dòng họ Cù duy

già mẫu, bộ tộc Tăng già la, chủ yếu nghiên

cứu Phật học và chú thích kinh điển. Đã có

khá nhiều tác phẩm Phật giáo bằng tiếng

Phạm,Pàlivà tiếng Tích lan do phái này

biên soạn.

Phái này giữ vai trò chủ chốt trong việc

tổ chức giáo dục và cơ cấu nghiên cứu ở viện

Phật học Tăng vương, tham dự việc quản lí

các viện Phật học Trí tăng, Trí nghiêm ở

Tích lan và cùng với phái A tư yết lợi (Asgiri,

cũng gọi A kì lê phái) trông coi chùa Răng

Phật tại Kandy. Các vị tăng trưởng của phái

này được gọi là Ma ha da na ca(Đại đạo sư)

MA NHĨ PHẠT ĐA PHÁI

Pháp sắc của Vua A Dục

Đại Phật ma nhai ở chùa Thạnh Quật,

huyện Củng, tỉnh Hà Nam

 

M

3024

và A nỗ na da ca(Phó đạo sư), do hội đồng

thường vụ Tăng già tuyển chọn, giữ chức

trọn đời.

Chức Trụ trì những ngôi chùa trọng

yếu thì do La đạt la(quí tộc xưa),một

dòng họ cao quí trong tộc Cù duy già

mẫu đảm nhiệm. Phái này cũng thiết lập

các trung tâm Phật giáo tại Ấn độ và các

nước khác.

MA NHIỄU LOẠN KINH

………..

Kinh, 1 quyển, không rõ dịch giả, được

thu vào Đại chính tạng tập 1.

Nội dung kinh này thuật lại việc ma

vưong Ba tuần hóa thân chui vào bụng

tôn giả Mục kiền liên, Ngài Mục kiền

liên vào định khám phá được, ma vương

liền từ miệng của Ngài chui ra đứng phía

trước Ngài. Ngài Mục kiền liên giải thích

về mối oan thân giữa Ngài và ma vương

Ba tuần ở đời quá khứ, rồi nói về giáo

pháp thiện ác quả báo để khuyên răn.

Ma vương nghe xong, buồn rầu lo sợ, thu

hình biến mất.

Kinh này và kinh “Tệ ma thí Mục liên”

(do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô) đều

là các bản biệt dịch của kinh Hàng ma

trong Trung a hàm. Ngoài ra, nội dung

bài kinh thứ 50 (Màratajaniya. S.) trong

Trung bộ tiếngPàlicũng tương đương

với kinh này.

[X. Xuất tam tạng kí tập Q.4; Lịch đại

Tam bảo kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo

lục Q.1].

MA NI

…..

Phạm,Pàli: Maịi.

Cũng gọi Mạt ni.

Hán dịch: Châu, Bảo châu.

Từ gọi chung các loại ngọc quí.

Truyền thuyết phổ thông cho rằng ma

ni có thể tiêu trừ tai nạn, tật bệnh, lắng nước

đục thành trong và đổi màu sắc của nước.

Còn tiếng Phạm Cintà-maịi (Hán âm:

Chân đà ma ni, Chấn đà ma ni) thì Hán

dịch là: Như ý bảo, Như ý châu, Như ý ma

ni, Ma ni bảo châu, Mạt ni bảo, Vô giá bảo

châu. Vì loại châu này có khả năng làm thỏa

mãn ý muốn và sự mong cầu của con người,

cho nên gọi Bảo châu như ý.

Có thuyết cho rằng ma ni được lấy ra từ

óc cá Ma kiệt hoặc bảo nó là mảnh vỡ từ vật

cầm tay của trời Đế thích; lại có thuyết nói

từ xá lợi của Phật biến thành. Trong 40 tay

của bồ tát Thiên thủ Quan âm thì tay phải

cầm ma ni Nhật tinh, tay trái cầm ma ni

Nguyệt tinh. Ma ni Nhật tinh cũng gọi là

Nhật ma ni là loại ma ni tự nhiên phát ra

ánh sáng nóng nực, chói lọi; còn ma ni

Nguyệt tinh cũng gọi là Nguyệt quang ma

ni, Minh nguyệt ma ni, Minh nguyệt chân

châu, Nguyệt ái châu, là loại ma ni có năng

lực tiêu trừ sự nóng bức đem lại sự mát mẻ

cho mọi người.

Trong các kinh luận có nói đến nhiều

loại ma ni, theo luận Đại tì bà sa quyển

102 thìMạt ni bảo có 5 loại: Quang minh

mạt ni, Thanh thủy mạt ni, Phương đẳng

mạt ni, Vô giá mạt ni và Như ý châu. Theo

kinh Hoa nghiêm quyển 47 (bản dịch cũ)

thì có 6 loại ma ni: Thanh lưu li ma ni, Dạ

quang ma ni, Nhật tạng ma ni, Nguyệt

chàng ma ni, Diệu tạng ma ni và Đại đăng

ma ni. Còn kinh Đại phương đẳng đại tập

quyển 47 thì nêu:ma niTì lăng già của trời

Đế thích, ma ni Đăng tộ của chư thiên cầm,

ma ni Quang chàng và ma ni Diễm quang

của Phạm thiên v.v…

[X. kinh Di nhật ma ni; kinh Đại bát

niết bàn Q.12 (bản Bắc); kinh Đại phẩm bát

nhã Q.10; kinh Hoa nghiêm Q.59 (bản dịch

cũ); phẩm Chuyển luân thánh vương trong

kinh Khởi thế Q.2; luận Đại trí độ Q.59;

Tuệ lâm âm nghĩa Q.27].

MA NHIỄU LOẠN KINH

 

M

3025

MA NI ĐÔI

Đống đá được xếp thành do những phiến

đá hoặc tảng đá trên có khắc 6 chữ chân

ngôn “Án ma ni bát di hồng”.

Tín đồ Phật giáo Tây tạng khắc thần

chú 6 chữ “Án Ma Ni Bát Di Hồng” trên

đá rồi đặt ở trên đường vào núi, tín đồ

qua đường tiếp tục xếp thêm những phiến

đá khác lên, lâu ngày thành đống(đôi); vì

lấy 2 chữ Ma Ni trong thần chú 6 chữ mà

gọi là Ma ni đôi. Những người đi ngang

qua đây, tùy theo thời gian, phương hướng

mà nhiễu quanh 1 vòng để tích lũy công

đức.

MA NI GIÁO

Anh: Manicheism.

Đức: Manichismus.

Pháp:Manichéisme.

Cũng gọi Mạt ni giáo, Mâu ni giáo, Minh

giáo, Minh tôn giáo.

Tông giáo do ông Ma ni (Mani, Manes,

Manichaeus) người Ba tư sống vào thế kỉ

thứ III Tây lịch tổng hợp các thuyết của

Bái hỏa giáo (Zoroastrianism, cũng gọi

Thiên giáo, tông giáo của Ba tư cổ đại), Cơ

đốc giáo và tư tưởng của Phật giáo mà thành

lập ra.

Giáo nghĩa của Ma ni giáo lấy thiện, ác

nhị nguyên luận của Bái hỏa giáo làm nền

tảng, tóm thu tất cả mọi hiện tượng vào

thiện và ác, thiện là ánh sáng, ác là bóng

tối, mà ánh sáng thì chắc chắn đánh tan

bóng tối, nếu nhân loại nương theo chân lí

của tông giáo và chí hướng của thần linh

thì chắc chắn sẽ đi đến thế giới tươi sáng

và hạnh phúc yên vui. Nhưng từ vô thủy

đến nay, sáng và tối giao nhau; ác ma

thường ở trong thế giới tối tăm gây nhiễu

loạn, do đó thế giới hiện tại vẫn lẫn lộn

thiện và ác, bởi thế loài người phải nỗ lực

hướng thiện, để tạo nên một thế giới tươi

sáng. Đó chính là lí do mà tông giáo này

còn được gọi là Minh giáo. Thần của Ma

ni giáo có 10 đức: Ái, tín, thành, kính, trí,

thuận, thức, giác, bí và sát. Công phu tu

dưỡng của tín đồ lấy sự cấm dục và im lặng

làm chính. Công khóa hàng ngày là trai

giới, cầu nguyện(4 lần mỗi ngày). Tính chất

đơn giản, sáng sủa và trực tiếp của tông

giáo này rất được người đương thời đón

nhận, cho nên đã truyền bá ở vùng Trung

á, Đế quốc La mã (khoảng thế kỉ IV), Ấn

độ, Trung quốc v.v… một cách rộng rãi,

cho đến thế kỉ XIII Ma ni giáo vẫn còn

hưng thịnh.

Ma ni giáo được truyền đến vùng Tân

cương thuộc Trung quốc vào khoảng từ

thế kỉ VI đến thế kỉ VII, rồi từ Tân cương

truyền đến Hồi hột ở phía bắc sa mạc và

thịnh hành ở vùng này. Vào năm Đại lịch

thứ 3 (768) đời Đường, đáp lời thỉnh cầu

của nước Hồi hột, vua Đại tông cho phép

xây chùa Ma ni giáo ở vùng Giang hoài.

Năm Hội xương thứ 5 (845), Đường vũ

tông phá diệt Phật pháp, Ma ni giáo cũng

bị đả kích nghiêm trọng, vì thế mà chuyển

thành tông giáo bí mật, đồng thời, tiếp

thu Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian, cũng

từ đó đổi tên là

Minh giáo.

Minh giáo tin

chắc rằng bóng

tối sẽ qua đi và

ánh sáng tất

phải đến, cho

nên dám tạo

phản, thường tỏ

dấu hiệu chống

lại chính phủ.

Bắt đầu từ cuối

đời Bắc Tống, ở

các tỉnh Chiết

MA NI GIÁO

Kinh Điển Ma Ni Giáo

 

M

3026

giang, Giang tây, An huy v.v… thường xảy

ra việc Minh giáo làm loạn. Về sau, Minh

giáo lại liên kết với Di lặc giáo và Bạch

liên xã mà biến thành Bạch liên giáo vào

cuối đời Minh. Danh từ Minh giáo tuy

không còn được thấy trong các văn hiến,

nhưng thuyết “Minh vương xuất hiện” vẫn

còn lưu truyền trong dân gian.

[X. Phật tổ thống kỉ Q.29; Liễu tử hậu

tập Q.28].

MA NI KÌ

……..

Cũng gọi Kinh phan.

Một thứ cờ pháp được dùng để cầu

nguyện của Phật giáo Tây tạng. Tức là sử

dụng vải trắng hoặc giấy màu cắt thành mảnh

dài giống như lá cờ nhỏ, rồi viết lên đó bài

chân ngôn 6 chữ: “Án ma ni bát di hồng”

và các kinh văn khác, sau đó kết thành xâu

dài, treo vào cây sào cắm trên các nóc nhà,

hoặc dựng ở đầu núi và trên những “Ma ni

đôi” để cầu nguyện.

MA NI LUÂN

Một loại pháp khí của tín đồ Phật giáo

Tây tạng được sử dụng trong lúc cầu

nguyện.

Hình dáng pháp khí này giống như cái

thùng nhỏ, chung quanh khắc thần chú 6

chữ “Án ma ni bát di hồng”, chính giữa

đặt 1 cái trục, bên trong có dán giấy in

văn kinh. Khi cầu nguyện thì tay cầm pháp

khí quay tròn, đồng thời miệng niệm 6

chữ thần chú.

MA NOA LA (?-165)

Tổ thứ 22 của Thiền tông Ấn độ, con

trai thứ của vua nước Na đề, thuộc dòng

Sát đế lợi. Năm 30 tuổi, Ngài gặp tôn giả

Bà tu bàn đầu, liền xin xuất gia và sau

được nối pháp.

Ban đầu, Ngài

thường hành

hóa ở miền Tây

Ấn độ, sau đến

nước Đại

nguyệt chi,

truyền pháp

cho ngài Hạc

lặc na rồi thị

tịch.

[X. Bảo lâm truyện Q.4; Tổ đường tập

Q.2; Cảnh đức truyền đăng lục Q.2].

MA NÔ

…..

Phạm: Manu.

Thủy tổ của loài người trong truyền

thuyết Ấn độ.

Cứ theo truyền thuyết thì có 14 đời, mỗi

đời là 432 vạn năm. Ma nô đời thứ nhất tên

là Tư bà diêm bồ bà (Phạm:Svayaôbhava),

có thuyết cho rằng vị này là cháu của Phạm

thiên, sáng tạo ra 10 vị Sinh chủ gọi là Đại

tiên (Phạm:Mahàfwi); lại có thuyết cho rằng

ông là con của Phạm thiên và Xá đa rô ba

(Phạm:Zatarùpà). Bộ “Ma nô pháp điển”

trứ danh của Ấn độ thời xưa đã mượn tên

ông làm tựa đề.

Ma nô đời thứ 7 tên là Tì bà tư bà đa

(Phạm:Vaivasvata) là con của Thái dương,

vua Cam giá (Phạm:Ikwvàku) trong lịch sử

truyền thuyết của Ấn độ là con của vị này.

Truyền thuyết về trận hồng thủy nói trong

Bách đạo phạm thư và Ma ha bà la đa là

miêu tả sự tích của ông.

MA NÔ PHÁP ĐIỂN

Phạm: Manu-smfti.

Bộ sách quan trọng của Bà la môn giáo

Ấn độ được căn cứ vào Ma nô pháp kinh

(Phạm:Mànava-dharma-sùtra) mà soạn

MA NÔ PHÁP ĐIỂN

Tổ Ma Noa La

 

M

3027

thành vào khoảng từ thế kỉ thứ II trước Tây

lịch đến thế kỉ thứ II sau Tây lịch. Đây là bộ

Pháp điển xưa nhất trong các bộ Pháp điển

của Ấn độ.

Cứ theo trong sách nói thì sách này do

Phạm thiên trứ tác, rồi truyền cho Ma nô

(Phạm:Manu), thủy tổ của loài người, về

sau lại do ngài Ba lợi hỗ (Phạm:Bhfgu)

truyền đến nhân gian. Toàn bộ sách có 12

chương, gồm 2685 bài kệ. Nội dung nói về

những phong tục, tập quán của Phệ đà và

các điều văn về pháp luật. Trong đó,

những qui tắc về pháp tố tụng, dân pháp

rất hời hợt, thiếu sót, đủ để chứng tỏ mức

độ cổ xưa của pháp điển này. Xưa nay

Pháp điển Ma nô là mẫu mực về phép tắc

sinh hoạt của người Ấn độ. Pháp điển của

Phật giáo Miến điện (Dhammasaỉỉham),

Pháp điển Thái lan, Pháp điển Indonesia

xưa đều căn cứ theo Pháp điển Ma nô mà

soạn khảo, đặc biệt đảo Bali thuộc Indonesia

hiện nay vẫn còn ứng dụng luật Ma

nô trong thực tế.

MA OÁN

Chỉ cho ác ma, vì ác ma thường gây ra

những tai họa cho con người, nên bị loài

người coi là oán địch.

Kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa

quyển 8 (Đại 8, 900 thượng), nói: “An trụ

bất động giống như kim cương, dùng gươm

trí tuệ chém đầu giặc phiền não, phá tan lũ

quân sinh tử, dẹp sạch bọn ma oán, gánh

vác tất cả, khiến cho chúng sinh đều được

giải thoát”.

[X. kinh Thuyết vô cấu xứng Q.2, 6].

MA PHẠM

Từ chỉ chung cho Thiên ma ở tầng trời

Tha hóa cõi Dục và Phạm thiên vương ở

cõi Sắc.

Câu xá luận kí quyển 3 (Đại 41, 61

thượng), nói: “Ma chỉ cho Tha hóa tự tại

thiên ma; Phạm chỉ cho Phạm vương”.

MA PHẬT

Chỉ cho Thiên ma và Phật, là nêu lên sự

đối lập giữa cực ác và cực thiện.

Ma ha chỉ quán quyển 8, hạ (Đại 46, 116

trung), nói: “Cõi ma tức là cõi Phật, nhưng

vì chúng sinh không biết nên mê mất cõi

Phật mà lặn hụp trong cõi ma; ở trong bồ đề

mà sinh ra phiền não”.

MA PHƯỢC

…..

Không được tự do, vì bị vọng tưởng trong

tâm và sự vật bên ngoài trói buộc.

Kinh Đại niết bàn quyển 17 (bản Bắc)

(Đại 12, 462 trung), nói: “Bị trói buộc gọi là

Ma phược, nếu không bị trói buộc thì thoát

ra khỏi Ma phược. Ví như ở thế gian, kẻ có

tội sẽ bị vua trói, còn người vô tội thì vua

không thể trói”.

MA QUÂN

…..

Ma, Phạm:Màra.

Gọi đủ: Ma la.

Hán âm: Ma la.

Cũng gọi Ác ma.

Hán dịch: Sát giả, Chướng ngại.

Quân lính của ác ma. Vì dùng quân để

ví dụ thế lực của các ma nên gọi là Ma

quân. Khi đức Phật sắp thành đạo, Ma

vương và bọn thuộc hạ đến quấy nhiễu,

gây chướng ngại, nhưng đều bị Ngài hàng

phục và rút lui.

Kinh Phật bản hạnh tập quyển 25 thì

coi phiền não là Ma quân, bảo có 12 loại:

Tham muốn, không vui vẻ, đói khát lạnh

nóng, yêu thương đắm đuối, thích ngủ nghỉ,

lo lắng sợ hãi, ngờ vực mê hoặc, giận dữ

MA QUÂN

 

M

3028

phẫn nộ, tranh giành danh lợi, ngu si không

biết, tự kiêu tự đại và thường chê bai người

khác.

Trong các kinh luận Đại thừa ở thời kì

sau cũng thấy có thuyết này, như luận Đại

trí độ quyển 5 nói có 10 loại quân phiền

não là: Ham muốn, lo buồn, đói khát, tình

ái, ngủ nghỉ, sợ hãi, ngờ vực, tâm độc hại,

thích tiếng tăm lợi lộc và khen mình chê

người… Tóm lại, các kinh luận đều dùng

các loại phiền não nói trên để ví dụ cho

thế lực của bọn Ma quân và cho rằng Bồ

tát nhờ đã hàng phục được bọn Ma quân

này mà thành đạo.

MA SÁI

…..

Phạm:Màwa.

Pàli: Màsa.

Cũng gọi Ma sa, Ma sa ca (Phạm:

Màwaka,Pàli: Màsaka).

Hán dịch: Tiền, Đồng tiền.

Loại tiền tệ thông dụng ở Ấn độ vào thời

cổ đại.

Về giá trị thì 80 bối xỉ (Phạm:Kaparda)

là 1 ma sái, 20 (hoặc 12, 16, 40) ma sái là 1

ca lợi sa bát na (Phạm:Kàwàpaịa).

Theo sự qui định của Luật bộ, nếu tỉ

khưu lấy trộm 5 (hoặc 3, 4, 10) ma sái (tức

¼ ca lợi sa bát na) trở lên thì phạm tội Ba la

di, bị đuổi ra khỏi tăng đoàn. Tỉ lệ giữa ca

lợi sa bát na và ma sái nói trên tùy theo thời

đại và địa phương mà có khác nhau.

Theo luật Tứ phần quyển 1, thì 1 ma sái

tương đương với 1 tiền đời xưa của Trung

quốc; như vậy, nếu lấy trộm 5 ma sái, số

tiền rất nhỏ, mà phạm trọng cấm thì e rằng

điều này có chỗ lầm lẫn. Bởi thế, trong Nhất

thiết kinh âm nghĩa quyển 60, ngài Tuệ lâm

đời Đường bác bỏ thuyết này và chỉ ra rằng,

1 ma sái tương đương với 80 tiền của Trung

quốc, mà 5 ma sái thì tương đương với 400

tiền, chứ không phải 5 tiền. Ngoài ra,Màsa

tức là loại đậu thúc mà tên khoa học là

Phaseolus radiatus. Do đó suy ra thì 1 ma

sái tương đương với giá trị của 1 hạt vàng to

bằng hạt đậu thúc.

[X. Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.2;

Thiện kiến luật tì bà sa Q.8; luật Thập tụng

Q.52; Câu xá luận bảo sớ Q.22; Huyền ứng

âm nghĩa Q.21].

MA SƯ SƠN

……..

Phạm: Matsikasaịđa.

Pàli:Macchikàsaịđa.

Một đô thị ở Ấn độ đời xưa cách thành

Xá vệ (Pàli:Sàvatthì) 30 do tuần.

Đô thị này là nơi cư ngụ của Trưởng giả

Chất đa (Pàli:Citta), 1 người nổi tiếng được

nói đến trong kinh điển. Một hôm, Trưởng

giả đến thành Xá vệ, nghe tỉ khưu Ma ha

nam thuyết pháp mà chứng được quả Dự

lưu. Sau, Trưởng giả cúng dường vườn cây

ăn trái của mình để làm tinh xá cho ngài

Ma ha nam.

[X. kinh Tạp a hàm Q.21; phẩm Thanh

văn trong kinh Tăng nhất a hàm Q.20; Pháp

cú kinh chú thích 2].

MA SỰ

…..

Những hành vi tư tưởng làm chướng ngại

việc tu hành và xa rời chính đạo.

Kinh Ma nghịch (Đại15, 112 trung),

nói: “Có ý tưởng gây dựng sự nghiệp mà có

tạo tác, đó là ma sự. Nếu để cho chí nguyện

bị vướng mắc, bị cướp đoạt, đó là ma sự.

Giả sử khởi tư tưởng tham dục, cầu mong,

thì là ma sự”.

[X. Ma ha chỉ quán Q.4, hạ; Vạn thiện

đồng qui tập Q.thượng].

MA SỰ CẢNH

Cũng gọi Ma cảnh.

MA SỰ CẢNH

 

M

3029

Những cảnh tượng do Thiên ma phát

khởi ra, để phá hoại người tu hành, là cảnh

thứ 5 trong 10 cảnh, tương ứng với 10 quán

pháp(Thập thừa quán pháp) do tông Thiên

thai lập ra.

Người tu hành sau khi quán xét 4 cảnh

trước là ấm cảnh, phiền não cảnh, bệnh

hoạn cảnh và nghiệp tướng cảnh, cũng vẫn

chưa phá được hoặc chướng; còn Thiên

ma thì sợ rằng nếu người tu hành phá hết

hoặc chướng, cứu độ người khác thì dân

ma của nó sẽ bị tổn thất. Hơn nữa, nếu

người tu hành được đại thần thông, đại

trí tuệ thì chắc chắn nó sẽ bị điều phục,

khống chế, cho nên Thiên ma phát động

nhiều thứ ma sự để phá hoại người tu

hành. Trong trường hợp ấy, trước hết

người tu hành nên quán xét và quở trách

nó, không để cho nó xâm nhập; kế đến

quán xét thân tâm mình từ đầu đến chân

đều hư giả, khiến cho ma không có chỗ

bám víu; quán xét 3 lần như thế mà ma

vẫn không chịu bỏ đi, thì phải lấy cái chết

làm kì hạn, nhất tâm quán tưởng, khiến

đạo hạnh được thành tựu.

[X. Ma ha chỉ quán Q.5 thượng].

MA TAM CÂN

Ba cân gai.

Gọi đủ: Động sơn ma tam cân.

Cũng gọi: Đáp ma tam cân, Ma tam cân

thoại, Động sơn Phật ma tam cân.

Tên công án trong Thiền tông.

Nội dung công án này ghi lại cuộc vấn

đáp giữa Thiền sư Động sơn Thủ sơ đầu đời

Tống với 1 vị tăng.

Tắc 12, Bích nham lục (Đại 48, 152 hạ),

chép: “Tăng hỏi Động sơn: Thế nào là Phật?

Sơn đáp: Ba cân gai”.

[X. tắc 18 trong Thiền tông Vô môn

quan; Liên đăng hội yếu Q.26; Ngũ đăng

hội nguyên Q.15].

MA TẨY

Phạm:Màsa.

Hán dịch: Nguyệt.

Nghĩa là tháng.

Theo lịch pháp Ấn độ, từ ngày 16 âm

lịch đến ngày 15 tháng sau là 1 tháng; từ

ngày đầu tháng (mồng 1)đến ngày cuối cùng

của nửa tháng trước(ngày 15) là lúc mặt trăng

tròn, cho đến dần dần khuyết đi và cuối

cùng mất hẳn, gọi là Hắc phần(phần đen);

từ khi mặt trăng bắt đầu xuất hiện đến lúc

tròn gọi là Bạch phần(phần trắng).

MA THIÊN

Chỉ cho cõi trời Tha hóa tự tại, là tầng

trời thứ 6, cao nhất trong cõi Dục, cũng là

chỗ ở của Thiên ma, cho nên gọi là Ma thiên.

[X. luận Đại trí độ Q.56].

MA THIỀN

…..

Cũng gọi Tà thiền.

Tu thiền định nhằm mục đích sai khiến

quỉ thần, trái với chính lí, làm hại chính

đạo, gọi là Ma thiền.

Ma ha chỉ quán quyển 8, hạ (Đại 46, 116

hạ), nói: “Tu theo ma tinh tiến, vì mong

được nổi tiếng, thì chỉ chứng đắc Ma thiền,

mê nơi quỉ pháp, vui với ma tuệ, sa vào lưới

kiến chấp phân biệt”.

MA TRA

Cũng gọi Biến thị, Biến quán, Chiêm thị,

Biến thị ma tra, Biến thị chiêm đổ.

Là ấn tướng và chân ngôn thành tựu do

tịnh nhãn của định tuệ nhật nguyệt, mà hành

giả Chân ngôn Mật giáo sử dụng khi vào

đạo tràng.

Chữ (ma) là chủng tử của nguyệt(mặt

MA TRA

 

M

3030

trăng), tượng trưng cho Tuệ; chữ (ỉha,

Hán âm: Tra) là chủng tử của nhật(mặt

trời), tượng trưng cho Định. Khi hành giả

Chân ngôn vào đạo tràng thì mắt phải quán

chữ Ma, mắt trái quán chữ Tra, rồi quán

tưởng chữ Ma biến thành mặt trăng, chữ

Tra biến thành mặt trời, nhờ tịnh nhãn

(con mắt trong sạch) của định tuệ này mà

thành tựu ấn tướng và chân ngôn. Tịnh

nhãn này có 2 công dụng là thấy Phật và

trừ chướng; vì thế, khi hành giả dùng 2

con mắt định tuệ này mà quan sát đạo tràng

thì các ma đều tiêu tan và chư tôn thì đều

hiển hiện.

[X. kinh Kim cương đính du già trung

lược xuất niệm tụng Q.1; Liên hoa bộ tâm

quĩ; Lí thú hội quĩ; Kim cương giới phát tuệ

sao Q.thượng].

MA TRẤT LÍ CHẾ TRA

Phạm:Màtfceỉa.

Danh tăng kiêm học giả Phật giáo, người

Trung Ấn độ sống vào khoảng cuối thế kỉ II

đến thế kỉ III.

Cứ theo Đa la na tha Phật giáo sử và

điều Tán vịnh chi lễ trong Nam hải kí qui

nội pháp truyện quyển 4, thì sư vốn tin thờ

trời Đại tự tại (Phạm:Mahezvara) của Bà

la môn giáo, tính kiêu căng và thích tranh

luận. Sau, nhân nằm mộng được Thánh đa

la mẫu (Tạng:Sgrol-ma) thụ kí, sư mới hối

hận những việc làm sai trái trước kia, nên

qui y Phật giáo và xuất gia. Sư sáng tác nhiều

bài thơ bằng tiếng Phạm tán thán vô lượng

trí đức của Phật, trình bày hạnh lục độ và

công đức thù thắng của đức Thế tôn với lời

văn trong sáng đẹp đẽ. Các bồ tát Vô trước,

Thế thân khi đọc các bài tán này cũng khen

ngợi hết lời.

Những thi phẩm của sư về sau không

những chỉ lưu truyền ở Ấn độ, mà còn được

thịnh hành ở các nước Trung á, Trung

quốc, Nhật bản v.v… và rất được tín đồ

Phật giáo ưa thích.

Ngoài ra, ở Tây tạng có thuyết cho rằng

sư và bồ tát Mã minh là cùng một người.

Các tác phẩm của sư gồm có: Tứ bách

tán, Nhất bách ngũ thập tán, Tam bảo cát

tường tán, Đẳng chính giác giả danh tán,

Tam thập ngũ thiện thệ danh bảo nghiêm

sức, Thánh đa la mẫu tán…

[X. Nam hải kí qui nội pháp truyện giải

lãm sao Q.4, phần 1].

MA VIÊN

…..

Cũng gọi Ma ti, Ma hạ, Đôi phòng.

Nhà dùng để giã gạo xay thóc trong thiền

lâm.

Vị tăng trông coi Ma viện gọi là Ma đầu.

[X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng

khí tiên].

MA VÕNG

Lưới ma.

Chỉ cho những thứ nghiệp tà ác do ma

tạo tác, chúng giống như tấm lưới bao trùm

khó thoát ra được. Tức là chúng sinh bị các

ma phiền não, Thiên ma mê hoặc, trói buộc,

cũng như chim, cá bị mắc trong lưới khó gỡ

ra được.

Luận Đại trí độ quyển 8 (Đại 25, 118

thượng), nói: “Có niệm thì rơi vào lưới ma,

không niệm thì thoát ra được”.

MA VƯƠNG

Vua trong các thiên ma, tức là chủ cõi

trời Tha hóa tự tại của cõi Dục, tên là Ba

tuần, thường cầm đầu các quyến thuộc gây

trở ngại cho người tu hành đạo Phật.

Cứ theo kinh Lăng nghiêm quyển 6

chép, nếu người không dứt được dâm dục,

thì chắc sẽ rơi vào đường ma, thượng phẩm

MA VƯƠNG

 

M

3031

là Ma vương, trung phẩm là ma dân, hạ

phẩm là ma nữ. Nhưng nói theo pháp môn

Đại thừa thì Ma vương thực ra là bậc Bồ

tát ở địa vị cao thâm, dùng sức đại phương

tiện mà thị hiện ra, nhằm mục đích giáo

hóa chúng sinh.

Có thuyết cho rằng trên từng trời thứ

6 có cung điện riêng của ma, Ma vương ở

đó, chứ không phải là chủ cõi trời Tha

hóa tự tại.

[X. phẩm Bất tư nghị trong kinh Duy

ma cật sở thuyết Q.trung].

MA YẾT ĐÀ QUỐC

Ma yết đà, Phạm;Pàli: Magadha.

Cũng gọi Ma già đà quốc, Ma kiệt đà

quốc, Ma kiệt đề quốc, Mặc kiệt đà quốc,

Mặc kiệt đề quốc, Ma ha đà quốc.

Hán dịch: Vô hại quốc, Bất ác xứ quốc,

Trí cam lộ xứ quốc, Thiện thắng quốc.

Tên 1 nước xưa ở Trung Ấn độ, là 1 trong

16 nước lớn ở thời đức Phật còn tại thế, lấy

thành Hoa thị (Patna ngày nay) và Phật đà

già đa làm trung tâm, có quan hệ rất thâm

thiết với Phật giáo.

Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 8

chép, thì nước Ma yết đà chu vi hơn 5

nghìn dặm, đất đai phì nhiêu, phong tục

thuần phác, sùng kính Phật pháp, có hơn

50 ngôi chùa với hơn 1 vạn chư tăng, phần

nhiều tu học giáo pháp Đại thừa; còn có

vài mươi đền thờ trời, ngoại đạo cũng

nhiều. Ở khu vực phụ cận thành Hoa thị

còn có những di tích nổi tiếng của Phật

giáo như: tháp A dục vương, phiến đá có

lốt chân của Phật, nền cũ chùa Kê viên,

nơi đức Phật tu khổ hạnh, nơi 3 anh em

ngài Ca diếp qui Phật v.v…

Vua Tần bà sa la xây dựng thành

Vương xá mới (nay làRajgir) ở phía bắc

cố đô và qui y đức Phật. Từ đó về sau, thành

Vương xá là nơi đức Phật thườngthuyết

pháp. Đến vua A dục đời thứ 3 của Vương

triều Khổng tước–thống nhất toàn cõi

Ấn độ, thế nước hưng thịnh, vua phái các

sư đi khắp nơi cả trong nước và hải ngoại,

để truyền bá Phật giáo, xây cấtchùa tháp,

tạo dựng trụ đá, làm cho Phật giáo cực thịnh

1 thời. Sang triều đại Cấpđa ở thế kỉ IV,

Phật giáo cũng rất hưng thịnh. Vua Đế

nhật sáng lập chùa Na lan đà vào đầu thế

kỉ thứ V, là trung tâm của Phật giáo Ấn độ

đương thời. Đến thế kỉ VII, Vương triều

Cấp đa suy vong thì Phật giáo cũng bắt

đầu suy vi.

[X. Pháp hoa kinh văn cú Q.thượng,

phần 1; Huyền ứng âm nghĩa Q.1,21; Tuệ

uyển âm nghĩa Q.1].

MàÂM TÀNG TAM MA ĐỊA

……………..

Cũng gọi Trừ cái chướng viện tam muội.

Nghĩa là tự phát tâm bồ đề mà chứng

ngộ thực tướng của tự tâm.

Vì dương căn của loài ngựa thường ẩn

kín trong bụng, khi phát dục thì dương căn

mới trồi ra, dục dứt thì dương căn lại ẩn

vào. Ví như người tự phát tâm bồ đề, tự

cầu chứng ngộ, nên gọi là Mã âm tàng tam

ma địa. Đức Đại nhật Như lai thường ở

trong Tam ma địa này để nói về pháp ái

nhiễm.

[X. phẩm Ái nhiễm vương trong kinh

Du kì; Du kì kinh xả cổ sao Q.thượng].

MàÂM TÀNG TƯỚNG

Phạm: Kozopagata-vasti-guhya.

Cũng gọi Âm mã tàng tướng, Âm tàng

tướng, Mã vương ẩn tàng tướng, Thế phong

tàng mật tướng.

Nam căn ẩn kín không lộ ra ngoài, là 1

trong 32 tướng đặc biệt của đức Phật. Vì

tướng này giống như dương căn của loài ngựa

(mã)nên gọi là Mã âm tàng.

MàÂM TÀNG TƯỚNG

 

M

3032

Cứ theo kinh Bảo nữ sở vấn quyển 4

chép, thì Mã âm tàng của Như lai là tướng

bậc đại nhân, nhờ các kiếp quá khứ, Ngài

giữ mình nghiêm túc, xa lìa sắc dục mà nay

có được tướng này.

Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 84,

54 hạ), nói: “Âm tàng của Như lai bằng

phẳng như trăng tròn, có ánh sáng màu vàng

giống như vầng mặt trời”.

[X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.8;

luận Đại tì bà sa Q.117].

MàBẢO

…..

Ngựa quí, 1 trong 7 thứ báu của Chuyển

luân Thánh vương.

Cứ theo sự ghi chép thì Mã vương bà la

hê ở trong biển lớn, có 8 nghìn quyến thuộc,

nếu Chuyển luân Thánh vương ra đời thì sẽ

nhận được của báu nhỏ nhất là Mã bảo.

Hoàng hậu Vũ tắc thiên đời Đường từng

bắt chước việc này mà đặt 7 vật báu trong

triều đình.

[X. kinh Tứ châu trong Trung a hàm

Q.11; Kinh luật dị tướng Q.47]. (xt. Thất

Bảo).

MàCHỦ QUỐC

Một vùng đất ở phía bắc núi Tuyết.

Cứ theo Thích ca phương chí quyển

thượng chép, thì vùng đất ở mạn bắc Hi mã

lạp sơn, khí hậu rất lạnh, thích hợp cho loài

ngựa sinh trưởng, có nhiều ngựa hay, nên

gọi là Mã chủ quốc. Người dân xứ này tính

tình hung bạo, tàn nhẫn, phần nhiều mặc

áo may bằng da và lông của động vật.

[X. Đại đường tây vực kí Q.1].

MàĐẠI SƯ DàÁP TỬ

……………..

Cũng gọi Bách trượng dã áp tử.

Tên công án trong Thiền tông.

Nội dung công án này ghi lại cuộc vấn

đáp giữa Thiền sư Mã tổ Đạo nhất và đệ tử

là ngài Bách trượng.

Một hôm, Đại sư Mã tổ và đệ tử là ngài

Bách trượng Hoài hải đang đi trên đường,

bỗng thấy 1 đàn vịt trời bay qua, Đại sư

hỏi (Đại 48, 187 hạ): “Cái gì thế?”

Ngài Bách trượng đáp: Đàn vịt trời.

Đại sư hỏi: Chúng bay đi đâu rồi?

Ngài Bách trượng đáp: Chúng bay đi mất

rồi!

Đại sư liền véo vào mũi ngài Bách

trượng, đau quá, ngài Bách trượng kêu:

Ới! Ới!

Đại sư nói: Từng bay mất đâu!”

[X. tắc 53, Bích nham lục; Cổ tôn túc

ngữ lục Q.1; Tổ đình sự uyển Q.1, 3; Liên

đăng hội yếu Q.4].

MàĐẦU KIM CƯƠNG

Vị thần hộ pháp trong Thượng mật viện

và Hạ mật viện của Phật giáo Tây tạng, là

hóa thân của bồ tát Từ bi Quan âm, hoặc có

thuyết cho là hóa thân của Phật và các Bồ

tát khác.

Hình tượng của vị thần này là đầu ngựa

mình người, có tượng 8 đầu, 6 đầu hoặc có

cánh khác nhau. Trong đó, Mã đầu kim

cương 8 đầu, 6 đầu được phái Cách lỗ sùng

bái; còn phái Ninh mã thì tôn thờ Mã đầu

kim cương có cánh.

Vị thần này được thờ trong điện Mã

đầu kim cương ở chùa Sắc lạp rất tôn

nghiêm.

MàĐẦU LA SÁT

………..

Chỉ cho ngục tốt đầu ngựa mình người

ở địa ngục Vô gián.

Kinh Lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 144

hạ), nói: “Thần thức người chết trông thấy

thành sắt rất lớn, trong đó, chó lửa, rắn

MàĐẦU LA SÁT

 

M

3033

lửa, hổ, chó sói, sư tử, ngục tốt đầu trâu, la

sát đầu ngựa, tay cầm giáo mác, đuổi người

chết đến cửa thành, rồi lùa vào địa ngục

Vô gián”.

MàĐẦU QUAN ÂM

………..

Phạm:Hayagrìva.

Hán âm: A da yết lị bà, Hà da yết lị bà.

Cũng gọi Mã đầu đại sĩ, Mã đầu minh

vương, Mã đầu kim cương minh vương.

Phổ thông gọi là Mã đầu tôn.

Chỉ cho Minh vương Phẫn nộ trì của

Liên hoa bộ trong 3 bộ Minh vương thuộc

Thai tạng giới Mật giáo, ngồi ở vị trí thứ 7

hàng thứ 1 trong viện Quan âm trên Hiện

đồ Mạn đồ la Thai tạng giới, mật hiệu là

Đạm thực kim cương, Tấn tốc kim cương,

là 1 trong 8 vị Đại minh vương.

Vị tôn

này là 1 trong

những hóa

thân của bồ

tát Quán tự

tại, hiện

tướng phẫn

nộ, trên đỉnh

có đầu ngựa,

hoặc 1 mặt 4

tay, 3 mặt 8

tay, 3 mặt 2

tay, 4 mặt 8

tay v.v… Vị

tôn này lấy từ bi làm trọng tâm, tiêu diệt

các ma chướng, chiếu phá sự tối tăm của

chúng sinh bằng vầng mặt trời đại uy đức

và diệt hết vô minh phiền não cho chúng

sinh.

Vị Minh vương này là giáo chủ trong

đường súc sinh, được phối với Sư tử vô úy

Quan âm nói trong Ma ha chỉ quán.

[X. Đại nhật kinh sớ Q.5; Đại nhật kinh

nghĩa thích Q.7].

MàĐẦU QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT CHÂN NGÔN ẤN

Cũng gọi Tối thắng căn bản ấn.

Chân ngôn và ấn khế tiêu trừ các ma

chướng, 1 trong 18 ấn khế.

Ấn tướng là: Chắp 2 tay, co 2 ngón trỏ

và 2 ngón vô danh vào trong lòng bàn tay,

lưng móng tay áp vào nhau, 2 ngón cái dang

ra và dựng đứng. Nếu dùng ấn này xoay về

bên trái 3 vòng, trong tâm quán tưởng tiêu

trừ các chướng, thì tất cả các ma thấy ấn này

liền tháo chạy; nếu xoay ấn về bên phải 3

vòng thì liền thành hỏa giới kiên cố.

Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại

nhật thì chân ngôn của vị tôn này là: “Nam

ma tam mạn đa bột đà nẫm (nama#

samantabuddhànàm, qui mệnh khắp các

đức Phật) khư na dã (khàdàya, ăn nuốt)

bạn nhạ (bhaôja, đánh phá) sa phá tra dã

(sphaỉya, phá sạch) sa ha (svàhà, thành

tựu). Nghĩa là sự thực hành về “không” của

Mã đầu phẫn nộ tôn tức là cái “không” của

thực tướng các pháp, ăn nuốt tất cả pháp

làm chướng ngại bồ đề, phá hết sinh tử của

3 đời. Nếu nhớ nghĩ vị tôn này, kết ấn tướng

và tụng chân ngôn của Ngài thì đoạn trừ

được tất cả những cái gây ra chướng nạn.

Và trong vòng 40 dặm, nơi người tu hành ở,

không có ma sự và các quỉ thần.

Ngoài ra, tu pháp này còn có thể khiến

cho các súc vật nuôi trong nhà(nhất là ngựa)

được bình an.

MàLAI TÂY Á PHẬT GIÁO

Mã lai tây á, Phạm:Malaya.

Hán âm: Ma lại da.

Cũng gọi Mã lai á.

Hán dịch: Sơn(núi).

Vào thế kỉ thứ V, IV trước Tây lịch,

người Ấn độ đã đến vùng Đông Namá để

buôn bán, du nhập và truyền bá văn hóa.

MàLAI TÂY Á PHẬT GIÁO

Mã Đầu Quan Âm

 

M

3034

Vào thời vua A dục, Phật giáo Ấn độ cực

thịnh, vua A dục phái các đoàn Pháp quan

đi truyền giáo các nơi, theo truyền thuyết,

2 ngàiTu na và Uất đa la được phái đến

nước Kim địa, tức nay là vùng đất từ hạ

Miến điện đến Mã lai á. Truyện Phù nam

trong Lương thư quyển 54, truyện Bàn bàn

trong Cựu đường thư quyển 197 và Nam

hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 chép

rằng, nước Bàn bàn rất kính tin Tiều thừa.

Nước Bàn bàn nói ở đây có lẽ là bán đảo

Mã lai hiện nay. Ngoài ra, các nội, ngoại

điển đều ghi những khu vực Phật giáo thịnh

hành như: Đan đan,Yết đồ, Phật la an,

Cát lan đan, Bồng phong v.v… tất cả đều ở

trên bán đảo Mã lai ngày nay.

Vào đầu thế kỉ XV, do vương triều Ma

lục giáp nổi lên, sùng tín Hồi giáo nên Phật

giáo thời kì đầu ở Mã lai suy vong. Năm

1887, pháp sư Diệu liên sáng lập chùa Cực

lạc ở Tân thành, là người tiên phong chính

thức mở ra phong trào hoằng truyền Phật

pháp. Rồi đến Pháp sư Bản trung thành lập

Niệm Phật Liên Xã, là Liên xã đầu tiên ở

quần đảo Nam dương. Pháp sư Phương liên

sáng lập học viện Bồ đề, đồng thời mở các

trường Tiểu học, Trung học Bồ đề, cổ xúy

nền giáo dục Phật hóa. Pháp sư Từ hàng

từng giảng dạy ở học viện Bồ đề, đứng ra

thành lập hội Phật học, mở rộng việc nghiên

cứu Phật học. Hòa thượng Hư vân cũng từng

đến Mã lai hoằng pháp, có hơn vạn người

qui y ngài. Pháp sư Tô mạn ca la người Hoa

kì là người đầu tiên tổ chức đoàn Thanh

niên Phật giáo và trường học dạy Phật học

định kì hàng tuần ở xứ này.

Năm 1955, pháp sư Trúc ma tổ chức hội

Phật giáo Mã lai á, đến năm 1969 đổi tên là

Tổng hội Phật giáo Mã lai á. Hiện nay pháp

sư Kim minh là Hội trưởng Tổng hội Phật

giáo Mã lai. Năm 1970, Tổng hội Thanh

niên Phật giáo Mã lai được thành lập, là tổ

chức Phật giáo có tính cách toàn quốc rất

quan trọng ở Đại mã, hiện là tổ chức năng

động nhất và có hơn 100 chi hội hoạt động

trên khắp nước. Viện Phật học Mã lai xuất

bản tạp chí Vô tận đăng, mở các phòng phát

thuốc miễn phí, thư viện và hội hoằng pháp

có định kì vào các ngày chủ nhật. Ở Bắc Mã

lai thì có Phật học viện Tân thành, Phật học

viện Cát đả, ở bờ biển phía đông thì có hội

Phật giáo Cát lan đan, hội Phật giáo Đinh

gia nô, phía Đông Mã lai có hội Phật giáo Sa

lao việt, hội Từ vân Phật giáo chính truyền.

Các nước Phật giáo Nam truyền như: Tích

lan, Thái lan, Miến điện đều có các sư đến

Mã lai hoằng pháp.

Năm 1962, lễ Phật đản được chính phủ

phê chuẩn là ngày nghỉ chung cả nước, tín

đồ Phật giáo trên toàn quốc đều long trọng

tổ chức mừng ngày lễ lớn này.

[X. Mã lai tây á tảo kì Phật giáo khảo

lược (Tịnh hải); Độc lập hậu đích Mã lai tây

á Phật giáo khái huống (Kế trình, Phổ môn

tạp chí số 42)].

MàLANG PHỤ QUAN ÂM

Hóa thân của bồ tát Quan âm làm vợ

chàng họ Mã, là 1 trong 33 tướng ứng hóa

của Ngài.

Dân chúng vùng Thiểm tây Trung quốc

chỉ quen cỡi ngựa bắn cung chứ chưa từng

nghe nói đến Tam bảo. Năm Nguyên hòa

12 (817, có thuyết nói năm thứ 4-809) đời

vua Hiến tông nhà Đường, một hôm có

người con gái xinh đẹp xách giỏ cá đi bán,

nhiều người tranh nhau xin lấy làm vợ. Cô

gái nói rằng (Đại 49, 833 trung): “Nếu ai

trong 1 buổi chiều tụng được phẩm Phổ môn

thì tôi xin theo hầu người ấy”. Sáng hôm

sau có 20 người tụng được. Cô gái lại trao

cho họ kinh Kim cương và cũng hứa như

trên, vẫn còn 10 người tụng được, nàng lại

đưa cho họ bộ kinh Pháp hoa và hẹn trong

3 ngày phải tụng được.

MàLANG PHỤ QUAN ÂM

 

M

3035

Đến kì hạn, chỉ có chàng họ Mã là tụng

được, đúng theo nghi lễ, chàng họ Mã đến

rước cô gái về nhà, nhưng nàng viện cớ có

bệnh, xin được nằm ở phòng riêng. Chốc

lát sau, nàng chết, thân thể rữa nát, Mã lang

đành mang đi chôn.

Mấy hôm sau, có

vị lão tăng mặc áo đỏ

đến nơi chôn cất

người con gái và bảo

mọi người đào lên

xem thì chỉ thấy bộ

xương sườn màu

vàng ròng còn lại

trong quan tài. Lão

tăng nói với mọi

người rằng: “Đây là

Quan âm Đại sĩ, vì

thương xót các người

nghiệp chướng sâu nặng nên Ngài dùng

phương tiện để giáo hóa đó thôi”. Nói xong

lão tăng bay mất. Từ ngày ấy, vùng Thiểm

tây có nhiều người tin theo Phật và từ đời

Tống trở đi tín ngưỡng Mã lang phụ Quan

âm rất thịnh hành. Nhưng đời sau thường

lầm lẫn Mã lang phụ Quan âm với “Ngư

lam Quan âm”.

[X. Pháp hoa kinh hiển ứng lục Q.hạ;

Phật tổ thống kỉ Q.41].

MàLẠP LẠP TÂY KHẮC LẠP

Gunapala Piyasena Malalasekera (1899-1973)

Học giả Phật giáo Tích lan, đậu Tiến sĩ

Văn học, Triết học tại Đại học Luân đôn,

nước Anh.

Ông là vịĐại sứ Tích lan đầu tiên tại

Liên xô và là chuyên viên cao cấp của Tích

lan tại Luân đôn nước Anh.Về sự nghiệp

Phật giáo, ông từng làm giáo sư ởĐại học

Tích lan vàViện trưởngviện Đông phương

học. Năm 1950, ông triệu tập đại biểu Phật

giáo của 29 quốc gia trên thế giới đến tham

dự Đại hội Phật giáo đồ thế giới lần thứ

nhất diễn ra tại thủ đô Colombo của Tích

lan, để thành lập hội “Liên nghị Phật giáo

đồ thế giới” (World Fellowship of Buddhists)

và ông được bầu làm Hội trưởng của tổ

chức này. Về sau ông được bầu lại làm

Hội trưởng 4 nhiệm kì liên tiếp, làm cho

hội này phát triển đến các quốc gia trên

thế giới.

Sau khi về hưu, ông du hành đến các

nước như: Anh, Ấn độ, Thái lan, Nhật bản,

Hạ uy di, Âu châu, Mĩ châu để giảng diễn

về Phật học. Ông là nhân vật quan trọng

trong phong trào vận động chấn hưng Phật

giáo ở Tích lan thời hiện đại.

Ông có

các trứ tác:

Tích lanPàli

ngữ văn hiến,

Pàli ngữ

danh từ tự

điển, Phật

giáo dữ chủng

tộc vấn đề.

Ngoài ra,

ông còn chủ

biên bộ “Phật

giáo bách

khoa toàn thư” (Encyclopedia of Buddhism)

bằng tiếng Anh, nhưng rất tiếc là chưa hoàn

thành thì ông đã qua đời vào năm 1973.

MàLUẬN

Chỉ cho luận Đại thừa khởi tín, vì bộ

luận này do ngài Mã minh soạn.

(xt. Đại Thừa Khởi Tín Luận).

MàMẠCH

…..

Lúa dùng cho ngựa ăn.

Đức Phật từng nhận lời thỉnh cầu của

vua A kì đạt đến nước ấy kết hạ an cư, nhưng

MàMẠCH

Mã Lang Phụ Quan Âm

Gunapala Piyasena Malalasekera

 

M

3036

nước ấy gặp nạn mất mùa đói kém, lúa gạo

rất hiếm, cho nên Phật và 500 đệ tử phải ăn

lúa nuôi ngựa trong 3 tháng an cư do người

buôn bán ngựa cúng dường. Đây là 1 trong

10 nạn của đức Phật.

[X. kinh Lăng nghiêm Q.6; Thiện kiến

luật tì bà sa Q.5].

MàMINH (?-?)

Phạm: Azvaghowa.

Đại thi hào Phật giáo, người ở thành Sa

chỉ đa, nước Xá vệ, Trung Ấn độ, sống vào

khoảng thế kỉ thứ I đến thế kỉ thứ II Tây

lịch, Tổ phó pháp thứ 12 của Thiền tông

Ấn độ, có quan hệ rất sâu đậm với vua Ca

nị sắc ca của Vương triều Quí sương.

Ngài xuất thân từ dòng dõi Bà la môn,

trong 1 gia đình bác học truyền thống. Mới

đầu, ngài tu tập theo pháp ngoại đạo, sau,

trong 1 cuộc tranh luận với Hiếp tôn giả,

do có chỗ cảm ngộ mà qui y Phật giáo. Ngài

học hết Tam tạng, thông suốt nội ngoại

điển, là người tiên phong trong nền văn

học tiếng Phạm cổ điển, mở đầu nền văn

học Văn thể (Phạm:Kàvya) đẹp đẽ, để lại

danh tiếng bất hủ trong lịch sử văn học

tiếng Phạm. Ngoài văn tài, ngài còn có đức

hạnh cao siêu, nên được tôn xưng là Bồ

tát. Hành trạng của ngài được ghi chép rõ

ràng trong “Mã minh bồ tát truyện” do ngài

Cưu ma la thập dịch và được thu vào Đại

chính tạng tập 50.

Ngài để lại các

tác phẩm: Phật sở

hành tán, Tôn đà

la nan đà thi, Xá

lợi phất chi sở

thuyết, Đại thừa

trang nghiêm kinh

luận, Kim cương

châm luận, Kiền

trĩ Phạm tán.

Ngoài ra, theo Phật giáo Tây tạng thì ngài

“Ma trất lí chế đa” (Phạm:Màtfceỉa) nói

trong Đa la na tha Phật giáo sử cũng là bồ

tát Mã minh.

[X. kinh Tạp bảo tạng Q.7; Mã minh

bồ tát truyện; Phó pháp tạng nhân duyên

truyện Q.5].

MàMINH BỒ TÁT

Mã minh, Phạm: Azvaghowa.

I. Mã Minh Bồ Tát.

Cũng gọi: Tàm thần(thần tằm).

Vị Bồ tát được Mật giáo tôn thờ, trông

coi che chở cho sự sinh nở của tằm để tạo ra

tơ lụa may y phục cho những chúng sinh

không có y phục.

Về hình tượng thì vị thần này hiện tướng

Bồ tát, mình màu da người, chắp 2 tay, ngồi

trên hoa sen trắng, cỡi ngựa trắng, mặc áo

trắng, đeo chuỗi anh lạc, đầu đội mũ hoa,

chân phải thõng xuống.

Còn theo A sa phược sao, Tôn dung sao

và Biệt tôn tạp kí thì hình tượng vị tôn này

ngồi trên hoa sen xanh, cỡi ngựa trắng, có 6

tay, tay thứ nhất bên trái đặt trên đầu gối,

cầm cái guồng quay tơ; tay thứ 2, ngửa lòng

bàn tay, bấm ngón cái vào ngón giữa và ngón

vô danh, tay thứ 3 đặt cạnh vai, cầm sợi tơ;

tay thứ nhất bên phải ngửa lòng bàn tay,

cầm ống

sáo, tay

thứ 2 kết

ấn Dữ

nguyện,

tay thứ 3

cầm cái

cân. Phép

cúng tế vị

thần này

gọi là Mã

m i n h

pháp.

MàMINH BỒ TÁT

Mã Minh Bồ Tát Mã Minh

 

M

3037

[X. Tất đàm tạng Q.1; điều Tàm mã đồng

bản trong Thử phác Q.hạ].

II. Mã Minh Bồ Tát (khoảng 100-160).

Tổ phó pháp thứ 12 của Thiền tông Ấn

độ.

Ngài là vị đại luận sư và là thi nhân nổi

tiếng trong lịch sử Phật giáo.

(xt. Mã Minh).

MàMINH TỰ

Chùa ở huyện Bác hưng, tỉnh Sơn

đông, Trung quốc, do pháp sư Căn (?-523)

sáng lập.

Cứ theo “Ngụy cố Căn pháp sư bi” thì

pháp sư Căn nổi tiếng ngang với các vị Cao

tăng như: Cưu ma la thập, Tăng lãng v.v…

Học trò ngài nhóm họp nghiên cứu nghĩa

học và tu tập thiền định ở đây.

Điều đáng chú ý là tên chùa Mã minh,

vì ngài Chân đế dịch bộ luận Đại thừa

khởi tín của ngài Mã minh vào năm Thừa

thánh thứ 2 (553) đời vua Nguyên đế nhà

Lương, thì chùa này đã được sáng lập trước

đó 30 năm rồi. Cứ đó suy ra thì biết tên

ngài Mã minh đã được các vị Cao tăng

dịch kinh như các ngài: Phật đà phiến đa,

Bồ đề lưu chi v.v… truyền vào Trung quốc

trước khi chùa Mã minh được xây cất, cho

nên người Trung quốc mới biết tên của vị

Đại luận sư Mã minh của Ấn độ, chứ

không phải sau khi ngài Chân đế dịch bộ

luận Đại thừa khởi tín mới biết đến 2 chữ

Mã minh.

MàNÃO

Phạm: Azmagarbha.

Pàli:Asama.

Hán âm: A thấp ma yết lạp bà, A xá ma

yết bà; A thấp phạ yết ba, Át thấp ma yết

bà, A thâu ma kiệt bà.

Cũng gọi Thạch tạng, Thai tạng, Xử tạng.

Loại đá ngọc màu đỏ, 1 trong 7 thứ báu

vật.

Điều Mã não trong Tuệ lâm âm nghĩa

quyển 27 (Đại 54, 483 hạ), nói: “Át thấp ma

yết bà, Hán dịch là Xử tạng, hoặc gọi là Thai

do nghĩa bền chắc của nó; gọi là Mã não là

vì nó có màu sắc như óc ngựa”.

Tuệ uyển âm nghĩa quyển thượng và

Huyền ứng âm nghĩa quyển 22 đều gọi là

Mã não, nhưng riêng Huyền ứng âm nghĩa

quyển 21 thì lại cho là Mã não cùng loại với

Hổ phách. Còn các bộ tự điển gần đây thì

phần nhiều dịch chữAzmagarbhalà đá

Kim cương.

[X. Huyền ứng âm nghĩa Q.24]. (xt. Thất

Bảo).

MàNHĨ BA (1012-1097)

Tạng:Mar-pa.

Cao tăng Tây tạng, người La lạp cách

(Tạng:Lho-brag), Nam Tạng, là tổ khai sáng

của phái Ca nhĩ cư (Tạng:Bka#-brgudpa),

trong Phật giáo Tây tạng.

Lúc còn nhỏ, sư lễ ngài Bát xá tinh làm

thầy, nhưng đến năm 15 tuổi thì ông thân

sinh đưa sư đến xin làm đệ tử ngài La khắc

di (Tạng:Fbrog-mì). Vì muốn trở thành vị

tăng dịch kinh nên sư chuyên tâm học tiếng

Phạm và du học Ấn độ. Sau khi trở về Tây

tạng, sư lại đến Nepal ở 3 năm. Trong thời

gian này, sư cố gắng học tập các loại Đát đặc

la (Phạm:Tantra). Lại nhờ sự chỉ dẫn của

ngài Phan đạt phạ đề ca (Phạm:

Paiịđapàtika) ở Nepal, sư tôn ngài Na lạc

ba (Tạng:Nà-ro-pa) làm thầy, được ngài

trực tiếp trao truyền các nghĩa bí mật như:

Hô kim cương (Phạm:Hevajra), Thành tựu

pháp, Cứu cánh thứ đệ (Phạm:Utpanna-

Krama) v.v… Ngoài ra, sư và ngài Kiệt nhã

na cát lỗ ba (Phạm:Jĩànagarbha) là giáo

thụ sư Đại thừa, cùng học Đát đặc la của

Tập hội bí mật (Phạm:Guhyasamàja), rồi

MàNHĨ BA

 

M

3038

sư lại được ngài Na lạc ba giảng dạy cho các

nghĩa bí áo như: Đăng tác minh (Phạm:

Pradìpodyotana-nàma-ỉìkà), cho đến Đại

huyễn luân (Phạm:Mahàmàyà-cakra).

Sau khi thành tựu việc học, sư trở về

Tây tạng sáng lập phái Ca nhĩ cư. Sau, sư

nghe danh tiếng ngài Di đặc lợi (Phạm:

Maitrì), sư lại đến Ấn độ học giáo pháp

Đại thủ ấn (Phạm:Mahàmudrà và chứng

được trí trực quán. Sau khi về nước, sư lại

đến Nepal tìm cầu các bậc danh sư học được

các giáo nghĩa. Trên đường trở về quê

hương, sư

mộng thấy

ngài Sa la

ha (Phạm:

Saraha)

truyền cho

nghĩa bí

mật, sư

liền phát

sinh chân

trí và tỏ

ngộ “toàn

thế giới là

nhất vị”.

Năm 1097 sư thị tịch, thọ 86 tuổi. Đệ tử

nối pháp là Mật lặc nhật ba (Tạng:Mi-laras-

pa).

[X. J.Bacot: La Vie de Marpa; G.N.

Roerich: The Blue Annals, 2 vols.; S.C.Das:

Pag Sam Jon Zang; Ch.Bell: The Religion of

Tibet (Kiểu bản Quang bảo dịch: Lạt ma

giáo Tây tạng)].

MàNHĨ SƠN

Phạm: Azvakarịa.

Là 1 trong 9 núi, 1 trong 7 núi vàng theo

thế giới quan của Ấn độ thời xưa. Vì hình

dáng của núi giống như tai ngựa nên gọi là

Mã nhĩ sơn.

(xt. Cửu Sơn Bát Hải).

MàSƯ

…..

I. Mã Sư.

Tức là Thiền sư Đạo nhất ở tỉnh Giang

tây, đời Đường, Trung quốc, vì ngài họ Mã

nên gọi Mã tổ, cũng gọi Mã sư, Mã đại sư.

[X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.6]. (xt.

Mã Tổ Đạo Nhất).

II. Mã Sư.

Phạm:Azvajit.

Hán dịch: Mã thắng.

Là 1 trong 5 vị tỉ khưu được đức Phật

hóa độ đầu tiên tại Lộc dã.

[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3]. (xt. Mã

Thắng).

III. Mã Sư.

Phạm: Azvaka.

Hán âm: A thuyết ca.

Cũng gọi Mã túc.

Một trong đám 6 tỉ khưu(Lục quần tỉ

khưu) thời đức Phật còn tại thế, thường kết

bè đảng làm các việc xấu ác.

(xt. Lục Quần Tỉ Khưu).

MàTẾ

…..

Phạm: Azvamedha.

Cũng gọi Mã từ, Mã tự, Mã từ tế.

Một pháp tế Tô ma của Bà la môn giáo

Ấn độ, giết ngựa làm vật dâng cúng nên gọi

là Mã tế.

Hai vị thần chính được hưởng Mã tế là

Sinh chủ (Phạm:Prajàpati) và Nhân đà la

(Phạm:Indra). Pháp tế này bắt đầu từ thời

đại Phệ đà, do các giáo sĩ Bà la môn làm chủ

tế, nhưng về sau thì chỉ có Quốc vương mới

đủ tư cách cử hành lễ tế này.

MàTHẮNG

Phạm:Azvajit.

Pàli:Assaji.

MàTHẮNG

Mã Nhĩ Ba

 

M

3039

Cũng gọi Mã sư, A thuyết thị.

Đệ tử của đức Phật, là 1 trong 5 vị tỉ

khưu được Phật hóa độ đầu tiên ở vườn Lộc

dã. Ngài có thân tướng uy nghi đoan chính,

ai cũng thích nhìn.

Ngài Xá lợi phất mới đầu tu theo pháp

ngoại đạo, một hôm gặp ngài Mã thắng ở

thành Vương xá, thấy thân tướng trang

nghiêm của ngài, ngài Xá lợi phất sinh tâm

kính ngưỡng, liền hỏi ngài Mã thắng thờ

ai làm thầy và giáo pháp thế nào. Ngài

Mã thắng nói là đệ tử của đức Phật và

đọc bài kệ duyên sinh do đức Phật dạy

cho ngài Xá lợi phất nghe, nghe xong, ngài

Xá lợi phất liền tỏ ngộ và theo ngài Mã

thắng về tinh xá Trúc lâm qui y đức Phật,

sau thành vị đệ tử trí tuệ bậc nhất của

Phật.

[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Phật

bản hạnh tập Q.25, 34, 48; luận Đại tì bà sa

Q.129].

MàTÒA

…..

Phạm: Azva-àsanama.

Tòa ngồi bằng hoa sen đặt trên lưng ngựa.

Ngựa là con vật được quí trọng và tượng

trưng cho điềm tốt lành ở thế gian, cho nên

trong các loại tòa ngồi thì Mã tòa thuộc về

Bảo bộ, là tòa ngồi của đức Bảo sinh Như

lai phương Nam. Ngoài ra, bồ tát Mã minh

trong Mã minh bồ tát nghi quĩ do ngài Kim

cương trí dịch và Nhật thiên trong Thập nhị

thiên của Mật giáo cũng đều ngồi trên loại

tòa này.

(xt. Ngũ Bộ Tòa).

MàTỔ ĐẠO NHẤT (709-788)

………..

Thiền sư Trung quốc, sống vào đời

Đường, người Hán châu (huyện Quảng hán,

tỉnh Tứ xuyên ngày nay), họ Mã, người đời

gọi là Mã đại sư, Mã tổ, tên Đạo nhất, là đệ

tử nối pháp của ngài Nam nhạc Hoài

nhượng.

Sư có dung mạo rất kì dị, đi như trâu,

nhìn như hổ, lưỡi thè ra đưa lên đến mũi,

dưới bàn chân có 2 đường vân tròn như 2

bánh xe. Sư theo Hòa thượng Đường(tức

ngài Xử tịch) ở Tư châu xuất gia và y vào

Luật sư Viên ở Du châu thụ giới Cụ túc.

Khoảng năm Khai nguyên, sư đến học

tập Thiền pháp Tào khê nơi ngài Hoài

nhượng, khế ngộ tông chỉ và được truyền

tâm pháp. Lúc đầu, sư trụ ở núi Phật tích

tại Kiến dương, không bao lâu, sư lại dời

đến ở núi Nam khang và núi Cung công

tại Lâm xuyên. Năm Đại lịch thứ 4 (769),

sư trụ ở chùa Khai nguyên tại Chung lăng

(huyện Tiến hiền, tỉnh Giang tây), lúc này

người học qui tụ đông đảo, hóa duyên rất

thịnh. Sư dùng yếu chỉ “Bình thường tâm

thị đạo”, “Tức tâm thị Phật” để phát huy

thiền phong. Đệ tử đạt đạo có tới 139

ngườinhư các vị: Báchtrượng Hoài hải,

Nam tuyền Phổ nguyện, Đại mai Pháp

thường v.v…

Lúc Thiền tông ở giai đoạn sơ khai thì

các vị Thiền tăng đều phải ở tạm trong các

viện Luật, chưa có cơ sở riêng, nên không

thuận tiện cho việc tham thiền, bởi thế ngài

Mã tổ mới sáng lập các tùng lâm để các Thiền

tăng có nơi yên tâm tu tập, nhờ vậy mà tông

môn ngày càng được mở rộng.

Thiền phái của sư phát triển rất mạnh,

gọi là tông Hồng

châu. Vì sư xiển

dương Thiền phong

hệ Nam nhạc ở

Giang tây, cũng gọi

Giang tây Thiền,

cho nên sư nổi tiếng

và người đời gọi là

“Giang Tây Mã

Tổ”. Tháng giêng

năm Trinh nguyên

MàTỔ ĐẠO NHẤT

Mã Tổ Đạo Nhất

 

M

3040

thứ 4 (788), sư lên núi Thạch môn ở Kiến

xương, lúc kinh hành trong rừng, sư phó

thác mọi việc rồi thị tịch, thọ 80 tuổi, vua

Hiến tông nhà Đường ban thụy hiệu “Đại

Tịch Thiền Sư”.

Sư có tác phẩm: Mã tổ Đạo nhất thiền

sư quảng lục.

[X. Tống cao tăng truyện Q.10; Cảnh đức

truyền đăng lục Q.6; Truyền pháp chính tông

kí; Ngũ đăng hội nguyên Q.3].

MàTỔ ĐẠO NHẤT THIỀN SƯ QUẢNG LỤC

Tác phẩm, 1 quyển, do Thiền sư Mã tổ

Đạo nhất soạn vào đời Đường, được thu vào

Tứ gia ngữ lục quyển 1 trong Vạn tục tạng

tập 119.

Nội dung sách này thu chép về lược

truyện của ngài Mã tổ, công án Ma chuyên

(mài gạch)của ngài Hoài nhượng và các cơ

duyên vấn đáp giữa ngài Mã tổ và các đệ

tử: Tây đường Trí tạng, Bách trượng Hoài

hải, Nam truyền Phổ nguyện, Đại châu Tuệ

hải v.v… Những yếu ngữ dạy chúng, nêu

lên ý chỉ “Bình thường tâm thị đạo”; bình

thường tâm là tâm không tạo tác, không

thị phi, không thủ xả, không đoạn thường,

không phàm thánh.

Ngoài ra, còn có Mã tổ Đạo nhất thiền

sư ngữ lục 1 quyển, cũng gọi là Đại tịch thiền

sư ngữ lục, Mã tổ ngữ lục, được thu vào Cổ

tôn túc ngữ lục quyển 1 trong Vạn tục tạng

tập 118, là sao chép lại phần hành nghiệp

và các cơ duyên ngữ cú của ngài Mã tổ trong

bộ Quảng lục mà thành.

MàUYỂN

…..

Chỉ cho chùa Bạch mã ở đời Hán, tương

truyền là ngôi chùa xưa nhất tại Trung quốc.

Khoảng năm Vĩnh bình (58-75) đời vua

Minh đế nhà Đông Hán, 2 ngài Nhiếp ma

đằng và Trúc pháp lan, người Ấn độ, dùng

ngựa trắng(bạch mã) mang kinh Phật từ Tây

vực đến Trung quốc, vua Minh đế ban lệnh

xây cất tinh xá ở phía ngoài cửa Tây ung

thành Lạc dương, đặt tên là chùa Bạch mã

để các ngài Nhiếp ma đằng và Trúc pháp

lan ở đó dịch kinh. Lịch sử Phật giáo Trung

quốc bắt đầu từ đây.

(xt. Bạch Mã Tự).

MàVƯƠNG KẾ

Chỉ cho túi tóc(kế)trên đỉnh đầu của

các vị Minh vương Hàng tam thế, Đại uy

đức, Phẫn nộ tôn v.v… trong Mật giáo.

Khi con ngựa hí thì lông bờm của nó

dựng ngược lên, lọn tóc trên đỉnh đầu của

các Minh vương cũng giống như thế nên

gọi là Mã vương kế, là biểu thị nghĩa phẫn

nộ.

[X. phẩm Đại kim cương diệm khẩu hàng

phục nhất thiết ma oán trong kinh Du kì].

MẠC

Cũng gọi Mạn mạc, Trướng duy.

Màn trướng, tức là 1 tấm vải dài dùng để

trang trí hoặc để ngăn chia không gian. Màn

may dọc là “mạn”, màn may ngang gọi là

“mạc”.

Kinh Đà la ni tập quyển 3 nêu ra 21 loại

vật cúng dường, trong đó, loại thứ 7 là Bảo

trướng(trướng báu). Trong các kinh điển,

danh từ màn trướng thường được nói đến,

như kinh Quán vô lượng thọ nói (Đại 12,

343 thượng): “Màn báu trên Bảo chàng,

giống như cung trời Dạ ma”.

Ngoài ra, cứ theo điều Thiên hóa trong

Bách trượng thanh qui quyển 3 thì gian

trên, gian giữa và gian dưới của Pháp đường

đều có giăng màn và bày hương hoa đèn

nến v.v… Ngày nay, trong các lễ hội, màn

thường được dùng để ngăn che phía trước

và 2 bên cạnh của Phật đường.

MẠC

 

M

3041

MẠC CHÍNH HI (1899-1986)

Cư sĩ Phật giáo Trung quốc , người Trung

sơn, tỉnh Quảng đông. Năm Dân quốc 25

(1936), ông qui y pháp sư Từ hàng, được đặt

pháp danh là Tịnh hi. Ông tinh thông quốc

học và kính tin Phật pháp.

Ông qua đời vào tháng 12 năm Dân quốc

75 (1986), thọ 88 tuổi.

Ông có các tác phẩm: Kinh kì tập, Kiến

tính thành Phật, Kinh kì tạp tập; Lăng

nghiêm thiển thích.

MẠC DA KIẾM

Cũng gọi Mạc tà kiếm.

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Vốn là 1 loại kiếm nổi tiếng đời xưa do 2

vợ chồng anh thợ đúc kiếm người nước Ngô

(có thuyết cho là người nước Sở hoặc nước Hàn)

tên là Mạc da và Can tương làm ra. Hai vợ

chồng người thợ danh tiếng này hợp lực giúp

vua Ngô Hạp lư đúc 2 thanh kiếm âm và

dương, kiếm dương gọi là Can tương, kiếm

âm gọi là Mạc da. Trong Thiền lâm, kiếm

Mạc da được dùng để chỉ cho trí tuệ xưa

nay sẵn có của chính mình, hoặc trí kiến

bát nhã của bậc thầy chỉ dẫn người học 1

cách tự do tự tại.

Tắc 9, Bích nham lục (Đại 48, 149 thượng),

nói: “Gương sáng trên đài, đẹp xấu tự rõ,

kiếm Mạc da trong tay, sống chết tùy thời”.

MẠC HA DIỄN THÍCH

Cũng gọi Mạc hạ diên thích.

Chỉ cho Đại mạc(sa mạc lớn) là từ ghép

chung Phạm và Hán. Tức là sa mạc Gobi,

xưa gọi là Sa hà(sông cát).

Cứ theo Cao tăng Pháp hiển truyện và

Từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển

1, thì sa mạc này dài hơn 800 dặm, trên

không có chim bay, dưới không có thú chạy,

cây cỏ không mọc được vì không có nước,

là vùng đất mà các nhà truyền giáo thủa

xưa phải trải qua khi truyền Phật pháp sang

phương Đông.

(xt. Qua Bích).

MẠC QUI HƯƠNG KÊ

Bài kệ do Thiền sư Mã tổ Đạo nhất (709-

788) đời Đường cảm tác khi ngài về thăm

lại quê hương.

Sau khi được Thiền sư Nam nhạc Hoài

nhượng truyền tâm pháp cho, ngài Mã tổ

Đạo nhất đến vùng Giang tây hoằng dương

tông chỉ của Thiền, chủ trương “tâm bình

thường là đạo”, “tâm tức là Phật”, cùng với

ngài Thạch đầu Hi thiên hoằng pháp ở vùng

Hồ nam, được xem là 2 viên ngọc quí của

Thiền lâm thời bấy giờ.

Một hôm, ngài Mã tổ trở về thăm làng

quê ở tỉnh Tứ xuyên, người làng rất vui mừng

đón tiếp, nhưng có 1 bà già biết ngài từ lúc

còn nhỏ lại nói (Vạn tục 135, 454 hạ):

“Tưởng ai xa lạ, thì ra là thằng nhỏ con nhà

họ Mã làm nghề đan nia!”

Ngài Mã tổ nghe được than rằng: “Ở quê

nhà khó truyền Phật pháp”, rồi làm bài kệ

để khuyên mọi người:

“Khuyên ông chớ về làng

Về làng khó hành đạo

Bà già ven dòng suối

Gọi tên ta thủa nào!”

(Khuyến quân mạc hoàn hương

Hoàn hương đạo bất thành

Khê biên lão bà tử

Hoán ngã cựu thời danh).

Sau đó, ngài liền trở về Giang tây.

Nhưng có thuyết cho rằng bài kệ này là

của ngài Nam nhạc làm và tặng ngài Mã

tổ, khi Mã tổ trên đường về quê ghé thăm

lễ bái vấn an, nhưng lời kệ có thêm bớt

chút ít.

MẠC QUI HƯƠNG KÊ

 

M

3042

[X. chương Mã tổ Đạo nhất trong Ngũ

gia chính tông tán Q.1; Chính pháp nhãn

tạng hành trì thiên Q.hạ].

MẠC VỌNG TƯỞNG

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Tiếng hét làm cho người khác đừng khởi

lên vọng tưởng. Là lời nói nghiêm khắc để

ngăn chặn ý thức chấp trước phân biệt. Nếu

không khởi vọng tưởng thì có thể ngay đó

được quả bồ đề. Dụng ngữ này thịnh hành

trong chốn Thiền lâm Trung quốc ở đời

Đường.

Chương Trường sa Cảnh sầm trong

Cảnh đức truyền đăng lục quyển 10 (Đại

41, 275 hạ), chép: “Có vị tăng hỏi: Con giun

đứt làm 2 khúc, 2 đầu đều ngọ ngoạy, không

biết tính Phật ở đầu nào?

Sư đáp: Tưởng bậy làm gì!(Vọng tưởng

tác ma!)”

Liên đăng hội yếu quyển 6 cũng chép

hệt như thế, nhưng câu sau cùng thì ghi:

“Chớ tưởng bậy!(Mạc vọng tưởng!)”.

[X. Phần dương Vô đắc thiền sư ngữ lục

Q.trung; Ngũ tổ Pháp diễn thiền sư ngữ lục

Q.trung; Cảnh đức truyền đăng lục Q.18].

MẠCH TÍCH SƠN

……..

Núi ở cách huyện Thiên thủy, tỉnh Cam

túc, Trung quốc, 46 cây số về phía đông nam.

Núi này từ lâu đã bị lãng quên, mãi đến

năm Dân quốc 41 (1952) mới được người

ta biết tới. Hình dáng núi rất đặc thù, cao

hơn 140 mét, đỉnh núi tròn, dốc thẳng

xuống, trông giống như đống lúa ở thôn

quê, cho nên gọi là Mạch tích sơn(núi đống

lúa). Trong núi có suối rừng đẹp đẽ, là

Thánh cảnh thâm u, tịch mịch ở khu Tây

bắc Trung quốc. Qua các thời đại, nhiều vị

Thiền tăng đã vào đây tĩnh tu, như cácngài

Huyền cao, Đàm hoằng v.v…

Các bậc Đế vương thời Bắc triều thích

đến sườn núi này để tạo tượng, khắc kinh,

nhưng niên đại tạo khắc không thể khảo

xét được, chỉ ước tính bắt đầu vào khoảng

cuối thời kì 16 quốc gia, đến các thời Bắc

Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Chu đều có các kiến

tạo rất qui mô. Rồi đến các đời Tùy,

Đường, Tống cũng không ngừng mở rộng,

qua các đời Minh, Thanh thì các việc tu

bổ cũng rất được quan tâm. Về thời gian

kiến tạo thì chỉ kém các hang động ở Đôn

hoàng mà thôi, nhưng do những trận động

đất và gió mưa xói mòn, nên bộ phận ở

giữa bị cắt lìa, những hang đá thì chia

thành 2 sườn Đông và Tây. Đề tài ghi được

khắc trên đá sớm

nhất hiện còn là bài

văn phát nguyện tạo

tượng của ông

Trương bá nguyên,

được khắc vào năm

Cảnh minh thứ 2

(501) đời vua Tuyên

vũ nhà Bắc Ngụy.

Ngoài ra, vẫn còn

194 chỗ khắc hang

khám và ma nhai rải

rác ở 2 sườn Đông và

Tây.

Đỉnh núi có ngôi tháp hình 8 góc 5 tầng,

chân núi phía đông có chùa Thụy ứng, vì

núi đá này không thích hợp cho việc điêu

khắc, nên phần lớn các tượng đều được

đắp bằng đất. Các hang đá và ma nhai

phần nhiều đã đổ nát, nhưng trong các

hang vẫn còn 1 nghìn pho tượng đắp bằng

đất, được tạo từ thời Bắc Ngụy đến Bắc

Tống. Còn ở sườn núi phía đông,thì Niết

bàn nhai, Thiên Phật lang, Tán hoa lâu,

Thất Phật các, Ngưu nhi đường v.v… trông

rất đẹp; trong đó, Thiên Phật lang còn 258

pho trong số 1 nghìn pho tượng ngồi đắp

bằng đất, cũng có tượng đắp đất cao tới

MẠCH TÍCH SƠN

Tượng khắc trên bia ở động

thứ 133 (đời Tây Ngụy)

 

M

3043

6,15 mét. Ở giữa sườn núi phía tây, có

Vạn Phật đường, trên mặt vách có tượng

Hiền kiếp thiên Phật được tạo lập vào các

thời đại từ Bắc Ngụy trở về sau, trên xà

ngang và các cửa có khắc tượng người cúng

dường và sơn thủy khắc nổi, rất tiếc là

phần lớn đã bị bóc trộm mất. Mặt tây của

Vạn Phật đường có tượng Tam tôn đứng

khắc vào sườn núi rất lớn, hang nhỏ ở

phía trên có các bức bích họa thời Bắc

Ngụy, đẹp ngang với bích họa ở động đá

Đôn hoàng, trong đó có bức vẽ Xả thân

cho hổ đói.

Quần thể động đá ở núi này và động đá

chùa Bỉnh linh ở huyện Vĩnh tĩnh cũng

thuộc tỉnh Cam túc, đều được tìm ra từ sau

chiến tranh thế giới lần thứ 2.

MAI NGUYÊN CHÂN LONG (1885-1966)

Học giả Phật giáo Nhật bản, tốt nghiệp

Đại học Long cốc. Ông từng là viên chức

chủ chốt trong Khuyến học liêu đầu và Hiển

chân học uyển.

Ông có các trứ tác: Thán dị sao giảng

nghĩa, Giác như thượng nhân, Chân tông

đề yếu, Văn thư tuyển sao, Nhất thừa chi

đạo, Giáo hành tín chứng tân dịch, Mai

nguyên soạn tập 35 quyển.

MAI QUANG HI (?-?)

Học giả Phật giáo Trung quốc, thuộc tông

Pháp tướng, sống vào khoảng đầu năm Dân

quốc, tự là Hiệt vân.

Cả cuộc đời, ông dốc sức vào việc nghiên

cứu Phật học. Ông từng đến tinh xá Kì hoàn

theo học ông Dương nhân sơn và có tình

đồng môn với ông Âu dương tiệm, đối với

môn Pháp tướng Duy thức học ông nghiên

cứu rất sâu. Năm Dân quốc 20 (1931), ông

công bố bài khảo luận: “Tướng tông tân cựu

lưỡng dịch bất đồng luận”(bàn về 2 bản dịch

mới và cũ khác nhau của Tướng tông), trong

đó, ông chỉ ra rằng, các ngài Bồ đề lưu chi

và Chân đế là các nhà dịch cũ, còn ngài

Huyền trang là nhà dịch mới; điểm này rất

được giới Phật học đương thời chú ý.

Ông có các tác phẩm: Tướng tông cương

yếu, Tướng tông cương yếu tục biên, Tướng

tông sử truyện lược lục, Pháp uyển nghĩa

lâm chương Duy thức chương chú, Đại thừa

tướng tông thập thắng luận.

MAI TỬ THỤC DÃ

Hạt(giống)mai chín rồi.

Tên công án trong Thiền tông.

Nội dung công án này là ngữ yếu của

Thiền sư Mã tổ Đạo nhất đời Đường ấn khả

cho đệ tử nối pháp là sư Đại mai Pháp

thường.

Cảnh đức truyền đăng lục quyển 7(Đại

51, 254 hạ), chép: “Thiền sư Đại tịch nghe

tin sư ở núi, bèn sai 1 vị tăng đến hỏi rằng:

Hòa thượng yết kiến Mã đại sư được cái

gì mà đến trụ ở núi này?

Sư đáp: Mã sư nói với ta là tức tâm tức

Phật, ta liền đến ở đây.

Vị tăng nói: Gần đây Phật pháp của Mã

đại sư lại khác rồi.

Sư hỏi: Khác thế nào?

MAI TỬ THỤC DÃ

Động đá ở núi Mạch Tích

 

M

3044

Vị tăng đáp: Gần đây lại nói phi tâm phi

Phật.

Sư nói: Lão già ấy làm mê loạn người ta

mãi không thôi, mặc cho ông ta nói phi tâm

phi Phật, còn ta đây chỉ cốt tức tâm tức Phật.

Vị tăng ấy về bạch lại với ngài Mã tổ, Tổ

nói: Đại chúng! Hạt mai chín rồi!”(mai tử

thục dã).

Nhưng Tống cao tăng truyện quyển 11 và

Tổ đường tập quyển 15 thì cho rằng “Mai tử

thục dã” là lời bàn của ngài Diêm quan Tề

an, đồng môn với ngài Đại mai Pháp thường.

MẠI TĂNG

Cũng gọi Đọa lạc tăng.

Tăng buôn bán, chỉ cho các ông tăng ở

trong chốn Thiền lâm mà còn theo việc kinh

doanh, thương mãi. Về sau, từ ngữ này được

dùng để chỉ cho hạng tăng chỉ biết dua nịnh

người khác để cầu tiếng tăm, lợi dưỡng chứ

không có đạo tâm.

MẠN

..

Phạm,Pàli: Màna.

Tức là tâm tự phụ, so sánh sự cao thấp,

hơn kém, tốt xấu v.v… giữa mình với người

khác rồi cậy mình hơn mà khinh miệt người,

là 1 trong 46 tâm sở theo tông Câu xá và 1

trong 51 tâm sở theo tông Duy thức. Mạn

có rất nhiều loại:

Luận Đại tì bà sa quyển 43 và luận Câu

xá quyển 19 nêu 7 loại mạn:

1. Mạn: Đối với người kém mình thì cho

mình là tài giỏi hơn; còn đối với người ngang

bằng mình, thì lại cho mình là không thua

kém mà sinh tâm kiêu căng ngạo mạn.

2. Quá mạn (Phạm:Ati-màna): Người

ngang bằng mình thì lại ương ngạch cho rằng

mình vượt hơn; còn người ta hơn mình thì

ngang ngược bảo họ bằng mình.

3. Mạn quá mạn (Phạm: Mànàtimàna):

Người ta hơn mình thì ngược lại

cho mình hơn người ta.

4. Ngã mạn(Phạm:Àtma-màna): Là

gốc nguồn của 7 mạn. Trong thân do 5 uẩn

giả hòa hợp, chấp trước có ta (ngã), của ta

(ngã sở), rồi cậy ta mà sinh ra ngạo mạn.

Bên trong chấp có ta, thì tất cả mọi người

không ai bằng ta; bên ngoài chấp có cái của

ta, thì phàm là cái của ta đều có giá trị cao

hơn cái của những người khác.

5. Tăng thượng mạn (Phạm: Adhimàna):

Chưa chứng được quả vị mà tự nhận

mình đã chứng đắc.

6. Tị mạn (Phạm:Ùna-màna): Đối với

người tài đức vượt trội, thì tự cho mình chỉ

kém hơn người ấy chút ít; hoặc tuy thừa nhận

người ấy hoàn toàn cao hơn, mình thực sự

thấp kém, nhưng dứt khoát không chịu hạ

mình học tập người ta.

7. Tà mạn (Phạm: Mithyà-màna):

Chẳng có đức hạnh gì mà lại tự khoe mình

là có.

Còn 8 loại mạn thì gồm: Mạn, Đại mạn,

Mạn mạn, Ngã mạn, Tăng thượng mạn, Bất

như mạn, Tà mạn và Ngạo mạn.

Luận Câu xá quyển 19 thì căn cứ vào

luận Phát trí quyển 20 mà nêu ra 9 loại mạn:

1. Ngã thắng mạn loại: Đối với người

bằng mình thì sinh tâm quá mạn mà cho

mình hơn người.

2. Ngã đẳng mạn loại: Đối với người

bằng mình mà sinh khởi tâm mạn cho rằng

“Tôi bằng người ấy”(nghĩa là không thua kém).

3. Ngã liệt mạn loại: Đối với người vượt

hơn mình, sinh tâm ti mạn “Tôi kém cỏi”.

4. Hữu thắng ngã mạn loại: Đối với

người vượt hơn mình, sinh khởi tâm ti mạn

“người ấy hơn tôi”.

5. Hữu đẳng ngã mạn loại: Đối với

người bằng mình, sinh khởi tâm mạn “người

ấy và tôi bằng nhau”.

6. Hữu liệt ngã mạn loại: Đối với người

bằng mình, sinh khởi tâm quá mạn “người

MẠN

 

M

3045

ấy kém tôi”.

7. Vô thắng ngã mạn loại: Đối với người

bằng mình, sinh khởi tâm mạn cho rằng

người ấy chưa chắc đã vượt hơn mình.

8. Vô đẳng ngã mạn loại: Đối với người

bằng mình mà sinh tâm quá mạn cho rằng

người ấy kém hơn mình.

9. Vô liệt ngã mạn loại: Đối với người

hơn mình nhiều phần mà sinh tâm ti mạn

cho rằng mình chỉ kém người ấy ít phần v.v…

Chín loại mạn này gồm trong 3 loại là

Mạn, Quá mạn và Ti mạn trong 7 mạn ở

trên. Tức là Ngã đẳng mạn loại, Hữu đẳng

ngã mạn loại và Vô thắng ngã mạn loại thuộc

về Mạn; Ngã thắng mạn loại, Hữu liệt ngã

mạn loại và Vô đẳng ngã mạn loại thuộc về

Quá mạn; còn Ngã liệt mạn loại; Hữu thắng

ngã mạn loại và Vô liệt ngã mạn loại thì

thuộc về Ti mạn.

Luận Phẩm loại túc quyển 1 có giải thích

rõ về 9 mạn, trong đó, nêu ra trường hợp

của “Ngã thắng mạn”, cho rằng Ngã thắng

mạn là từ Mạn, Quá mạn và Mạn quá mạn

mà ra, đây là do căn cứ vào quán “cảnh”

kém, bằng và hơn mà phân biệt: Nếu quán

“cảnh kém” mà cho mình là hơn, đó là Mạn;

nếu quán “cảnh bằng” mà bảo mình hơn,

đó là Quá mạn; còn nếu quán “cảnh hơn”

mà bảo là mình hơn thì đó là Mạn quá mạn.

Còn 8 mạn kia cũng có thể suy đây mà biết.

Trong Phạm võng Bồ tát giới bản sở

quyển 5, ngài Pháp tạng nêu ra 10 loại mạn

là: Thông minh, thế trí, cao quí, kì niên(cao

tuổi), đại tính(dòng họ lớn), cao môn(nhà

cửa cao sang), giải(hiểu biết), phúc, phú(giàu

có)và bảo(của báu).

Pháp hoa kinh luận quyển hạ lại đem 7

ví dụ trong kinh Pháp hoa phối với 7 loại

Tăng thượng mạn. Ngoài ra, vọng hoặc của

tâm kiêu mạn, gọi là Mạn hoặc, là 1 trong

10 hoặc lớn; tự mạn mà phát ra nơi tâm, gọi

là Mạn cử.

[X. luận Đại tì bà sa Q.49, 50; luận Câu

xá Q.4; luận Thành duy thức Q.4; Câu xá

luận quang kí Q.4, 19; Ma ha chỉ quán Q.5

thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.6,

phần cuối].

MẠN CHÀNG

…..

Cây cột phướn dựng ở trước chùa, dùng

để ví dụ cho tâm kiêu mạn.

Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 355 trung), nói:

“Lễ bái vốn để bẻ gãy mạn chàng, tại sao

đầu không đặt sát đất”.

MẠN ĐA LA CHÚ THUẬT KINH

Tên 1 bản kinh của ngoại đạo, do 1 người

tiên nói, được ghi trong kinh Tự tại vương

bồ tát quyển hạ.

MẠN ĐÀ CÁT NI TRÌ

Mạn đà cát ni, Phạm:Mandàkinì.

Cũng gọi Ma đà diên trì, Mạn đà kì ni

trì, Mạn na cát nễ trì, Mạn đà chỉ ni trì, Ma

na ma trì.

Hồ Mạn đà cát ni, 1 trong 7 cái hồ nước

ở núi Hi mã lạp sơn.

Cứ theo phần chú thích từ câu 673 đến

câu 688 trong kinh Trưởng lão kệ (Pàli:

Thera-gàthà) Nam truyền, thì ngài A nhã

kiều trần như từng trụ ở khu rừng Lục nha

(Pàli: Chaddanta) gần hồ này trong 12 năm,

được các con voi cúng dường. Trước khi

nhập diệt, Ngài đến tinh xá Trúc lâm bái

yết đức Phật, rồi trở về nơi này nhập tịch.

Nhất thiết kinh âm nghĩa quyển 41 cho

rằng, Mạn đà cát ni là hồ tắm của vua

rồng và voi chúa. Còn kinh Khởi thế và

luận Lập thế a tì đàm đều nói hồ này nằm

về phía bắc núi Đại tuyết, là hồ tắm của

voi chúa Thiện trụ. Nhưng theo ý kinh

mà suy thì Mạn đà cát ni phải là hồ tắm

của chưthiên.

MẠN ĐÀ CÁT NI TRÌ

 

M

3046

MẠN ĐÀ LA HOA

Mạn đà la, Phạm:Màndàra, Màndàrava,

Mandàraka.

Cũng gọi Mạn đà lặc hoa, Mạn na la hoa,

Mạn đà la phạm hoa, Mạn đà la phàm hoa.

Hán dịch: Thiên diệu, Duyệt ý, Thích ý,

Tạp sắc, Viên, Nhu nhuyến thanh, Khuých,

Bạch.

Tên khoa học: Erythrina indica (Coral

tree) hoặc Calotropis gigantea.

Loại cây hoa mọc ở Ấn độ, là rất rậm

rạp và xanh tốt, hoa nở vào tháng 5 và

khoảng tháng 6, 7 thì kết trái. Đây là loại

thực vật thuộc giống Mã lợi cân, hoa dùng

để dâng cúng thần Thấp bà.

[X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; kinh

A di đà; Pháp hoa nghĩa sớ Q.2 (Cát tạng);

Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].

MẠN ĐỒ LA

Phạm: Maịđala.

Tạng:Dkyil-#khor.

Cũng gọi Mạn đà la, Mạn tra la, Mạn

noa la, Mãn đồ la, Mãn noa la.

Hán dịch: Đàn, Đàn tràng, Luân viên cụ

túc, Tụ tập.

Một khu vực được vạch ra theo hình tròn

hoặc hình vuông để đề phòng ác ma xâm

nhập khi tu pháp bí mật của Mật giáo. Hoặc

cái nền (đàn) đắp bằng đất trên đó vẽ các

tượng Phật, Bồ tát, tu pháp xong thì xóa bỏ

các hình tượng. Bởi thế, trong khu vực Mạn

đồ la thường được xem là có rất nhiều Phật

và Bồ tát, nên cũng gọi là Tụ tập, Luân viên

cụ túc. Trong luật cũng có những trường

hợp làm Mạn đồ la để ngăn ngừa những

việc bất tịnh.

Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì

Mạn đồ la có nhiều nghĩa: Theo nghĩa Luân

viên cụ túc thì các vị tôn vây quanh đức Đại

nhật Như lai của Phổ môn để giúp sức Ngài

làm cho chúng sinh tiến thẳng vào Phổ môn;

theo nghĩa phát sinh thì Mạn đồ la có công

năng nuôi dưỡng hạt giống Phật để sinh ra

quả Phật(Phật thụ vương). Lại vì chữ Phạm

Maịđanghĩa là tinh chế sữa bò thành phó

mát(đề hồ), cho nên Mạn đồ la còn bao hàm

ý nghĩa diệu vị vô thượng, không mùi vị nào

sánh kịp, tượng trưng cho sự vi diệu thuần

tịnh của quả Phật. Nhưng Mật giáo đời sau

thì cho rằng ý nghĩa chính của Mạn đồ la là

tụ tập, cũng tức là nơi cư trụ của chư Phật,

Bồ tát, Thánh nhân.

Tại Ấn độ, Mạn đồ la thường được đắp

bằng đất, hoặc làm bằng gỗ, trên đó vẽ hình

tượng các vị tôn, tu pháp xong thì xóa bỏ.

Nhưng Trung quốc và Nhật bản thì thường

dùng giấy hoặc vải lụa để vẽ hình các vị tôn.

Mạn đồ la của Đông Mật Nhật bản là chỉ

cho Mạn đồ la của 2 bộ(tức Mạn đồ la của 2

giới): Mạn đồ la Kim cương giới và Mạn đồ

la Thai tạng giới; còn Thai Mật thì dùng

Tạp mạn đồ la của pháp Tô tất địa. Về cách

vẽ hình Mạn đồ la của 2 bộ thì vì kinh và

nghi quĩ có khác nhau nên hình vẽ cũng bất

đồng, hình vẽ Mạn đồ la hiện nay đang lưu

hành, gọi là Hiện đồ mạn đồ la.

Mạn đồ la có 4 loại, gọi là Tứ chủng Mạn

đồ la, Gọi tắt là Tứ mạn. Theo kinh Kim

cương đính thì 4 loại Mạn đồ la là:

1. Đại mạn đồ la(Tôn hình Mạn đồ la):

Bức vẽ các vị tôn với đầy đủ dung mạo tướng

hảo, tương đương với hội Thành thân của

Mạn đồ la Kim cương giới.

2. Tam muội da mạn đồ la: Bức vẽ hình

Tam muội da của các vị tôn, tức là hình

những vật cầm tay của chư tôn như: Gậy,

dao, gươm v.v… hoặc hình những ấn tướng

tượng trưng cho bản thệ của các vị tôn, tương

đương với hội Tam muội da.

3. Pháp mạn đồ la(chủng tử mạn đồ la):

Bức vẽ của các chủng tử và chân ngôn của

các vị tôn, hoặc viết chữ Phạm của các chủng

MẠN ĐÀ LA HOA

 

M

3047

tử ở vị trí của chư tôn, hoặc dùng tam ma

địa của Pháp thân và văn nghĩa của tất cả

kinh luận, tương đương với hội Vi tế.

4. Yết ma mạn đồ la: Bức vẽ về những

uy nghi sự nghiệp và các hình tượng được

tạo thành đúng theo uy nghi sự nghiệp của

các vị tôn, tương đương với hội Cúng

dường.

Bốn loại Mạn đồ la trên đây, mỗi loại lại

gồm có 3 thứ Mạn đồ la, đó là:

1. Đô hội(Đô môn, Phổ môn) mạn đồ la:

Các vị tôn nhóm họp ở 1 chỗ, như 2 bộ

Mạn đồ la lấy Đại nhật Như lai làm Trung

tâm.

2. Bộ hội mạn đồ la: Các vị tôn chia ra

từng bộ, như Phật đính mạn đồ la của Phật

bộ, Thập nhất diện Quan âm mạn đồ la của

Liên hoa bộ.

3. Biệt(Nhất môn)mạn đồ la: Lấy 1 vị

tôn làm trung tâm, như Thích ca mạn đồ la,

Như ý luân mạn đồ la.

Theo kinh Đại nhật thì tất cả các Mạn

đồ la có thể được qui vào 3 thứ thân bí

mật là:

1. Tự: Pháp mạn đồ la.

2. Ấn: Tam muội da mạn đồ la.

3. Hình: Đại mạn đồ la.

Ba thân này mỗi thân đều có đầy đủ uy

nghi sự nghiệp, gọi là Yết ma mạn đồ la.

Bốn loại Mạn đồ la tuy tròn đầy muôn đức

nhưng đều qui về một và vượt ra ngoài

tương đối, gọi là Thể đại mạn đồ la, đầy đủ

các tướng sai khác, gọi là Tướng đại mạn

đồ la, đầy đủ nghiệp dụng của Tam mật,

gọi là Dụng đại mạn đồ la. Bốn loại Mạn

đồ la thu nhiếp hết tất cả tướng trạng tồn

tại, cho nên đối lại với Lục đại thể đại và

Tam mật dụng đại mà gọi đó là Tứ mạn

tướng đại.

Ngoài ra, còn có thuyết 3 loại Tứ mạn

đồ la.

1. Tự tính hội tứ mạn: Nói về đời

quá khứ thì Thánh chúng tập trung trong

hội thuyết pháp của Pháp thân Đại nhật

Như lai.

2. Thế gian trụ trì tứ mạn: Nói về đời

vị lai thì là ảnh tượng và các bức vẽ.

3. Hành giả tu thành tứ mạn: Nói về

đời hiện tại thì là hành giả Du già.

Còn Tứ mạn và Tứ trí ấn(Tứ ấn: Đại

trí ấn, Tam muội da trí ấn, Pháp trí ấn, Yết

ma trí ấn)thì thể là 1 mà tên khác nhau;

hoặc Tứ mạn là chung cho cả hữu tình và

vô tình, còn Tứ ấn thì chỉ có ở hữu tình

mà thôi. Lại có thuyết cho rằng Tứ mạn từ

Thể mà đặt tên, còn Tứ ấn là đối với Dụng

mà đặt tên.

Mạn đồ la Kim cương giới (Kim cương

giới, Phạm:Vajra-dhàtu) cũng gọi Quả mạn

đồ la, Trí mạn đồ la, Tây mạn đồ la, Nguyệt

luân mạn đồ la, là những bức tranh được vẽ

theo kinh Kim cương đính, biểu trưng Trí

pháp thân của đức Đại nhật Như lai. Đông

Mật Nhật bản sử dụng Cửu hội mạn đồ la

hình thành từ 9 hội; còn Thai Mật thì sử

dụng Mạn đồ la của Nhất hội là hội Thành

thân. Cửu hội mạn đồ la là thuyết Tùy nghi

của Ấn độ. Biểu đồ như sau:

Bị chú:Những chữ trong ngoặc đơn là tên

gọi khác.

Hiện đồ mạn đồ la có tất cả 1461 vị

tôn. Sáu hội từ hội Yết ma trở xuống tương

đương với 6 Mạn đồ la: Kim cương giới

MẠN ĐỒ LA

………

Hội Lý Thú

(Hội Tát Đỏa)

(Hội Phổ Hiền)

Tây

Đông

Nam Bắc

. . . . . . . . .

Hội Hàng Tam

Thế Yết Ma

(Hội Hàng Tam Thế)

. . . . . . . .. Hội Hàng Tam Thế

Tam Ma Da

………

Hội Yết Ma

(Hội Thành Thân)

(Hội Căn Bản)

………

Hội Tam Ma Da

(Hội Yết Ma)

………

Hội Vi Tế

(Hội Yết Ma)

. . . . . . . . .

Hội Nhất Ấn

………

Hội Cúng Dường

(Hội Đại Cúng

Dường)

………

Hội Tứ Ấn

 

M

3048

Đại mạn đồ la, Đà la ni mạn đồ la, Vi tế

kim cương mạn đồ la, Nhất thiết Như lai

quảng đại cúng dường yết ma mạn đồ la,

Tứ ấn mạn đồ la và Nhất ấn mạn đồ la

được nói trong phẩm Kim cương giới của

kinh Kim cương đính. Còn kinh điển y cứ

của 3 hội còn lại (tức 7, 8, 9) thí không có

thuyết nhất định.

Mạn đồ la Kim cương giới vốn là 1 hội

Thành thân, còn 9 hội thì là sự tập hợp của

9 thứ Mạn đồ la. Về nghĩa của đồ tướng thì

Kim cương là biểu thị thể của trí tuệ Bồ đề

bền chắc không hư nát, lại có công năng

phá dẹp tất cả. Còn thứ tự sắp xếp đồ tướng

thì đứng đầu là hội Yết ma và sau cùng là

hội Hàng tam thế tam muội da; đây là biểu

thị ý nghĩa Như lai khởi tác dụng hóa tha

chỉ dạy chúng sinh, là môn hạ chuyển “tứ

quả hướng tới nhân”. Bốn hội từ hội Yết

ma trở xuống đến hội Cúng dường là biểu

thị cho Tứ mạn, hội Tứ ấn biểu thị nghĩa

Tứ mạn không lìa nhau, hội Nhất ấn thì

biểu thị nghĩa Tứ mạn là 1 thực tướng tuyệt

đối dung nạp cả 6 đại. Sáu hội trên là Mạn

đồ la của Tự tính luân thân trong Tam luân

thân. Hội Lí thú là Mạn đồ la của Chính

pháp luân thân Kim cương tát đỏa, biểu thị

tướng dục, xúc, ái, mạn. Còn hội Hàng tam

thế yết ma và hội Hàng tam thế tam muội

da thì biểu thị nghĩa đối với những chúng

sinh ương ngạnh, cứng đầu khó dạy, thị hiện

ra Minh vương Hàng tam thế của Giáo lệnh

luân thân với tướng mạo phẫn nộ dữ tợn,

khiến chúng phải khuất phục.

Ngoài ra, từ hội Hàng tam thế tam muội

da hướng ngược lên đến hội Yết ma là biểu

thị thứ tự tu hành của Bồ tát theo giai vị

thuận, tức là theo môn thượng chuyển “từ

nhân đến quả”. Hội Hàng tam thế tam muội

da là tượng trưng nghĩa dùng cung tên đại

bi bắn vào kẻ oán địch là vô minh, phát

khởi thệ nguyện thượng cầu bồ đề hạ hóa

chúng sinh, cho đến hội Yết ma là biểu thị ý

nghĩa Đại nhật Như lai(tức thân Yết ma) đã

hoàn thành đầy đủ mọi uy nghi sự nghiệp.

Đồ tướng biểu thị hội Yết ma(hội Thành

thân)trong 9 hội là ở chính giữa vẽ 1 vòng

tròn lớn, trong vòng tròn này vẽ 5 nguyệt

luân, nguyệt luân ở giữa an trí Đại nhật Như

lai và 4 bồ tát Ba la mật, còn các nguyệt luân

ở 4 phương thì an trí 4 vị Phật và 16 vị Đại

bồ tát thân cận. Ngoài ra, còn vẽ 8 vị bồ tát

Cúng dường(4 vị bên trong, 4 vị bên ngoài), 4

Nhiếp bồ tát, 1.000 đức Phật kiếp Hiền, 20

vị trời của Kim cương bộ ngoài, 4 vị Đại

thần v.v…

Mạn đồ la Kim cương giới chia làm 5 bộ:

Phật bộ(lí trí đầy đủ, giáo đạo viên mãn), Kim

cương bộ(trí), Bảo bộ(phúc đức), Liên hoa

bộ(lí)và Yết ma bộ(tác dụng hóa tha). Năm

đức Phật: Đại nhật, A súc, Bảo sinh, A di đà

và Bất không thành tựu là bộ chủ của 5 bộ

trên. Vì 4 đức Phật(trừ Đại nhật Như lai) là

do 4 vị bồ tát Ba la mật(4 bồ tát thân cận của

Đại nhật)xuất sinh ra, cho nên 4 vị Bồ tát

này được gọi là Bộ mẫu.

Mạn đồ la Thai tạng giới (Thai tạng giới,

Phạm:Garbha-dhàtu) cũng gọi Nhân mạn

đồ la, Lí mạn đồ la, Đông mạn đồ la, Đại bi

mạn đồ la, biểu thị Lí pháp thân của Đại

nhật Như lai, là căn cứ vào kinh Đại nhật

mà được vẽ ra. Hình vẽ của Mạn đồ la này

có nhiều loại như: Kinh sớ mạn đồ la, A xà

lê sở truyền mạn đồ la, Thai tạng cựu đồ

dạng, Thai tạng đồ tượng, Hiện đồ mạn đồ

la v.v… Còn các bộ viện và sự bài trí các vị

tôn cũng đều khác nhau.

Truyền thuyết cho rằng Hiện đồ mạn

đồ la là do vị tăng người Nhật bản tên là

Huệ quả vẽ và lập 13 viện lớn, nhưng trong

Bí tạng kí của sư Không hải–cũng là vị tăng

Nhật bản– bỏ bớt 4 viện, chỉ còn 12 viện.

Sau lại bỏ bớt viện Tô tất địa mà còn 11

viện lớn. Hiện đồ mạn đồ la đang lưu hành

ở Nhật bản gồm có 12 viện lớn, biểu đồ

như sau:

MẠN ĐỒ LA

 

M

3049

Hình vẽ Mạn đồ la trên đây biểu thị

nghĩa hiển bày cái đứcnhân sẵn có của chúng

sinh, cũng tức là hạt giống tâm bồ đề nhờ

thai mẹ(tức Thai tạng) muôn hạnh đại bi

nuôi nấng cho đến khi thànhquả Phật. Từ

Phật bồ đề tự chứng thị hiện thân thai Đại

nhật trong Bát diệp, từ đức của Đại nhật thị

hiện ra chư tôn từ lớp thứ 1 đến lớp thứ 4,

đây đều là tượng trưng cho từng phần đức

của Đại nhật. Trong đó, hình vẽ của viện

Bát diệp là: Đại nhật Như lai ngồi trên đài

hoa sen 8 cánh ở chính giữa(Trung đài bát

diệp), trên mỗi cánh hoa an trí 1 vị tôn: Phật

Bảo sinh ở phương đông, Phật Khai phu hoa

vương ở phương nam, Phật Vô lượng thọ ở

phương tây, Phật Thiên cổ lôi âm ở phương

bắc, bồ tát Phổ hiền ở đông nam, bồ tát Văn

thù ở tây nam, bồ tát Quan âm ở tây bắc và

bồ tát Di lặc ở đông bắc. Trên đây, Đại nhật

Như lai biểu thị Pháp giới thể tính trí, 4 vị

Phật biểu thị 4 trí(Đại viên kính trí, Bình

đẳng tính trí, Diệu quan sát trí, Thành sở tác

trí), 4 vị Bồ tát biểu thị 4 hạnh(Bồ đề, Phúc

đức, Trí tuệ, Yết ma).

Mạn đồ la Thai tạng giới được chia làm

3 bộ: Phật bộ, Kim cương bộ và Liên hoa

bộ. Ở trong tâm chúng sinh thì biểu thị cho

3 đức Đại định, Đại trí và Đại bi là thực

tướng của 3 vọng chấp: Thô vọng chấp, Tế

vọng chấp và Cực tế vọng chấp. Viện Trung

đài và 6 viện Đông Tây tương đương với

Phật bộ; viện Quan âm và viện Địa tạng ở

phương bắc tương đương với Liên hoa bộ;

viện Kim cương thủ và viện Trừ cái chương

ở phương nam tương đương với Kim cương

bộ; còn Ngoại kim cương bộ thì thuộc cả 3

bộ và gọi chung là Kim cương bộ.

Trong Thai Mật, ngoại trừ Đại nhật Như

lai ở 2 bộ, các Mạn đồ la(tức các Mạn đồ la

ngoài Mạn đồ la của Kim cương giới và Thai

tạng giới) lấy các vị tôn khác làm Trung tôn

gọi là Tạp mạn đồ la, cũng gọi Chư tôn mạn

đồ la, Biệt tôn mạn đồ la với nhiều loại khác

nhau như: Như lai, Phật đính, Chư kinh,

Quan âm, Bồ tát, Phẫn nộ, Thiên… Các vị

tôn của Mạn đồ la Thai tạng giới nhóm họp

đông đủ ở bản vị mình, gọi là Đô hội đàn

mạn đồ la, Phổ môn mạn đồ la. Trái lại,

những Mạn đồ la lấy các vị tôn như: Phật

Dược sư, Phật Di đà, bồ tát Quan âm v.v…

làm trung tâm mà kiến lập, thì gọi là Đô

ngoại biệt đàn, Biệt tôn mạn đồ la, Nhất

môn mạn đồ la.

Mạn đồ la vẽ để tu pháp Tôn thắng, gọi

là Tôn thắng mạn đồ la. Mạn đồ la lấy Minh

vương Bất động làm bản tôn, gọi là Bất

động mạn đồ la. Mạn đồ la có đặt chữ “Hột

câu lợi”, chủng tử chung của Phật Di đà và

bồ tát Quan âm vào Trung đài bát diệp

trong hoa sen nở, gọi là Cửu tự mạn đồ la.

Ngoài ra, Mạn đồ la vẽ Thánh chúng trong

hội nói kinh Pháp hoa, gọi là Kinh pháp

mạn đồ la. Mạn đồ la vẽ Tam tôn Thích ca

và các vị Tổ truyền luận Câu xá, gọi là Câu

xá mạn đồ la. Khi tu pháp, chỉ dùng hình

tượng để quán tưởng chư tôn, gọi là Đạo

tràng quán mạn đồ la. Còn như quán tưởng

tự thân là Mạn đồ la và bày xếp các vị tôn

của Mạn đồ la ở nơi tứ chi, thì gọi là Chi

phần sinh mạn đồ la. Trong Chi phần sinh

mạn đồ la, đem viện Trung đài bát diệp

của Thai tạng giới phối hợp với đầu, các

MẠN ĐỒ LA

Đông

Tây

Bắc Nam

Viện Kim Cương bộ ngoài

Viện Tô Tất Địa

Viện Văn Thù

Viện Thích Ca

Viện Hư Không Tạng

Viện Trì Minh

Viện Biến tri

Viện Địa Tạng

Viện Quan Âm

Viện Trừ Cái Chướng

Viện Kim Cương Thủ

Viện

Trung Đài

Bát Diệp

 

M

3050

nội quyến thuộc của lớp thứ 1 phối hợp

với cổ họng và tim, các Đại bồ tát ở lớp

thứ 2 phối hợp với các chỗ từ rốn trở xuống,

gọi là Tam trùng lưu hiện mạn đồ la. Ngũ

luân địa, thủy, hỏa, phong, không phối hợp

với đầu gối, bụng, ngực, mặt và chỏm đầu,

gọi là Ngũ luân thành thân mạn đồ la.

Ngoài ra, 9 hội của Kim cương giới thì phối

hợp với các chi phần trong thân thể. Khi

quán đính, Mạn đồ la được dùng trải trên

đàn để hành giả tung hoa được Phật, gọi là

Phu mạn đồ la. Còn thông thường Mạn đồ

la được dùng làm đối tượng để lễ bái cúng

dường thì gọi là Mạn đồ la cúng, gọi tắt là

Mạn cúng; khi xây cất điện đường xong,

làm lễ khánh thành, phần nhiều tu pháp

Mạn đồ la này. Mạn đồ la vẽ tướng trạng

cõi Tịnh độ của đức Phật A di đà và cung

trời Đâu suất của bồ tát Di lặc, gọi là Tịnh

độ mạn đồ la, hoặc Đâu suất mạn đồ la,

nhưng trường hợp này nên gọi là Biến

tướng. Hình vẽ nội dung thuyết kinh Pháp

hoa, gọi là Pháp hoa biến tướng và Pháp

hoa mạn đồ la. Nhưng trong Mật giáo, khi

tu kinh Pháp hoa thì có riêng Pháp hoa

mạn đồ la. Vị A xà lê truyền pháp, kiến

lập mạn đồ la để trao quán đính cho đệ tử,

gọi là Mạn đồ la a xà lê.

[X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật

Q.1; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.13; Ngũ bí

mật nghi quĩ]. (xt. Biến).

MẠN ĐỒ LA BỒ TÁT

Mạn đồ la, Phạm:Mahà-cakra.

Hán âm: Ma ha chước yết la.

Hán dịch: Đại luân.

Vị Bồ tát ngồi ở ngôi thứ nhất phía nam

hàng dưới trong viện Hư không tạng trên

Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo,

mật hiệu là Bí mật kim cương, Đại luân

kim cương, Luân viên kim cương, Tập khởi

kim cương. Vị tôn này lấy việc thành tựu

Mạn đồ la làm bản

thệ, nên gọi là bồ tát

Mạn đồ la.

Hình tượng của vị

tôn này màu đen, ngồi

trên tòa sen, mặt hiện

tướng giận dữ, tóc

dựng ngược, có 3 mắt

6 tay; tay phải thứ

nhất nắm lại đặt ở

trước ngực, cầm chày 3 chĩa, tay thứ 2 cầm

kiếm hướng về bên phải, tay thứ 3 nắm lại

thành quyền, kết ấn Tiểu kim cương luân,

đặt trên đỉnh đầu. Tay trái thứ nhất thõng

xuống hướng về bên trái, tay thứ 2 cầm bánh

xe hướng về bên trái, co ngón trỏ, cầm lấy

đầu cây chày 1 chĩa, tay thứ 3 nắm lại thành

quyền, kết ấn Tiểu kim cương luân, đặt trên

đỉnh đầu. Chủng tử là (hùô), hình Tam

muội da là bánh xe.

[X. Thanh long tự nghi quĩ Q.trung; Thai

tạng giới thất tập Q.trung; Bí tạng kí].

MẠN ĐỒ LA CHỦNG TÍNH THẬP TRỤ TÂM

Đối lại: Phổ môn vạn đức thập trụ tâm.

Mười trụ tâm hiển bày tâm bình đẳng

sẵn có của chúng sinh đồng nhất với pháp

thân. Thuộc về Hoành thập trụ tâm trong

Nhị song tứ trùng thập trụ tâm do sư Hựu

khoái người Nhật lập ra.

MẠN ĐỒ LA CÚNG

Cũng gọi: Mạn đà la cúng.

Gọi tắt: Mạn cúng.

Pháp hội cúng dường 2 bộ Đại mạn

đồ la.

Thông thường khi khánh thành pháp

đường, khai quang tượng Phật mới tạo, hoặc

kỉ niệm ngày khai sáng các chùa viện v.v…

phần nhiều cử hành pháp hội này. Khi hành

lễ, treo 2 bộ Mạn đồ la Kim cương giới và

MẠN ĐỒ LA CÚNG

Bồ Tát Mạn Đồ La

(Mạn đồ la Thai tạng giới)

 

M

3051

Thai tạng giới, rồi thỉnh vị Đại sư Cúng

dường tu chung pháp bí mật của 2 bộ.

MẠN ĐỒ LA QUÁN

Pháp quán tưởng Mạn đồ la, Bản tôn và

quyến thuộc trong Đạo tràng quán khi tu

pháp Mật giáo.

Đạo tràng quán có 3 thứ: Quảng, Trung

và Lược, đều thực hành Mạn đồ la quán.

Mạn đồ la quán nói trong các kinh và nghi

quĩ tuy có hơi khác nhau, nhưng đại khái

thì như sau:

Theo pháp Kim cương giới: Trước hết,

kết ấn Như lai quyền, kế đến, quán tưởng

đàn tràng Đại mạn đồ la trong lầu gác báu,

trên đàn có vừng trăng tròn, trên vừng trăng

có hoa sen lớn.

Theo pháp Thai tạng giới: Trước hết,

quán tưởng hoa sen và mặt trăng, trên hoa

sen quán tưởng sự biến chuyển thành chủng

tử, hình Tam muội da và hình tượng của

Bản tôn, cho đến quán tưởng Thánh chúng

quyến thuộc vây quanh.

(xt. Đạo Tràng Quán).

MẠN ĐỒ LA THÂN

Từ nơi thân thị hiện ra Mạn đồ la chư

tôn.

Theo pháp Thai tạng giới của Mật giáo,

sau khi đệ tử thụ quán đính, vị A xà lê gia

trì(chú nguyện) chữ (aô, ám) trên đỉnh

đầu của đệ tử, từ đó hiện ra Mạn đồ la chư

tôn của Thai tạng giới. Tức là quán chữ

trên đỉnh đầu là Trung thai tạng, từ chữ

sinh ra 3 lớp lửa đỏ, 1 lớp bao quanh cổ

họng, trong ánh lửa hiện ra Mạn đồ la chư

tôn lớp thứ nhất; 1 lớp lửa kế tiếp bao quanh

trái tim, hiện ra Mạn đồ la chư tôn lớp thứ

2; lớp ánh lửa sau cùng bao quanh trên rốn,

hiện ra Mạn đồ la chư tôn lớp thứ 3.

[X. Đại nhật kinh sớ Q.8].

MẠN ĐỒ LA THÔNG TAM ĐẠI

Mạn đồ la dung thông cả thể đại, tướng

đại và dụng đại.

Mạn đồ la trong Mật giáo được dùng

để miêu tả quả Phật là cảnh giới Bồ đề tròn

đầy muôn đức. Tuy nhiên, ý nghĩa và cách

dùng Mạn đồ la không phải chỉ giới hạn ở

đó, mà còn nhiều dịch ngữ khác rất thường

thấy như: Luân viên cụ túc(tròn trịa đầy

đủ), Cực vô tỉ vị(không mùi vị nào sánh kịp),

Vô quá thượng vi(mùi vị vô thượng không gì

vượt qua), Tụ tập, Phát sinh, Đàn, Đạo

tràng v.v… Thông thường, Mật giáo đem

Lục đại, Tứ mạn và Tam mật, theo thứ tự,

phối với Thể đại, Tướng đại và Dụng đại.

Nghĩa là đất, nước, lửa, gió, không, thức

(Lục đại)là nguồn gốc sinh ra các pháp,

trùm khắp tất cả pháp giới; đây gọi là Lục

đại thể đại. Đại mạn đồ la, Tam muội da

mạn đồ la, Pháp mạn đồ la, Yết ma mạn

đồ la(Tứ mạn), từ ngoại giới có thể nhận

biết tướng trạng khác nhau và trong 1 pháp

cũng đủ các tướng, cũng trùm khắp muôn

pháp; đây gọi là Tứ mạn tướng đại. Nghiệp

dụng của thân, ngữ, ý(Tam mật) tròn đầy,

trùm khắp tất cả các pháp; đây gọi là Tam

mật dụng đại.

Nhưng, theo Bí tạng kí quyển cuối thì

Tứ mạn không những chỉ phối với Tướng

đại, mà còn dung thông với cả Thể đại và

Dụng đại, nghĩa là Mạn đồ la cũng hàm có

nghĩa Tam mật viên mãn, cho nên Mạn đồ

la cũng là Dụng đại của Tam mật. Lại nữa,

Mạn đồ la là nguồn gốc sinh ra các pháp,

tức là nghĩa chữ (a) vốn chẳng sinh lục

đại thể đại, vì thế nên lấy Mạn đồ la làm

Thể đại. Thêm vào đó, Mật giáo thường nói

“Tứ mạn tướng đại” thì mỗi Mạn đồ la trong

Tứ mạn đều dung thông cả Thể đại, Tướng

đại và Dụng đại.

(xt. Tứ Mạn Tướng Đại).

MẠN ĐỒ LA THÂN

 

M

3052

MẠN ĐỒ LA TIÊN (?-?)

Phạm: Mandra.

Cũng gọi: Mạn đà la tiên.

Hán dịch: Nhược thanh, Hoằng thanh.

Danh tăng người nước Phù nam (Cao

miên xưa) sang Trung quốc dịch kinh vào

thời Nam triều.

Năm Thiên giám thứ 2 (503) đời Vũ đế

nhà Lương, sư đến Trung quốc tiến cống

kinh tiếng Phạm và tượng Phật bằng san hô.

Sau ít lâu, sư vâng sắc cùng với ngài Tăng

già bà la dịch kinh Bảo vân 7 quyển, kinh

Pháp giới thể tính vô phân biệt 2 quyển và

kinh Văn thù sư lợi sở thuyết Ma ha bát

nhã ba la mật 2 quyển.

[X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.11; truyện

Tăng già bà la trong Tục cao tăng truyện

Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.37].

MẠN ĐỒ LA TỨ LUÂN

Bốn luân: Kim, thủy, hỏa, phong làm nơi

ý cứ để tạo thành 4 loại Mạn đồ la.

Cứ theo kinh Tì lô giá na thành đạo thì

sự tu hành có thắng nghĩa đế và thế tục đế;

tu hành theo thế tục đế thì nương vào 4

luân: Kim, thủy, hỏa, phong để kiến lập Mạn

đồ la, ấy là:

1. Kim luân: Bản tôn màu vàng, ở trong

Mạn đồ la địa luân hình vuông.

2. Thủy luân: Bản tôn màu trắng, ở

trong Mạn đồ la thủy luân hình tròn.

3. Hỏa luân: Bản tôn màu đỏ, trụ ở Mạn

đồ la hỏa luân hình tam giác.

4. Phong luân: Bản tôn màu đen, trụ

trong Mạn đồ la phong luân hình bán nguyệt.

[X. Chư bộ yếu mục]. (xt. Tứ Luân).

MẠN KHANH

…..

Hố kiêu mạn, ví dụ tâm kiêu mạn như

cái hố sâu.

Ma ha chỉ quán quyển 10, hạ (Đại 46,

136 trung), nói: “Kẻ được rơi xuống hố

kiêu mạn, người thua thì đọa vào ngục ưu

sầu”.

MẠN KIẾN

…..

Đồng nghĩa: Mạn.

Tâm kiêu mạn, tự cho mình là hơn người

khác, xem những người khác thấp kém hơn

mình, là 1 trong 10 kiến.

Tông Câu xá Tiểu thừa và tông Duy thức

Đại thừa đều cho Mạn kiến là phiền não

thông cả Kiến đạo sở đoạn và Tu đạo sở

đoạn.

[X. luận Du già sư địa Q.8]. (xt. Thập

Tùy Miên).

MẠN KIM CƯƠNG

Phạm:Màna-vajra.

Cũng gọi: Kim cương mạn, Kim cương

ngạo, Ý khí kim cương, Kim cương dục tự

tại.

Vị tôn ngồi trong nguyệt luân ở phía trái

Kim cương tát đỏa, trong hội Lí thú, là 1

trong 17 vị tôn của hội Lí thú trong Mạn đồ

la Kim cương giới Mật giáo.

Cứ theo Lí thú kinh thập thất Thánh

đại mạn đồ la nghĩa thuật, thì vị Bồ tát này

dùng trí Vô quá thượng(không trí nào vượt

qua được trí này)khiến cho tất cả chúng sinh

đều chứng được Thể của Tì lô giá na Như

lai, đối với thế gian và xuất thế gian đều

được tự tại, cho nên trụ ở uy nghi ngạo mạn,

hiển hiện trí thân bình đẳng, ngã và vô ngã

đều là huyễn. Như vậy thì biết vị Bồ tát này

biểu thị cái đức hóa tha tự tại, cho nên gọi là

Mạn kim cương.

Hình tượng của vị tôn này là thân màu

vàng, 2 tay khuỳnh ra và nắm lại để ở 2 bên

bẹn, đầu hơi nghiêng về phía trái. Chủng tử

MẠN KIM CƯƠNG

 

M

3053

là (kha), hình Tam muội da là 2 ấn Kim

cương quyền.

Cứ theo Ngũ bí

mật tu hành niệm

tụng nghi quĩ, thì vị

tôn này dùng 2

Kim cương quyền

đặt ở nơi bẹn là

biểu thị ý nghĩa

thân chất ngại của

5 thức đã thanh

tịnh, khởi đại dũng

mãnh tinh tiến,

làm cho thân 5 thức của hết thảy hữu tình

đều thanh tịnh, đạt được trí Thành sở tác,

mau chóng thành Phật.

[X. Lí thú thích Q.thượng; Đại lạc kim

cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ;

Phổ hiền kim cương tát đỏa lược du già niệm

tụng nghi quĩ].

MẠN SƠN

…..

Núi Kiêu mạn, vì dụ tâm ngạo mạn cao

như núi, coi khinh tất cả mọi người.

Thích môn qui kính nghi quyển

thượng (Đại 45, 856 thượng), nói: “Núi

Mạn cao ngất, nhìn xuống người và vật,

nhà Ngã che mờ 4 phía, phủ kín trong

Kiến ái”.

MẠN SỬ

Sự sai khiến của tâm kiêu mạn, 1 trong

10 sử.

Mạn hoặc thường sai khiến thân tâm

người ta nên gọi là Mạn sử. Trong 10 sử thì

5 sử là: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến

thủ kiến, Giới cấm thủ kiến hễ động niệm

thì chúng sinh liền, tính chất của chúng rất

bén nhạy, nên gọi là Ngũ lợi sử. Trái lại, 5

sử: Mạn, Tham, Sân, Si, Nghi thì đều do

Thân kiến, Biên kiến v.v… sinh ra, vì tính

chất của 5 sử này chậm chạp, cùn lụt, cho

nên gọi là Ngũ độn sử.

MẠN THÙ

I. Mạn Thù.

Phạm: Maĩju.

Cũng gọi: Mãn nhu, Mạn nhũ.

Hán dịch: Diệu.

Gọi đủ: Mạn thù thất lợi (Phạm:

Maĩjuzrì, Hán dịch: Diệu cát tường, Diệu

đức).

Chỉ cho bồ tát Văn thù sư lợi nói trong

kinh Duy ma.

Sau khi đức Phật nhập diệt, bồ tát Mạn

thù thất lợi ra đời tại Ấn độ, tuyên dương

giáo nghĩa Đại thừa. Trong Thai tạng giới

của Mật giáo, Ngài thị hiện hình đồng tử,

gọi là Mạn thù đồng tử, Mạn thù thất lợi

đồng tử (Phạm:Maĩjuzrì Kumàrabhùta).

[X. Đại tì lô giá na kinh đại nghi quĩ

Q.trung]. (xt. Văn Thù Bồ Tát).

II. Mạn Thù(1884-1918).

Danh tăng Trung quốc, người Hương

sơn Quảng đông, nhưng sinh ở Hoành tân,

Nhật bản, vốn tên là Tô tiển, tự Tử cốc,

sau đổi là Huyền anh, hiệu Mạn thù. Mẹ

tên “Nhã tử”, người Nhật bản, cha tên là

Tô kiệt sinh, 1 thương gia người Trung

quốc.

Năm 6 tuổi sư về Lịch khê tại Quảng

đông học tiếng Anh, năm 15 tuổi sư học

trường Đại đồng ở Hoành tân, Nhật bản,

sau khi tốt nghiệp, sư vào khoa dự bị Cao

đẳng của trường Đại học Tảo đạo điền

(Wasada) ở Đông kinh, sau lại chuyển đến

trường Thành thành, từng tham gia cuộc

vận động cách mạng. Sau, sư về Thượng hải,

xuất gia ở Huệ châu. Từ đó, sư vân du khắp

vùng Đông Nam á như: Java, Ấn độ, Thái

lan, Kuala Lumpur. Sư sở trường về thi văn

hội họa, tự ví mình như 1 thi nhân. Sư theo

Trưởng lão Kiều tất ma học tiếng Phạm, sư

MẠN THÙ

Mạn Kim Cương

(Mạn đồ la Kim cương giới)

 

M

3054

từng là dịch sư của hội Phạm học và làm

chủ giảng ở tinh xá Kì hoàn.

Năm Dân quốc thứ 7 (1918) sư tịch ở

Thượng hải, hưởng dương 35 tuổi.

Sư có các

dịch phẩm:

Phạm văn

điển 8 quyển,

Phạm thư ma

đa thể văn, Sa

côn đa la,

Pháp hiển

Phật quốc kí,

Huệ sinh sứ

tây vực kí địa

danh kim

thích cập lữ

trình đồ, Ai cập cổ giáo khảo, Anh dịch yếu

tử tiên, Vô đề thi tam bách thủ, Yến tử khám

tùy bút; Bái luân thi tuyển, Bi thảm thế giới,

Văn học nhân duyên, Đoạn hồng linh nhạn

kí, Phần kiếm kí, Tô mạn thù toàn tập.

[X. Mạn thù đại sư toàn tập; Tô mạn

thù niên phổ cập kì tha].

MẠN THÙ NGŨ TỰ TÂM ĐÀ LA NI PHẨM

Gọi đủ: Kim cương đính kinh Mạn thù

thất lợi bồ tát ngũ tự tâm đà la ni phẩm.

Kinh, 1 quyển, do ngài Kim cương trí

dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính

tạng tập 20.

Nội dung nói về pháp Văn thù ngũ tự

trong nghi quĩ của Kim cương giới. Trước

hết, nêu lên công đức của pháp này, kế đến,

nói rõ về 5 chữ thần chú: A, la, bả, giả, na

và ý nghĩa của mỗi chữ; sau hết, trình bày

về công đức tụng trì đà la ni này và chỉ bày

rõ pháp yếu tu hành.

MẠN THÙ SA HOA

Mạn thù sa, Phạm:Maĩjùwaka.

Pàli:Maĩjùsaka.

Cũng gọi: Nhu nhuyến hoa, Bạch viên

hoa, Như ý hoa, Hạm hoa, Mạn thù nhan

hoa.

Loại hoa trời có màu trắng tươi, mềm

mại mà chư thiên thường rắc xuống để trang

nghiêm đạo tràng thuyết pháp. Loại hoa to

gọi là Ma ha mạn thù sa hoa, là 1 trong 4

loại hoa trời.

Trong Pháp hoa nghĩa kí quyển 1, do

ngài Pháp vân soạn vào đời Lương thuộc

Nam triều có ghi rằng: “Mạn thù sa hoa,

Hán dịch là Xích đoàn hoa(hoa tròn, màu

đỏ)”, tên khoa học là Lycoris radiata, Herb,

là loại thực vật thân thảo sống nhiều năm.

[X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; Pháp

hoa nghĩa sớ Q.2 (Cát tạng); Pháp hoa kinh

huyền tán Q.2].

MẠN THÙ THẤT LỢI BỒ TÁT CHÚ TẠNG TRUNG

NHẤT TỰ CHÚ VƯƠNG KINH

Cũng gọi Mạn thù nhất tự chú vương

kinh.

Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch

vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng

tập 20.

Nội dung kinh này nói về tác pháp thần

chú đàn tràng của đồng tử Mạn thù thất lợi

do đức Thích tôn tuyên thuyết trên cung

trời Tịnh cư cho chư Thiên nghe. Trước hết,

nêu bài chú Nhất tự “Án sất lạc hê diệm” và

thuật về công đức của bài chú; kế đến, nói

rõ về chân ngôn này và pháp cầu tài thành

tựu, pháp trừ quỉ và các chứng bệnh v.v…

MẠN THÙ THẤT LỢI CHÚ TẠNG TRUNG GIÁO

LƯỢNG SỔ CHÂU CÔNG ĐỨC KINH

…..

Cũng gọi Sổ châu công đức kinh, Giáo

lượng sổ châu công đức kinh, Mạn thù sổ

châu công đức kinh.

MẠN THÙ SA HOA

Tô Mạn Thù

 

M

3055

Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch

vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng

tập 17.

Nội dung kinh này nói về công đức trì

niệm lần chuỗi tràng hạt. Trước hết, ngài

Mạn thù sư lợi căn cứ vào các loại tràng hạt

mà nói về sự sai khác của phúc phần lợi ích,

kế đến Ngài khen ngợi công đức tối thắng

của hạt Bồ đề.

Bản dịch khác của kinh này là kinh Giảo

lượng sổ châu công đức, do ngài Bảo tư duy

dịch vào đời Đường.

(xt. Niệm Châu).

MẠN THÙ THẤT LỢI DIÊM MẠN ĐỨC CA VẠN

ÁI BÍ THUẬT NHƯ Ý PHÁP

…..

Cũng gọi Đại uy đức vạn ái pháp, Diệm

mạn đức ca vạn ái như ý pháp.

Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Nhất hạnh

soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính

tạng tập 21.

Nội dung sách này, trước hết, nói tỉ mỉ

về hình tượng 6 mặt, 6 tay, 6 chân, cỡi trâu,

kế đến nói về pháp Đồ thị sở thành tựu,

Nhất ấn chân ngôn, về địa phù, thiên phù

của Mạn đồ la và pháp thành tựu.

MẠN TRỰC LÂM

Pàli: Maddakucchi-migadaya.

Tức là khu vườn Lộc dã của Mạn đạt

khố trực (Pàli:Maddakucchi) ở thành

Vương xá.

Cứ theo Tương ứng I, 4.8 và Tương ứng

IV, 2.3 thuộc Tương ứng bộ Nam truyền,

thì tại khu vườn này đức Phật đã giẫm lên 1

mảnh đá vỡ làm chân Ngài chảy máu. Phần

chú thích trong Tương ứng I, 4.8 ghi rằng,

khu vườn này là do phu nhân Vi đề hi (Pàli:

Vedehì) kiến tạo.

[X. kinh Biệt dịch tạp a hàm Q.2].

MẠN TƯỞNG

…..

Ý tưởng kiêu mạn.

Tây phương yếu quyết thích nghi thông

qui (Đại 47, 110 thượng), nói: “Khởi tâm

cung kính, chớ sinh mạn tưởng”.

Kinh Đại bát niết bàn (bản Nam) quyển

22 (Đại 12, 753 hạ), nói: “Tâm ấy lúc đầu

không có ý tưởng kiêu mạn(mạn tưởng)”.

MẠN Y

Phạm: Paỉỉa.

Hán âm: Bát tra.

Cũng gọi: Mạn điều y, Mạn điều, Lễ sám

y.

Loại áo mặc của hàng Sa di và tín chúng

tại gia thụ trì Ngũ giới, Bồ tát giới, không có

điều tướng(hình vuông vức giống như mảnh

ruộng).

Luật Tứ phần quyển 40 chép: “Đức Phật

cho phép chúng tăng mặc áo An đà hội”

(loại mạn y, tức là tấm vải để nguyên, chứ không

cắt thành những mảnh nhỏ).

[X. luật Thập tụng Q.46; Tứ phần luật

san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần

1; Thích thị yếu lãm Q.thượng; Phiên dịch

danh nghĩa tập Q.7]. (xt. Tam Y).

MÃN CHÂU PHẬT GIÁO

Phật giáo Mãn châu.

Mãn châu tức là 9 tỉnh ở đông bắc Trung

quốc hiện nay, ngày xưa gọi là Liêu đông.

Vào đầu thế kỉ thứ IV Phật giáo đã được

truyền đến khu vực này. Cuối năm Thái

nguyên (376-396) đời vua Hiếu vũ nhà Đông

Tấn, ngài Thích đàm thủy đã đưa mấy mươi

bộ kinh luật từ Quan trung vào Liêu đông,

rồi ngài đến Cao cú li truyền bá Phật giáo,

cho mãi đến đầu năm Nghĩa hi (405-417)

đời vua An đế mới trở về Quan trung. Trước

MÃN CHÂU PHẬT GIÁO

 

M

3056

đó vào niên hiệu Vĩnh hòa năm đầu (345)

đời Đông Tấn, vua Mộ dung hoàng của nước

Tiền yên thiết lập cung Hòa long trên núi

Long sơn gần thủ đô Long thành (Triều

dương, Nhiệt hà); rồi lại xây cất chùa Long

tường ở trên núi. Đây là ghi chép sớm nhất

về tự viện Phật giáo ở Mãn châu.

Về sau, triều Bắc Ngụy chiếm lấy đất Tiền

yên, tiếp tục tạo mở các động đá Vân cương

và Long môn; vào năm Thái hòa 23 (499)

đời vua Hiến văn, lại bắt đầu mở hang đá

Vạn Phật Đường ở tả ngạn sông Đại lăng

phía tây bắc ngoại thành huyện Nghĩa, tỉnh

Liêu ninh hiện nay. Đến đời Đường thì Phật

giáo Mãn châu lại càng hưng thịnh, như

trong Sách phủ nguyên qui quyển 971 có

chép việc nước Bột hải tiến cống tượng Phật

vào thời Huyền tông và Hiến tông nhà

Đường; ngoài ra, trong kinh thành cũng phát

hiện được những di tích Phật giáo. Các triều

đại vua chúa Liêu, Kim cũng rất kính tin

Phật pháp, xây dựng nhiều chùa viện và tháp

Phật khiến cho Phật giáo phổ cập trong dân

gian. Rồi đến đời Nguyên, người Mông cổ

xâm chiếm Mãn châu, lập nên Đế quốc lớn,

đồng thời truyền Lạt ma giáo vào Mãn châu,

làm cho Phật giáo ở đây cũng chịu ảnh hưởng

phần nào, nhưng phải đợi đến đời Thanh

thì nền tảng của Lạt ma giáo tại Mãn châu

mới được củng cố và lúc đó chùa, tháp Lạt

ma giáo được xây dựng ở nhiều nơi, như

chùa Bác nhân, chùa Phổ lạc, miếu An viễn,

chùa Phổ ninh, chùa Phổ hựu, miếu Tu di

phúc thọ, miếu Phổ đà tông thừa, chùa Thù

tượng, La hán đường v.v… ở Thừa đức đều

rất nổi tiếng. Đây là những chùa miếu lớn

có cảnh quan đặc biệt, khác hẳn với lối kiến

trúc phổ thông của Trung quốc.

Ngoài ra, cứ theo ý kiến của các học giả

cận đại, thì nhà Thanh có mối quan hệ gắn

bó với Lạt ma giáo, đặc biệt vua Thái tổ triều

Thanh được xem là có quan hệ trực tiếp với

bồ tát Văn thù, vả lại, họ cũng cho rằng

Mãn châu là đất phát tích của nhà Thanh,

danh xưng Mãn châu có nguồn gốc từ tiếng

Phạm:Maĩjuzrì (Hán âm: Mạn thù sư lợi,

tức bồ tát Văn thù).

Lại nữa, cứ theo Mãn châu nguyên lưu

khảo bộ chương, thì vào những năm đầu

triều Thanh, nước Tây tạng dâng quốc thư

đến nhà Thanh đều tôn xưng là “Mạn thù

sư lợi đại Hoàng đế”. Đến nay, tuy giới học

giả chưa có kết luận hoàn toàn nhất trí về

quan điểm này, nhưng trên đại thể thì đều

thừa nhận đất Mãn châu đã có 1 nguồn gốc

Phật giáo rất sâu xa. Và nguồn gốc này cũng

là điểm then chốt khiến cho nhà Thanh tin

thờ Lạt ma giáo.

[X. Khâm định thịnh kinh thông chí;

Liêu đông chí Q.1; The Blue Annals, 2 vols.

(N.Roerich); Pag Sam Jon Zang (S.C. Das);

The Religion of Tibet (Ch. Bell)].

MÃN ĐÀ

… ..

Phạm: Bandha.

Cũng gọi Phược đà.

Nghĩa là trói buộc.

Tô tất địa yết la cúng dường pháp quyển

thượng (Đại 18, 694 thượng), nói: “Câu mãn

đà mãn đà, tức là 3 ngón của 2 tay nắm lại,

ngón út để nguyên như cũ không cử động,

thì những tai nạn ấy liền bị trói buộc”.

[X. Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật

sao].

MÃN ĐÔ KHƯ DA TỤNG

…………..

Phạm:Màịđùkya-kàrikà.

Cũng gọi Thánh truyện luận (Phạm:

Àgama-zàstra), Cao đạt phạ đạt tụng

(Phạm:Gauđapàdìya-kàrikà).

Kinh điển của học phái Phệ đàn đa

(Phạm:Vedànta) trong 6 phái Triết học

của Ấn độ, do ngài Cao đạt phạ đạt (Phạm:

Gauđapàda) biên soạn vào khoảng năm

MÃN ĐÔ KHƯ DA TỤNG

 

M

3057

640 đến 690Tây lịch.

Sách chia làm 4 chương 215 bài tụng,

đó là: Chương Thánh truyện, chương Hư

vọng, chương Bất nhị và chương Toàn hỏa

tịch tĩnh. Mỗi chương đều có những tư

tưởng và sự bố cục đặc thù, cho thấy rõ là

do tập thể sáng tác. Nhưng phần nội dung

thì đã dung nhập những giáo lí Phật giáo

như: Không quán, chủng tử Duy thức,

thuyết Nhị đế v.v… với 1 số thuật ngữ riêng

của Phật giáo và những thí dụ mà Phật giáo

quen dùng, đồng thời cũng tôn xưng người

thể ngộ chân lí là Phật.

Ngoài ra, dựa vào những quan điểm “vô

luận tránh”, “hựu hòa” mà sách này chủ

trương, cũng có thể xác định nó đã chịu ảnh

hưởng kinh Pháp hoa. Đứng trên lập trường

học thuật mà nói thì sách này là tư liệu tốt

nhất cho việc nghiên cứu về học phái Phệ

đàn đa và về ảnh hưởng của Phật giáo đối

với phái này. Về phương diện địa vị trong

hệ thống kinh điển Phệ đàn đa, thì sách này

chỉ đứng sau Phạm kinh (Phạm:Brahmasùtra)

mà thôi.

[X. Bhattacharyya: TheÀgama Zàstra

ofGauđapàda, 1943].

MÃN ĐỒ

Phạm: Maịđa.

Hán dịch: Kiên cố, Bất động, Vô đẳng

tỉ, Chu biến pháp giới.

Tức là tòa Kim cương, tòa Bồ đề.

Đại nhật kinh sớ quyển 12 (Đại 39, 709

hạ), nói: “Bấy giờ các bồ tát Kim cương liền

hiện ra các tòa Bồ đề. Nói theo ý thế gian

thì đây chỉ là chỗ ngồi, nhưng bên Ấn độ

thì gọi tòa này là Mãn đồ”.

MÃN NÊ

… ..

Phạm: Vande.

Cũng gọi: Mạn đề.

Hán dịch: Lễ bái.

Quán tự tại như ý luân bồ tát du già

pháp yếu (Đại 20, 211 hạ), nói: “Hành giả

mặt hướng về tây, lễ bái(mãn nê) Tự tại

vương, kế đến, lễ chư Phật ở các phương

khác”.

Tuệ lâm âm nghĩa quyển 36 giải thích từ

ngữ “Mãn nê Tự tại vương” như sau (Đại

54, 549 thượng): “Tiếng Phạm Mãn nê,

Trung quốc dịch là lễ bái, còn Tự tại vương

là đức Phật Vô lượng thọ”.

MÃN NGHIÊP

…..

Cũng gọi Viên mãn nghiệp, Biệt báo

nghiệp.

Đối lại: Dẫn nghiệp.

Chỉ cho các nghiệp thiện ác làm cho

chúng đồng phận của hữu tình đầy đủ và

hình lượng các căn của mỗi người đều khác

nhau.

Trong tất cả các nghiệp thiện, ác, tà,

chính mà mỗi con người tạo tác trong 1

đời, chỉ có 1 nghiệp quan trọng nhất có

năng lực mang lại quả báo đời sau sinh trong

các đường: Quỉ đói, súc sinh, người, trờiv.v…

đó là Dẫn nghiệp. Còn tất cả các nghiệp

khác thì có năng lực quyết định sự sai biệt

của quả báo như 6 căn có đầy đủ không,

thân thể khỏe mạnh hay yếu đuối, thọ

mệnh lâu hay mau và những sự giàu, nghèo,

sang, hèn khác v.v… thì gọi là Mãn nghiệp.

Ví dụ như 1 họa sĩ vẽ hình người, thì trước

hết phác họa dáng người để làm tổng thể,

việc này tương đương với Dẫn nghiệp; sau

đó mới vẽ tỉ mỉ từng bộ phận như mắt,

lông mày, tai, mũi, miệng, đẹp, xấu khác

nhau v.v…, các việc này tương đương với

Mãn nghiệp.

[X. luận Đại tì bà sa Q.19; luận Thuận

chính lí Q.43; luận Câu xá Q.17; luận Đại

thừa a tì đạt ma tạp tập Q.7]. (xt. Dẫn

Nghiệp).

MÃN NGHIÊP

 

M

3058

MÃN NGUYÊN

…..

I. Mãn Nguyện.

Nguyện vọng đã đầy đủ.

Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40,

835 trung), nói: “Danh hiệu của đức Như

lai Vô ngại quang có năng lực phá trừ vô

minh cho hết thảy chúng sinh, làm cho tất

cả ước nguyện của họ được viên mãn”.

Ngoài ra, trong thời gian dự định bao

nhiêu ngày đến nơi Thần Phật để cầu

nguyện, số ngày đã hết, gọi là Mãn nguyện

nhật.

II. Mãn Nguyện.

Gọi đủ: Mãn nguyện tử.

Chỉ cho tôn giả Phú lâu na (Phạm:

Pùrna,Pàli: Puịịa), 1 trong 10 vị đệ tử

lớn của đức Phật.

(xt. Phú Lâu Na).

MÃN NGUYÊT (? – ?)

Vị tăng dịch kinh, người Tây vực, đến

Trung quốc vào đời Đường.

Ngài tinh thông pháp môn Du già và chú

thuật. Khoảng năm Khai thành (836-840),

ngài đến Trung quốc tiến dâng hòm kinh

tiếng Phạm, muốn phiên dịch và truyền bá

những kinh điển ấy nhưng không thành tựu.

Về sau, nhận lời thỉnh của Quốc sư Ngộ đạt

Tri huyền, ngài cùng với bồ tát Phạ nhật la

Kim cương tất địa dịch lại bộ Đà la ni tập 4

quyển và kinh Phật vị Tì tuất đà thiên tử

thuyết tôn thắng 1 quyển.

[X. Tống cao tăng truyện Q.3].

MÃN NGUYÊT TÔN

Đức hiệu của Phật, vì đức của Ngài tròn

đầy không thiếu khuyết, giống như mặt trăng

tròn, nên ví dụ là Mãn nguyệt.

Vãng sinh thập nhân (Đại 48, 98 thượng),

nòi: “Nhân duyên các pháp chẳng thể nghĩ

bàn, nếu nước định lắng trong, thì tự thấy

Mãn nguyệt tôn”.

MÃN PHẦN GIỚI

I. Mãn Phần Giới.

Chỉ cho giới Cụ túc của tỉ khưu và tỉ

khưu ni, đối lại với 5 giới, 8 giới và 10 giới

của tại gia và sa di.

Chương Tuệ năng trong Cảnh đức

truyền đăng lục quyển 5 (Đại 51, 235 hạ),

nói:”Ngày mồng 8 tháng 2 đến Luật sư Trí

quang ở chùa Pháp tính lãnh thụ Mãn phần

giới”.

II. Mãn Phần Giới.

Tín đồ nam, nữ tại gia, sau khi thụ Tam

qui, lại thụ 1 giới trong 5 giới thì gọi là

Nhất phần giới; thụ 2 giới gọi là Thiểu phần

giới; thụ 3 giới, 4 giới gọi là Đa phần giới,

còn nếu thụ cả 5 giới thì là Mãn phần giới.

[X. kinh Ưu bà tắc giới Q.3].

MÃN PHẦN THANH TỊNH GIẢ

Nguyên nghĩa là chỉ cho bậc hoàn toàn

thanh tịnh, nhưng theo sự giải thích xưa nay

thì Phật là bậc Mãn thanh tịnh; Bồ tát là

bậc Phần thanh tịnh, cả Phật và Bồ tát được

gọi chung là Mãn phần thanh tịnh giả.

Luận Thành duy thức quyển 1 (Đại 31,

1 thượng), nói: “ Cúi lạy Duy thức tính, Mãn

phần thanh tịnh giả, nay con giải nghĩa ấy,

vì lợi lạc chúng sinh”.

MÃN QUẢ

…..

I. Mãn Quả.

Chỉ cho quả báo do mãn nghiệp mang

lại.

Tông kính lục quyển 50 (Đại 48, 711 hạ),

nói: “Sáu thức trước gọi là Mãn quả, vì có 1

phần riêng của nghiệp báo thiện ác mang lại

MÃN QUẢ

 

M

3059

làm cho đầy đủ”.

[X. Câu xá luận quang kí Q.6]. (xt. Mãn

Nghiệp).

II. Mãn Quả.

Chỉ cho quả vị Như lai.

Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển

thượng (Đại 44, 245 trung), nói: “Quả cũng

có 2 loại:

1. Phần quả: Vào địa vị Bồ tát.

2. Mãn quả: Thành quả vị Như lai.

MÃN TÀI TRƯỞNG GIẢ

Tên của 1 vị Trưởng giả ở Ấn độ vào

thời đức Phật còn tại thế.

Cứ theo kinh Tu ma đề nữ, thì Tu ma

đề là con gái của Trưởng giả A na bân trì

(Cấp cô độc) ở thành Xá vệ, lấy chồng là Mãn

phú thành, con trai của Trưởng giả Mãn tài.

Người con gái này đêm đêm thường niệm

Phật, giữ gìn trai giới, khiến cả nhà chồng

lìa bỏ ngoại đạo, tin thờ Phật giáo.

MÃN TÁN

… ..

Đối lại: Khải kiến.

Thời gian pháp hội đã hoàn mãn, mọi

người giải tán.

Huyễn trụ thanh qui Thánh tiết mãn tán

sớ (Vạn tục 111, 489 hạ), nói: “Mở(khải

kiến) đạo tràng Kim cương vô lượng thọ 1

tháng, hàng ngày chư tăng luân phiên nhau

lên điện Phật đọc tụng kinh văn, hôm nay

là Mãn tán”.

Tấm bảng thông báo ngày giờ mãn tán,

gọi là Mãn tán bài; những bộ kinh được đọc

tụng, gọi là Tán kinh.

[X. điều Lăng nghiêm hội, chương Tiết

lạp trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ;

điều Mãn tán tuyên sớ trong Tăng đường

thanh qui Q.3; môn Phúng xướng trong

Thiền lâm tượng khí tiên].

MÃN TÒA

… ..

Có 2 nghĩa.

1. Chỉ cho ngày cuối cùng của pháp hội.

Chữ “mãn” ở đây nghĩa là viên mãn, hoàn

mãn.

2. Cũng gọi Mãn tọa: Chỉ cho toàn số

người hiện diện. Chữ “mãn” ở đây nghĩa là

đông đủ, đầy đủ.

MÃN TÚC ĐẠI BI NHÂN

…………..

Từ tôn xưng đức Phật, tâm đại bi của

Ngài xót thương cả mọi loài.

Theo luận Đại trí độ quyển 27, so với

đức Phật thì tâm đại bi của Bồ tát nhỏ hơn.

Còn theo Quán kinh sớ phần Tán thiện

nghĩa thì đại từ bi của đức Phật đã viên mãn

cụ túc, nên gọi là Mãn túc Đại bi nhân.

MÃN TÚC NGUYÊN

……..

Bản nguyện mong cầu thành tựu tất cả

đại nguyện một cách trọn vẹn đầy đủ, là

tâm nguyện viên mãn của đức Phật A di đà,

1 trong 5 nguyện lực của Ngài.

Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại

12, 271 thượng), nói: “Đây đều là do sức

uy thần, sức bản nguyện, nguyện đầy đủ

(mãn túc nguyện), nguyện hiển bày, nguyện

bền chắc, nguyện rốt ráo của đức Phật A

di đà”.

[X. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.hạ (ngài

Tuệ viễn đời Tùy)]. (xt. Ngũ Chủng Lực).

MÃN TỰ

… ..

Chỉ cho những chữ Phạm đã trọn vẹn

(mãn) có đầy đủ nghĩa lí do các nguyên âm

(Ma đa)và phụ âm(Thể văn)kết hợp lại mà

thành.

Cứ theo điều Hồ Hán dịch kinh âm

MÃN TỰ

 

M

3060

nghĩa đồng dị kí trong Xuất tam tạng kí

tập quyển 1, thì cách cấu tạo văn tự trong

sách tiếng Phạm chia làm Bán tự và Mãn

tự. Vì Bán tự nghĩa chưa đầy đủ, cho nên

thể chữ chỉ có 1 nửa(bán), giống như chữ

“nguyệt” ( ) trong Hán văn, thiếu 1 bên;

còn Mãn tự thì lí đã rốt ráo, cho nên thể

chữ đầy đủ, giống như chữ “nhật” ( ) trong

tiếng Hán, hình chữ đầy đặn. Bởi thế, Bán

tự có nghĩa ác, lấy phiền não làm thí dụ;

Mãn tự có nghĩa thiện, lấy thường trụ làm

thí dụ.

[X. kinh Niết bàn Q.3 (bản Bắc); Pháp

hoa văn cú Q.3, hạ; Đại thừa pháp uyển

nghĩa lâm chương Q.1; Niết bàn kinh nghĩa

kí Q.4, thượng (ngài Tuệ viễn đời Tùy)].

(xt. Bán Tự Mãn Tự).

MÃN TỰ GIÁO

Giáo nghĩa viên dung đầy đủ của Đại

thừa, giống như 1 chữ Phạm đã hoàn thành,

gọi là Mãn tự giáo. Mãn tự giáo và Bán tự

giáo gọi chung là Bán Mãn nhị giáo.

Cách chia Bán Mãn nhị giáo đại khái

cũng giống như sự phân loại Tiểu thừa và

Đại thừa. Bởi vì trong tiếng Phạm, nguyên

âm(Ma đa) và phụ âm(Thể văn) còn rời

nhau thì chưa hoàn toàn thành 1 chữ, gọi là

Bán tự, khi cả 2 hợp lại để hoàn thành 1

chữ thì gọi là Mãn tự. Từ đó dẫn đến quan

điểm cho nghĩa lí Tiểu thừa giáo chưa rộng

khắp, giống như chữ chưa đầy đủ, nên gọi là

Bán tự giáo; còn nghĩa lí Đại thừa giáo tròn

đầy, giống như chữ đã hoàn thành, cho nên

gọi là Mãn tự giáo.

Cách chia Phật giáo làm 2 giáo Bán, Mãn

này đã bắt đầu từ kinh Đại bát niết bàn do

ngài Đàm vô sám dịch vào thời Bắc Lương,

về sau, đến đời Tùy, ngài Tuệ viễn ở chùa

Tịnh ảnh cũng đồng quan điểm với thuyết

này. Về vấn đề này, ngài Bồ đề lưu chi nói

rõ hơn. Cứ theo Pháp hoa huyền nghĩa

quyển 10, thượng, thì ngài Bồ đề lưu chi đời

Bắc Ngụy cho rằng, sau khi đức Phật thành

đạo, Ngài nói giáo nghĩa Tiểu thừa hữu tướng

trong 12 năm là thuộc Bán tự giáo; từ 12

năm ấy trở về sau, Ngài vì những người Đại

thừa mà nói lí không, Bát nhã vô tướng, thì

thuộc Mãn tự giáo.

[X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.10, hạ; Đại

thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1]. (xt.

Bán Mãn Nhị Giáo).

MÃN Ý (? – ?)

…..

Cao tăng Trung quốc, thuộc Luật tông,

sống vào đời Đường.

Sư là người có phong cách cao thượng,

học thức sâu rộng. Sau khi thụ giới Cụ túc,

sư chuyên tâm nghiên cứu Luật học, thông

suốt cả kinh Luận. Vào cuối những năm

Vũ đức (618-626) đời vua Cao tổ nhà

Đường, sư nghe tin ngài Pháp lệ ở chùa

Nhật quang tại Nghiệp đô soạn bộ Tứ phần

luật sớ và hoằng truyền Tướng bộ tông, sư

liền đến xin y chỉ. Sau, sư lại theo học ngài

Đạo thành ở chùa Hằng tế ở tại Trường

an, sớm hôm siêng năng học hỏi nên đã

đắc pháp.

Sau đó, sư trụ ở chùa Sùng phúc tại

Trường an, hoằng dương Luật học suốt 30

năm. Sư nổi tiếng ngang hàng với bạn đồng

môn là Luật sư Đông tháp Hoài tố, người

đời gọi sư là Tây tháp luật sư.

Đệ tử nối pháp của sư có 16 vị như: Đại

lượng, Định tân, Pháp tạng v.v…

[X. Tống cao tăng truyện Q.14; luật Tông

cương yếu Q.hạ].

MANG MANG LỤC ĐẠO

… … … ..

Sáu ngả mịt mờ.

Người ở thế gian suốt đời bận rộn, rong

ruổi ngược xuôi, mải mê danh lợi, gây bao

nghiệp ác, một khi vô thường ập đến, phải

MANG MANG LỤC ĐẠO

 

M

3061

gánh chịu nỗi khổ luân hồi sinh tử trong

6 đường.

Bài kệ trong Vãng sinh lễ tán nói (Đại

47, 440, hạ):

“Người đời bận rộn ngược xuôi.

Chẳng hay tuổi thọ vụt trôi từng giờ

Như đèn trước gió lập lờ

Sáu đường thăm thẳm mịt mờ về đâu?

Thế gian là cuộc bể dâu

Gắng công thức tỉnh ngỏ hầu thoát ra”.

MANG MÃNG KÊ BỒ TÁT

Mang mãng kê, Phạm: Màmakì.

Cũng gọi: Mang mạc kế bồ tát, Mãng

ma kế bồ tát, Ma mạc chỉ bồ tát, Mang mãng

kế bồ tát, Mang mang kê bồ tát, Mãng mạc

chỉ bồ tát, Ma ma kê bồ tát, Ma mạc kê kim

cương mẫu bồ tát, Mang mạc kế minh phi.

Hán dịch: Kim cương mẫu, Đa mẫu.

Mẹ Kim cương của tất cả chư Phật, Bồ

tát, tiêu biểu cho trí tuệ Bát nhã. Vì là mẹ

của Kim cương bộ trong Mật giáo, cho nên

các Mạn đồ la thuộc Kim cương bộ đều có

bài trí vị Bồ tát này.

Về hình tượng của vị Bồ tát này, trong

các kinh nói có khác nhau. Theo phẩm Cụ

duyên trong kinh Đại nhật, thì Ngài cầm

chày Kiên tuệ, đeo chuỗi anh lạc. Theo kinh

Bất không quyên sách quyển 9, thì Ngài ngồi

bán già, tay trái ngửa lên đặt ở dưới rốn, tay

phải cầm chày kim cương. Theo kinh Bồ đề

tràng quyển 2, thì thân Ngài màu xanh nhạt,

trang sức bằng các thứ ngọc anh lạc, ngồi

trên hoa sen, thân an tĩnh, trụ nơi tự tính

bát nhã ba la mật, tay phải cầm quyển kinh

chữ Phạm, tay trái cầm hạt châu Chân đa

trong tư thế kết ấn Thí nguyện. Chủng tử là

(tri), ở trong định Như như vô cấu, nghĩa

là các Kim cương từ định này sinh ra; hình

Tam muội da là chày 3 chẽ, tượng trưng cho

việc sinh trí tuệ kiên cố.

Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới cho

rằng, bồ tát Kim cương thủ trì kim cương

trong viện Kim cương thủ chính là vị tôn

này.

[X. phẩm Họa tượng trong kinh Nhất tự

Phật đính luân vương Q.thượng; kinh Đà la

ni tập Q.7; Đại nhật kinh sớ Q.10; Đại nhật

kinh nghĩa thích Q.7]. (xt. Kim Cương Thủ

Trì Kim Cương Bồ Tát).

MANH MINH

Đui mù, tối tăm.

Người bị phiền não vô minh ngăn che,

không thấy được chân lí, giống như người

mù không thấy các vật.

Luận Đại trí độ quyển 40 (Đại 25, 355

thượng), ghi: “Ngài Xá lợi phất nói: Nếu Thầy

ta không xuất hiện, thì chúng ta mãi mãi ở

trong chỗ mù mịt tối tăm(manh minh)”.

Kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 9 trung),

nói: “Vì tham ái tự che, nên mù mịt không

thấy đạo”.

[X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.16].

MANH NHÂN THUYẾT NHŨ

………..

Người mù nói sữa.

Người mù chấp bậy vào ấn tượng của

mình để biểu đạt sự nhận thức về màu sắc

của sữa, ví dụ ngoại đạo chấp chặt thiên kiến

của mình, vĩnh viễn không có cách gì hiểu

được chân lí Phật pháp.

Kinh Đại bátniết bàn quyển 14 (bản

Bắc) cho rằng, các ngoại đạo ngây ngô như

trẻ con, lại không có tuệ phương tiện, vì

thế khó thấu suốt được những nghĩa lí của

Phật dạy như: Thường và vô thường, ngã

và vô ngã, thực và phi thực, hữu và phi

hữu, khổ và lạc, tịnh và bất tịnh v.v… rốt

cuộc cứ bám vào mặt chữ trong kinh mà

chấp bậy là có “thường, lạc, ngã, tịnh” mà

thực thì chẳng biết chân nghĩa của “thường,

lạc, ngã, tịnh”(4 đức của Niết bàn) là gì, hệt

MANH NHÂN THUYẾT NHŨ

 

M

3062

như người mù bẩm sinh, chẳng biết màu

sắc của sữa, bèn hỏi người khác, họ bảo

sữa trắng như con sò, người mù liền cho

màu sữa như tiếng con sò phát ra; họ lại

nói sữa trắng như bột gạo, người mù liền

cho màu sữa mềm dẻo như bột gạo; họ lại

bảo sữa trắng như tuyết, người mù liền cho

màu sữa lạnh như tuyết; họ lại nói màu

sữa trắng như hạc, nhưng đến đây thì người

mù mờ mịt không biết. Tuy người mù nghe

4 cách thí dụ nhưng vẫn không làm sao

biết được màu sắc đích thực của sữa là thế

nào. Kinh Niết bàn lấy đó ví dụ cho ngoại

đạo chẳng bao giờ liễu ngộ được quả đức

Đại niết bàn “thường, lạc, ngã, tịnh” một

cách chân chính.

[X. Ma ha chỉ quán Q.5, thượng; Chỉ

quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1,

phần 3].

MANH QUI PHÙ MỘC

Rùa mù gỗ nổi.

Con rùa mù giữa biển cả, gặp được khúc

gỗ nổi, ví dụ được làm thân người, gặp Phật

nghe pháp là rất khó.

Kinh Tạp a hàm quyển 15 (Đại 2, 108

hạ), nói: “Lúc ấy, đức Thế tôn bảo các tỉ

khưu: “Ví như mặt đất biến thành biển cả,

có một con rùa mù sống vô lượng kiếp,

một trăm năm mới ló đầu ra một lần, giữa

biển có khúc gỗ nổi với 1 lỗ hổng duy nhất,

bình bồng theo chiều gió, lúc dạt sang đông,

lúc trôi sang tây, con rùa mù liệu có gặp

được cái lỗ hổng trong khúc gỗ kia mà chui

vào không? Ngài A nan thưa: Bạch Thế tôn!

Khó lắm, vì sao? Vì nếu rùa mù bơi về phía

đông thì khúc gỗ lại theo gió trôi về phía

tây, hoặc nam, bắc 4 phía xoay vòng cũng

vậy, nên khó gặp được nhau. Đức Phật bảo

ngài A nan: Rùa mù và khúc gỗ nổi tuy 2

ngã trái nhau, nhưng may ra còn có khi

gặp được, chứ phàm phu ngu si trôi dạt

trong 5 đường, cơ may được lại thân người

còn khó hơn việc rùa mù gặp gỗ nổi rất

nhiều”.

Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết

quyển 5 phần 4 (Đại 46, 303 thượng), nói:

“Được sinh làm người khó,

Gặp Phật pháp khó hơn.

Giống như giữa biển khơi

Rùa mù gặp gỗ nổi”.

Thí dụ trên đây rất nổi tiếng, thường

được nói đến trong kinh luận. Nhưng

Manh qui là chỉ cho rùa mù 1 mắt, chứ

không phải mù cả 2 mắt, cho nên phẩm

Diệu trang nghiêm vương trong kinh Pháp

hoa quyển 7 và kinh Tạp a hàm đều gọi là

Nhất nhãn qui(rùa 1 mắt). Lại có thuyết

nói 1 mắt này nằm ở bụng con rùa, nhưng

không rõ xuất xứ.

[X. kinh Chứng khế đại thừa Q.thượng;

kinh Đại thừa đồng tính Q.thượng; kinh Đại

bát niết bàn Q.23 (bản Bắc); kinh Đại bảo

tích Q.54]. (xt. Nhất Nhãn Chi Qui).

MẠNH BÀ THẦN

……..

Thần bà họ Mạnh trong truyện tích thần

thoại và truyền thuyết dân gian Trung quốc.

Tương truyền, vào đời Hán, có 1 bà già

họ Mạnh người đời gọi là Mạnh bà A nãi

tuổi thọ rất cao, suốt đời không lấy chồng.

Thủa nhỏ bà đọc sánh Nho, lớn lên thì

siêng năng tụng kinh Phật, khuyên người

đời ăn chay, không sát sinh. Bấy giờ có

người biết được nhân duyên kiếp trước,

nhận bà là họ hàng đời trước, tiết lộ âm

cơ. Thượng đế bèn ban lệnh cho bà làm

thần cõi U minh, lập quán Cháo lú, hái

các vị thuốc ở thế gian trộn lẫn thành 1

thứ nước giống như rượu, gọi là Mạnh bà

thang, chia làm 5 vị: Ngọt, đắng, chua, cay

và mặn. Mạnh bà thần đem loại nước này

cho các quỉ thần uống để quên những việc

đời trước.

MẠNH BÀ THẦN

 

M

3063

MẠNH BÁT LANG

……..

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Chỉ cho kẻ không làm việc theo đạo lí.

Mạnh nghĩa là thô lỗ; Bát lang nghĩa là

thứ lớp, hàng lối. Trong Thiền lâm, Mạnh

bát lang được sử dụng để chỉ cho kẻ thô

tháo, ngang ngược.

Chương Nam tuyền Phổ nguyện trong

Cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 (Đại 51,

257 hạ), nói: “Mạnh bát lang(kẻ thô tháo

ngang ngạnh) lại cứ như thế!”.

[X. tắc 28 trong Bích nham lục].

MẠNH CẢNH DỰC (?-?)

……..

Đạo sĩ Trung quốc, sống vào đời Nam

Tề, người quận Ngô hưng (nay là huyện Ngô

hưng, tỉnh Chiết giang).

Văn tuyên vương Tiêu tử lương từng triệu

ông đến lễ Phật, nhưng ông từ chối.

Ông có tác phẩm: Chính nhất luận(nội

dung cho rằng Phật giáo và Đạo giáo là một).

MAO ĐẠO

Phạm: Vàlapatha.

I. Mao Đạo.

Cũng gọi: Mao đoan, Mao đầu.

Tức là đầu sợi lông, ví dụ một nơi cực

nhỏ.

II. Mao Đạo.

Cũng gọi: Mao đầu.

Chỉ cho phàm phu, nghĩa là tâm hành

của phàm phu không định, giống như những

sợi lông nhẹ vật vờ bay theo gió.

Nhưng bản tiếng Phạm thì có 2 âm là Bà

la (bàla) nghĩa là ngu; Phạ la (vàla) nghĩa là

lông.

Trong kinh Kim cương bát nhã do ngài

Bồ đề lưu chi dịch, phàm phu được dịch là

Mao đạo phàm phu đây là dịch ngữ của nửa

trước từ Anh ngu phàm phu (Phạm:Bàlapfthag-

jana) đã bị truyền lầm là

Vàlapatha, nghĩa là dịch lầm Anh ngu

phàm phu ra Mao đạo phàm phu. Căn cứ

vào đây, các bản dịch khác của kinh Kim

cương cũng giải nghĩa là Tiểu nhi phàm phu

(bản dịch của ngài Cấp đa), hoặc Anh nhi

phàm phu (bản dịch của ngài Chân đế).

[X. Thành duy thức luận xu yếu

Q.thượng phần đầu; Huyền ứng âm nghĩa

Q.4; Tuệ lâm âm nghĩa Q.10].

MAO ĐẦU

I. Mao Đầu.

(xt. Mao Đạo).

II. Mao Đầu.

Cũng gọi Thế đầu hành giả.

Chức vụ của vị tăng chuyên trách việc

cạo sạch râu tóc cho đại chúng trong Thiền

lâm.

[X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng

khí tiên loại thứ 7].

MAO HUÊ TÚ (?-?)

Họa sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào

đời Nam Tề, người Dương vũ (Hà nam). Ông

đã cùng với người anh là Huệ viễn theo họa

sĩ Cố khải học vẽ, chuyên vẽ tượng Phật và

các nhân vật có thật ở đời xưa. Ông từng

theo ý trong các kinh, cất 1 ngôi điện đường

thờ các pho tượng, trong đó ông bài trí hàng

trăm tượng Phật, Bồ tát, người trời v.v… trông

hiền hòa, sống động, tinh tế, trang nhã,

những bức vẽ “biến tướng” đời sau đều

phỏng theo những tác phẩm này.

Khoảng năm Vĩnh minh (483-493) đời

Vũ đế nhà Tề, ông mất ở nhà riêng.

MAO LĂNG VÂN (1910-?)

Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người Thông

MAO LĂNG VÂN

 

M

3064

thành, tỉnh Hồ bắc, hiện là Dịch viên.

Ông tốt nghiệp Luận khoa Đại học Bắc

kinh. Ông từng giữ nhiều chức vụ trong hội

Phật giáo Trung quốc, tích cực góp sức vào

công cuộc hoằng pháp lợi sinh. Như mở

trường giảng dạy Phật học, in ấn Đại tạng

kinh v.v…

Ông có các tác phẩm: Tịnh độ tùng

thư, Tục tịnh độ thập yếu, Tịnh độ Thánh

hiền lục tứ biên, Quan âm linh cảm lục

tục biên, Niệm Phật pháp yếu, Niệm Phật

tam yếu, Tại gia giới nghi lục yếu, Khổ

hải mộng.

MAO PHƯỜNG CHỦ

Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản.

Chỉ cho người tại gia thay thế chư tăng

làm các Phật sự ở những nơi xa xôi hẻo

lánh, không có chùa cảnh và các sư hành

đạo.

MAO THẰNG

Sợi dây trói buộc thân thể làm cho sây

da, ê xương; ví dụ danh lợi thế gian trói

buộc con người, làm cho đứt nát cội gốc

công đức, khiến người ta không được giải

thoát.

[X. kinh Biệt dịch Tạp a hàm Q.7; luận

Đại trí độ Q.5].

MẠO TỬ

…..

Cũng gọi Đầu cân, Đầu tụ, Thiền cân,

Bồ tát cân.

Gọi tắt: Mạo.

Loại mũ may bằng vải hoặc lông thú của

chư tăng chít đầu vào mùa đông.

Cứ theo luật Tứ phần quyển 40 thì vào

mùa đông giá rét, đức Phật cho phép các vị

tỉ khưu dùng lông thú hoặc các loại bông để

chít trên đầu; đời sau dùng theo.

Vào thời đại Tiêu Tề thuộc Nam triều,

Trung quốc, ngài Bảo chí là người đầu tiên

đội mũ vải, đời sau gọi là Chí công mạo(mũ

ngài Bảo chí) được sử dụng rộng rãi trong

Thiền lâm.

Về kích thước may mũ(tức Chí công

mạo), cứ theo truyện Sơ sơn Quang nhân

đời Đường trong Cảnh đức truyền đăng

lục quyển 17, thì chiều dài là 1 thước 5

tấc(Tàu); còn theo điều Tống chung Thiên

đầu cân trong Thích thị yếu lãm quyển

hạ, thì toàn bộ mũ dài 5 thước 3 tấc, mặt

trước dài 2 thước 8 tấc, sau lưng dài 2

thước 5 tấc.

Các tông phái ở Nhật bản phần nhiều

sử dụng mũ Chí công, cũng gọi mũ Thát

đà, nhưng cách may có hơi khác, như tông

Tịnh độ dùng mũ hình ống tròn, mũ của

tông Nhật liên thì có hình chóp núi, còn

phái Tu nghiệm đạo thì dùng khăn gấp nếp,

nhưng tất cả đều được cải biến từ mũ Chí

công mà ra.

Ngoài ra, còn có loại mũ gọi là Thủy

quan(cũng gọi Thiền mạo tử, Ô mạo tử, tức

là loại mũ mà trên nếp gấp ở trước trán có

chữ Thủy) của Thiền tông và mũ lụa của

các tông Thiên thai, Chân ngôn, Tịnh độ

v.v… Mật tông thì dùng mũ có hình đuôi

chim én.

[X. Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi

Q.thượng; luật Tứ phần Q.41; điều Thánh

tiết trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1;

truyện Đào hoằng cảnh trong Nam sử liệt

truyện 66; môn Phục chương trong Thiền

lâm tượng khí tiên]. (xt. Phiếu Mạo).

MẠT CA TRA HẠ LA ĐÀ

Phạm: Markaỉa-hrada.

Hán dịch: Di hầu trì.

Ao ở ngoài thành Tì xá li thuộc Trung

Ấn độ đời xưa.

Huyền ứng âm nghĩa quyển 14 nói: “Mạt

MẠT CA TRA HẠ LA ĐÀ

 

M

3065

ca tra, Hán dịch là Hầu(khỉ); Hạ la đà, Hán

dịch là Trì(ao). Thủa xưa, có 1 đàn khỉ đào

cái ao này ở cạnh vườn Am la tại thành Tì

xá li để cúng dường đức Phật nên gọi là ao

Di hầu”.

Điều Phệ xá li quốc trong Đại đường tây

vực kí quyển 7 chép, cách phía tây của ao

không xa có 1 tòa tháp là chỗ ngày xưa Di

hầu lên cây lấy mật; cách phía nam ao không

xa cũng có ngôi tháp là chỗ Di hầu dâng

mật cúng Phật. Góc tây bắc ao vẫn còn tượng

Di hầu.

[X. luận Đại trí độ Q.2].

MẠT ĐÀ

I. Mạt Đà.

Phạm: Madhya.

Đơn vị chỉ số lượng của Ấn độ đời xưa,

là bội số thập phân của câu chi.

(xt. Câu Chi).

II. Mạt Đà.

Phạm: Mada hoặc Madya.

Cũng gọi Mạt đồ, Ma thâu.

Hán dịch: Tửu.

Từ ngữ gọi chung các loại rượu có nồng

độ rất mạnh, như rượu Tốt la, rượu Mê li

da v.v… tương đương với rượu nho.

[X. luận Thuận chính lí Q.38; luận Câu

xá Q.14; Huyền ứng âm nghĩa Q.23; Phiên

dịch danh nghĩa tập Q.9].

MẠT ĐÀ MA

Phạm: Madhyama.

Cũng gọi Ma đà ma.

Không chấp trước nghĩa Trung đạo.

Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 4 (Đại

54, 1126) hạ), nói: “Mạt đà ma, bản kinh

chú giải: Mạt nghĩa là không, chẳng, đừng;

Đà ma nghĩa là trung. Không chấp Trung

đạo gọi là Mạt đà ma”.

Ngoài ra, kinh Văn thù vấn quyển

thượng thì cho rằng, các pháp không hai là

Mạt đa ma.

[X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2].

MẠT ĐẠI THỤC MÊNH NIẾT BÀN

……………..

Cũng gọi Thục mệnh Niết bàn, Đối trị

vô thường Niết bàn.

Chỉ cho kinh Niết bàn.

Tông Thiên thai chủ trương: Đức Phật

thương xót những chúng sinh độn căn ở đời

mạt pháp dễ phá hủy giới pháp, sinh khởi

ác kiến(cho rằng Như lai là vô thường), đánh

mất pháp thân tuệ mệnh, cho nên trong kinh

Niết bàn đức Phật giảng nói về giới luật để

giúp đỡ cho giới môn và nói lí Phật tính

thường trụ để phù trợ cho thừa môn(giáo

thừa). Phật đồng thời nói về Giới môn và

Thừa môn như thế, tông Thiên thai gọi là

“Phù luật đàm thường”, còn kinh Niết bàn

thì chính là giáo phù luật đàm thường vậy.

Lại vì kinh này là của báu vô giá để cứu

chuộc lại pháp thân tuệ mệnh của chúng

sinh đời mạt pháp nên gọi là Mạt đại thục

mệnh Niết bàn.

[X. Pháp hoa kinh văn cú Q.10, thượng;

Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10, thượng;

Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.2, hạ;

Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng].

(xt. Phù Luật Đàm Thường).

MẠT ĐĂNG SAO

Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tòng giác,

vị tăng Nhật bản biên soạn, được thu vào

Đại chính tạng tập 83.

Nội dung sách này thu chép lại những

thư tín của ngài Thân loan, tổ khai sáng

Chân tông Nhật bản, gửi các môn đồ. Toàn

sách gồm có 22 chương được chia thành

các mục: Hữu niệm vô niệm sự, Tự nhiên

pháp nhĩ sự, Thệ nguyện danh hiệu đồng

nhất sự v.v…

MẠT ĐĂNG SAO

 

M

3066

MẠT ĐỂ

…..

Phạm:Mati.

Cũng gọi Ma đề.

Tức là tuệ, tên khác của Bát nhã.

Thành duy thức luận thuật kí quyển 6

phần cuối (Đại 43, 445 thượng), nói: “Mạt

để là tên khác của tuệ, đồng thể với Bát

nhã”.

Ngoài ra, Mạt để cũng có nghĩa là ý kiến,

kiến giải.

(xt. Bát Nhã).

MẠT ĐIỀN ĐỂ CA

Phạm: Madhyantika.

Pàli:Majjhantika.

Cũng gọi Mạt điền, Mạt điền đề, Mạt

xiển đề, Mạt điền địa, Mạt điền địa na, Mạt

điền đạc ca, Mạt đàn địa, Ma thiền đề.

Hán dịch: Trung, Nhật trung, Thủy

trung, Kim địa, Hà trung.

Vị A la hán người Đà phả la thuộc Ấn

độ, tương truyền là vị đệ tử sau cùng của

tôn giả A nan, tổ phó pháp thứ 3 của Thiền

tông Ấn độ, là 1 trong Ngũ sự vị thế.

Cứ theo Ma ha Ca diếp niết bàn nhân

duyên trong truyện A dục vương quyển 4,

khi tôn giả A nan nhập diệt thì ngài Mạt

điền thụ giới ở sông Hằng, chứng quả A la

hán.

Cứ theo Phó pháp tạng quyển 2, thì trong

số các vị đệ tử của tôn giả A nan có 2 vị là

Mạt điền đề và Thương na hòa tu được tôn

giả phó pháp tạng.

Nhưng, cứ theo kinh A dục vương quyển

7, thì đệ tử của tôn giả A nan là ngài Mạt

điền địa, còn Thương na hòa tu thì là đệ tử

của ngài Mạt điền địa. Theo đây, thì từ Tổ

Ma ha Ca diếp đến ngài Ưu bà cúc đa, thầy

trò truyền nhau tất cả có năm người, cho

nên gọi là Dị thế ngũ sư.

Về niên đại xuất thế của ngài Mạt điền

để ca có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo

Ưu bà cúc đa nhân duyên trong truyện A

dục vương quyển 3 và Hữu bộ tì nại da tạp

sự quyển 40, thì Ngài ra đời 100 năm sau

đức Phật nhập diệt. Còn theo điều Ca thấp

di la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển

3, thì Ngài xuất sinh vào năm thứ 50 sau

đức Phật nhập diệt.

Về nguyên nhân Ngài du hóa nước Ca

thấp di la, theo truyện A dục vương quyển

4, là do di chúc của tôn giả A nan. Thiện

kiến luật tì bà sa quyển 2 và Đại sử (Pàli:

Mahàvaôsa, XII) ghi rằng: Sau Đại hội

kết tập lần thứ 3, vua A dục phái các vị Đại

đức đến các nước lân cận truyền bá Phật

pháp, ngài Mạt điền địa được phái đến nước

Ca thấp di la. Tại đây, Ngài hàng phục Long

vương, rồi tuyên giảng kinh Độc thí dụ cho

dân chúng nghe, có 8 vạn người hiểu đạo và

1 nghìn người xuất gia.

[X. kinh Đạt ma đa la thiền Q.thượng;

phẩm Trì chính pháp trong kinh Đại bi Q.2;

điều Tát bà đa bộ sư tông tương thừa trong

Xuất tam tạng kí tập Q.12; điều Ô trượng

na quốc trong Đại đường tây vực kí Q.3;

Phiên Phạm ngữ Q.2].

MẠT ĐỘ CA QUẢ

Mạt độ ca, Phạm,Pàli:Madhùka.

Cũng gọi Ma đầu (Phạm,Pàli:Madhu).

Hán dịch: Mật quả.

Tên khoa học: Bassia latiforia, thuộc họ

Xích thiết.

Loại quả có vị ngọt.

Cứ theo luận Câu xá quyển 18 và Câu

xá luận quang kí quyển 18, quả Mạt độ ca

có mùi vị rất ngon, hình dáng giống như

quả táo, thân cây gần giống như cây bồ kếp,

có thể cao tới 15 mét, tán rộng hơn 3 mét.

Hoa có vị ngọt, ăn được, cũng có thể làm

rượu, hạt có thể ép lấy dầu, gỗ thì được

MẠT ĐỘ CA QUẢ

 

M

3067

dùng vào việc kiến trúc.

[X. Phiên Phạm ngữ Q.9, 10; Huyền ứng

âm nghĩa Q.24].

MẠT GIÀ LÊ CÂU XA LÊ TỬ

Phạm:Maskarì-gozàliputra.

Pàli:Makkhali-gosàlaputta.

Cũng gọi Mạt yết lị cù xà li tử, Mạt tắc

yết lợi cù xa lợi tử, Mạt già lê câu xá lê tử,

Mạt khư lê cù xa li tử.

Gọi tắt: Mạt già lê, hoặc Mạt khư lê.

Vị Luận sư ngoại đạo rất có thế lực ở

Trung Ấn độ vào thời đức Phật còn tại thế,

là 1 trong Lục sư ngoại đạo.

Mạt già lê câu xa lê tử là người chủ trương

tự nhiên luận, cho rằng sự khổ vui của con

người chẳng có nguyên nhân nào cả, mà chỉ

tự nhiên sinh ra.

Mạt già lê, cũng gọi Mạt tát yết lê, nghĩa

là thường đi; ngoại đạo này thường đi,

không đứng, nên gọi Mạt già lê. Còn Câu

xa lê là tên của người mẹ, vì thế gọi là Câu

xa lê tử.

[X. kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc);

Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.38; Chú Duy ma

cật kinh Q.3; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26]. (xt.

Lục Sư Ngoại Đạo).

MẠT GIÀ THỦY LA

Phạm:MfgazirashoặcMàrgazìrwa.

Hán âm: Ma lăng nga thi lí sa, Ma la nga

thủy la.

Hán dịch: Mạnh đông, Lộc thủ, Tuy

nguyệt.

Tên gọi tháng thứ 9 theo lịch Ấn độ,

tương đương với khoảng thời gian từ ngày

16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 10 âm lịch.

Trong tháng này, khi mặt trăng gặp sao Tuy

thì tròn, vì thế gọi là Tuy nguyệt.

Đại đường tây vực kí quyển 2 (Đại 51,

876 thượng), nói: “Ba tháng mùa thu gọi là

tháng Áp thấp phược dữu xà, tháng Ca lạt

để ca và tháng Mạt già thủy la, tương đương

với khoảng từ ngày 16 tháng 7 đến ngày 15

tháng 10 âm lịch”.

[X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.42;

kinh Tú diệu Q.thượng; kinh Ma đăng già

Q.hạ; kinh Xá đầu gián thái tử nhị thập bát

tú; luận Đại tì bà sa Q.136].

MẠT GIÁO

Gọi đủ: Trục cơ mạt giáo.

Đối lại: Xứng tính bản giáo.

Chỉ cho Tam thừa giáo và Tiểu thừa giáo

là giáo pháp chi mạt(cành ngọn), 1 trong

Nhị giáo.

Tông Hoa nghiêm chủ trương pháp môn

Biệt giáo nhất thừa của Hoa nghiêm là giáo

thuyết căn bản khế hợp với pháp tính, cho

nên gọi là Xứng tính bản giáo, còn đức Phật

vì thích ứng với căn cơ Tiểu thừa, Tam thừa

mà nói giáo pháp chi mạt, thì gọi là Trục cơ

mạt giáo. Bởi vì Tam thừa, Tiểu thừa đều từ

Biệt giáo nhất thừa mà ra. Nếu lấy cứu cánh

và phương tiện để phân biệt, thì Biệt giáo

nhất thừa là giáo cứu cánh chung cực; còn

Tam thừa, Tiểu thừa là giáo phương tiện

dẫn dụ.

[X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1].

(xt. Nhị Giáo, Bản Giáo).

MẠT HẬU NHẤT CÚ

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Một câu nói cuối cùng, tức là lời nói rất

mực được thốt ra khi đã đạt đến chỗ tột

cùng của cảnh giới đại ngộ, không có câu

hoặc lời nói nào khác có thể vượt lên được.

Chương Lạc phổ Nguyên an trong Cảnh

đức truyền đăng lục quyển 16 (Đại 51, 331

trung), chép: “Sư dạy đại chúng rằng: Một

câu sau cùng, mới đến cửa ải, bứt khóa tới

bờ, chẳng chung phàm thánh.

MẠT HẬU NHẤT CÚ

 

M

3068

[X. tắc 9, Bích nham lục; luận Vô tận

đăng Q.thượng].

MẠT HÓA

…..

Gọi đủ: Chi mạt hóa chủ.

Chỉ cho Phật Thích ca do đức Phật Lô

xá na trong thế giới Liên hoa tạng biến hóa

ra.

Kinh Phạm võng (bản 2 quyển) do ngài

Cưumala thập dịch có miêu tả tỉ mỉ rõ

ràng thế giới Liên hoa đài tạng rộng lớn

trang nghiêm, do hoa sen lớn nghìn cánh

cấu tạo nên, trong mỗi cánh hoa có 1 thế

giới, trong mỗi thế giới có trăm ức núi Tu

di, trăm ức tứ thiên hạ, trăm ức cõi Nam

diêm phù đề. Đức Phật Lô xá na là cội

nguồn của thế giới Liên hoa đài tạng, Ngài

ngồi kết già trên đài hoa sen, từ thân Ngài

lại biến hóa ra 1 nghìn Phật Thích ca, mỗi

Phật Thích ca ngồi trên 1 cánh hoa sen

trong thế giới nghìn cánh sen. Rồi nghìn

Phật Thích ca mỗi vị lại hóa ra trăm ức bồ

tát Thích ca, mỗi mỗi đều ngồi dưới gốc

cây Bồ đề ở châu Nam thiệm bộ tuyên nói

pháp môn Tâm địa của Bồ tát.

Tông Thiên thai căn cứ vào sự ghi chép

trên đây để xiển minh ý chỉ “Phật tính

thường trụ Nhất thừa” và qui nạp vào Đốn

giáo trong Ngũ thời bát giáo mà nêu ra các

thuyết 3 lớp bản mạt thành Phật, 2 lớp Bản

và Tích, bất luận nói 3 lớp hay 2 lớp, đều là

từ đối đãi bản mạt, bản tích mà lập danh.

Tức Phật Lô xá na ngồi trên đài hoa sen là

“bản”(gốc), còn thân Phật Thích ca Như lai

ngồi trên cánh hoa sen là “mạt”(ngọn), là

“tích”(dấu vết). Phật Lô xá na là nguồn gốc,

là bản thể của nghìn Phật Thích ca; nghìn

Phật Thích ca là tích dụng thùy hóa của Phật

Lô xá na.

Truyền thuật nhất tâm giới văn quyển

hạ (Đại 74, 652 thượng), nói: “Nghìn hoa

trăm nghìn ức, Lô xá na là Bản thân, 10

trọng 48 khinh, Thích ca văn là Mạt hóa”.

(xt. Phạm Võng Tam Trùng Bản Mạt,

Liên Hoa Tạng Thế Giới).

MẠT HƯƠNG

Phạm:Cùrịa.

Loại hương bột dùng để rắc lên tượng

Phật và nơi chùa, tháp.

Theo phẩm A tu la vương thụ kí trong

kinh Đại bảo tích quyển 62, thì có các loại

hương bột như: Chiên đàn, Ưu bát la, Trầm

thủy, Đa ma la bạt, A tu la v.v…

[X. phẩm Phân biệt công đức trong

kinh Pháp hoa Q.5; phẩm Phân biệt công

đức trong kinh Tô tất địa yết la Q.thượng;

luận Đại trí độ Q.93; Pháp hoa kinh huyền

tán Q.7].

MẠT KIÊN NOA

Cũng gọi Mạt kiến noa.

Quyến thuộc của Hỏa thiên.

Cứ theo phẩm Bí mật mạn đồ la trong

kinh Đại nhật quyển 5, thì Mạt kiện noa và

Cù đàm tiên đều là quyến thuộc của Hỏa

thiên.

Đại nhật kinh sớ quyển 16 (Đại 39, 744

thượng), nói: “Mạt kiện noa chính là người

tọa thiền, khi xuất định, thấy kiến bu khắp

mình, vì sợ làm tổn hại kiến nên lại nhập

định tiếp”.

MẠT KIẾP MẠT KIẾN

… … … ..

Đối lại: Bản kiếp bản kiến.

Kiến chấp phân biệt về đời vị lai. Trái

lại, kiến chấp phân biệt về đời quá khứ thì

gọi là Bản kiếp bản kiến.

Những kiến chấp sai lầm của ngoại đạo

Ấn độ đời xưa đại khái có thể chia làm 2

loại: Bản kiếp bản kiến và Mạt kiếp mạt

kiến. Trong đó, Mạt kiếp mạt kiến, theo kinh

MẠT KIẾP MẠT KIẾN

 

M

3069

Phạm động trong Trường a hàm quyển 14,

thì có 5 loại, gồm 44 kiến chấp. Đó là: Hữu

tưởng luận 16 thứ, Vô tưởng luận 8 thứ, Phi

hữu tưởng phi vô tưởng luận 8 thứ, Đoạn

diệt luận 7 thứ, Hiện tại nê hoàn luận 5

thứ. Hợp chung lại với 5 loại, 18 kiến chấp

thuộc Bản kiếp bản kiến thì tổng cộng có

10 loại, 62 kiến chấp.

[X. luận Đại tì bà sa Q.199]. (xt. Lục Thập

Nhị Kiến).

MẠT LA

…..

Phạm,Pàli:Malla.

Hán dịch: Lực sĩ.

Cũng gọi Ma la, Bà lí ti.

Một chủng tộc sống ở thành Ca thi na

kiệt, thành Ba bà v.v… về phía bắc sông

Hằng thuộc Trung Ấn độ, là 1 trong 16

chủng tộc lớn thuộc dòng Sát đế lợi ở Ấn

độ đời xưa.

Kinh Du hành trong Trường a hàm

quyển 2 (Đại 1, 24 trung), nói: “Lúc bấy giờ,

đức Thế tôn ở thành Câu thi na kiệt, giữa

khoảng 2 cây trong rừng Sa la, sắp diệt độ,

bảo A nan rằng: Ngươi vào thành Câu thi

na kiệt báo cho các Mạt la”.

[X. kinh Đại bát niết bàn Q.hạ (bản 3

quyển); Giới đàn viên kinh; Phiên dịch

danh nghĩa tập Q.2; Tuệ lâm âm nghĩa Q.12].

(xt. Ma La Quốc).

MẠT LA CỦ TRA QUỐC

Mạt la củ tra, Phạm:Malakùỉa.

Cũng gọi Chỉ mạt la quốc.

Tên một nước xưa ở cực nam bán đảo

Ấn độ, là căn cứ địa của Vương triều Phan

để á (Phạm:Pàịđya), tương đương với vùng

đất Mã đỗ lạp (Madura) và Đình ni phất

lợi (Tinnvelly) ngày nay.

Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10,

thì nước này chu vi hơn 5.000 dặm, kinh đô

rộng hơn 40 dặm, đất đai cằn cỗi, nông

nghiệp khó phát triển, nhưng bù lại, có rất

nhiều hải sản quí giá. Nhân dân xứ này tính

tình cứng cỏi, tin thờ cả tà lẫn chính, không

chuộng nghệ thuật, chỉ thích trục lợi. Nền

chùa cũ thì nhiều, nhưng chùa còn lại rất ít,

tăng đồ cũng không có bao nhiêu. Đền thờ

trời có tới vài trăm ngôi, rất nhiều ngoại đạo,

phần lớn là ngoại đạo khỏa hình. Ở phía

đông kinh đô có ngôi chùa cũ do ngài Ma hi

đà (Phạm:Mahendra) sáng lập và tháp vua

A dục. Ở bờ biển phía nam nước này có núi

Mạt lại da, trong đó có nhiều loại cây chiên

đàn sinh trưởng. Núi này thường được nói

đến trong các kinh.

[X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.68; luận

Đại trí độ Q.2; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26].

MẠT LA MẪU MA TĂNG GIÀ PHÁI

Pàli: Marammasaíghanikàya.

Cũng gọi Tiền tông, Miến điện tông phái

(Pàli: Marammanikàya).

Một chi phái thuộc Phật giáo Thượng

tọa bộ thời kì đầu ở Miến điện, được hình

thành vào cuối thế kỉ XII, chủ yếu thịnh

hành ở miền Thượng Miến điện.

Các tỉ khưu của phái này cố thủ khuôn

phép của Phật giáo Thượng tọa bộ, bài xích

giới pháp của phái Đại tự Tích lan do sư Xa

ba da (Chapaỉa) truyền thụ.

Vào năm 1180, Quốc sư Miến điện là

ngài Uất đa la kì bà (Phạm:Uttarajìva),

nhân hâm mộ nền Phật giáo Tích lan, nên

ngài hướng dẫn 1 đoàn tăng chúng Miến

điện, trong đó có sư Xa ba đa, khi ấy còn là

sa di, đến Tich lan cầu pháp. Ít lâu sau, ngài

Uất đa la kì bà cùng đoàn tùy tùng trở về

nước, chỉ còn lại sư Xa ba đa ở chùa Đại tự

(Pàli: Mahàvihàra), sau khi thụ giới tỉ

khưu, sư tiếp tục học tập trong 10 năm. Đến

năm 1190 sư trở về Miến điện. Sư không

những có kiến thức uyên bác mà còn có tài

MẠT LA MẪU MA TĂNG GIÀ PHÁI

 

M

3070

biện luận, được Quốc vương Miến điện tín

phục. Sư xây dựng 1 ngôi chùa tháp kiểu

Tích lan ở Nhượng ô (Chaugu) bắc bộ Bồ

cam, đặt tên là tháp Xa ba đa và theo giới

pháp của Đại tự mà truyền thụ giới Tỉ khưu,

chứ không tuân thủ qui định của tăng đoàn

truyền thống ở Miến điện. Do đó đã đưa

đến cuộc tranh luận trong nội bộ Phật giáo

Miến điện.

Tăng đoàn Thượng tọa bộ thuộc dòng

Mãnh tộc trước nay ở Miến điện, thấy sư

Xa ba đa được Quớc vương ủng hộ, phát

triển mau chóng, vì lo cho địa vị và tiền đồ

của bản thân, nên đã cực lực chứng minh

Phật giáo Thượng tọa bộ bắt nguồn từ luật

pháp được truyền thừa từ tăng đoàn do vua

A dục phái sang, để chống lại sư Xa ba đa

theo giới luật đổi mới của Tích lan.

Cuộc tranh luận kéo dài đến năm 1192

thì phái Phật giáo Thượng tọa bộ truyền

thống của Miến điện gọi là Tông phái Miến

điện để phân biệt với Tông phái Tích lan

(Pàli: Siôhaơanikàya) của sư Xa ba đa.

Từ đó Phật giáo Miến điện rơi vào tình trạng

phân hóa.

[X. Miến điện Phật giáo sử (Tịnh hải,

Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 83)].

MẠT LA VƯƠNG KINH

Kinh, 1 quyển, do cư sĩ Thư cừ kinh

Thanh dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào

Đại chính tạng tập 14.

Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật

khi ở nước Mạt la, đã hiển hiện sức thần

thông dời 1 tảng đá lớn nằm chắn ngang

đường, đồng thời, vì nhà vua và 9 ức dân

chúng nước ấy tuyên thuyết về sức tinh tiến,

sức nhẫn nhục, sức bố thí, sức cha mẹ v.v…

để hóa độ họ.

[X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.10; Đại đường

nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo

lục Q.5].

MẠT LẠT DA SƠN

Mạt lạt da, phạm:Malayagiri.

Cũng gọi Ma la da sơn, Ma la diên sơn,

Ma lợi sơn.

Tên dãy núi ở bờ biển phía nam nước

Mạt la củ tra (Phạm:Malakùỉa) tại cực nam

bán đảo Ấn độ.

Điều Mạt la củ tra quốc trong Đại đường

tây vực kí quyển 10 (Đại 51, 932 thượng),

nói: “Ở bờ biển phía nam nước này có núi

Mạt lại da. Núi này cao chót vót, có nhiều

hang động sâu thẳm, khe suối quanh co;

trong núi có cây bạch đàn hương, cây chiên

đàn nễ bà (Phạm:Candaneva)”. Núi này

cũng tức là núi Ma la da nói trong kinh Niết

bàn quyển 15 (bản Bắc) và kinh Đại thừa

nhập Lăng già quyển 1.

[X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.68; Tuệ

lâm âm nghĩa Q.26].

MẠT LẬT GIẢ

Phạm:Marìca.

Cũng gọi Ma lí giả.

Hồ tiêu.

Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ Bách

nhất yết ma quyển 8 (Đại 24, 491 thượng),

chép: “Đức Phật nói có 5 loại quả (…) loại

thứ 4 là Mạt lật giả(hồ tiêu). (…) Năm loại

quả này hoặc đúng giờ(ăn) hoặc không đúng

giờ, hoặc có bệnh hoặc không bệnh, đều tùy

ý được dùng”.

MẠT LỢI PHU NHÂN

Mạt lợi, Phạm,Pàli: Mallikà.

Cũng gọi Ma lợi phu nhân, Ma lợi ca

phu nhân.

Hán dịch: Thắng man phu nhân.

Phu nhân của vua Ba tư nặc, người thành

Ca tì la vệ, Trung Ấn độ, tên Minh nguyệt,

MẠT LỢI PHU NHÂN

 

M

3071

cha là Ma nạp bà, mẹ là dòng dõi Bà la môn.

Cứ theo Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển

7, sau khi cha mẹ mất, bà rơi vào hoàn

cảnh khó khăn, trôi nổi, rồi làm đầy tớ cho

ông Ma ha nam (Pàli: Mahànàma), có

lần Ma ha nam sai bà vào vườn hái hoa kết

tràng, bà làm rất đẹp, Ma ha nam hài lòng

và bảo bà hàng ngày chuyên làm công việc

này, vì thế bà lại có tên Thắng man(tràng

hoa đẹp).

Về sau, nhờ công đức cúng dường bữa

cơm cho đức Phật mà thoát khỏi thân phận

tôi đòi, trở thành phu nhân của vua Thắng

quang (tức vua Ba tư nặc (Phạm:Prasenajit))

nước Kiêu tát la, sinh ra Thái tử Ác sinh (tức

Thái tử Tì lưu li (Phạm:Viđùđabha)).

Nhưng kinh Tăng nhất a hàm quyển 26

thì cho rằng vua Ba tư nặc cầu hôn với con

gái dòng họ Thích, dòng họ Thích bèn đem

con của người tớ gái của ông Ma ha nam gả

cho vua. Còn luật Tứ phần quyển 18 thì

cho rằng Mạt lợi phu nhân vốn là đầy tớ gái

của Bà la môn Da nhã đạt ở thành Xá vệ,

tên là Hoàng đầu, thường giữ vườn Mạt lợi

(vườn Mạt la). Một hôm, đức Như lai vào

thành khất thực, bà Hoàng đầu trông thấy

tướng hảo của Phật liền sinh lòng kính tin,

dâng cơm cúng dường Ngài, cầu mong thoát

khỏi thân phận tôi tớ mà được làm phu nhân

của vua.

Về sau, gặp vua Thắng quang cùng đoàn

tùy tùng đi săn, vì trời nóng bức, nhà vua

vào vườn tránh nắng, Hoàng đầu đưa vua

đến chỗ mát, trải áo mình ra cho vua ngồi,

rồi tận tình hầu hạ vua, vua rất đẹp lòng,

biết là người thông minh nên đưa về cung

làm phu nhân. Vì Hoàng đầu được đưa từ

vườn Mạt lợi về, cho nên gọi là Mạt lợi phu

nhân.

Ngoài ra, cứ theo Thành duy thức luận

thuật kí quyển 8 phần cuối, thì con gái của

Mạt lợi phu nhân tên là Mạt lợi thất la, tức

Thắng man. Như vậy thì biết Mạt lợi phu

nhân là Hoàng hậu của vua Ba tư nặc, sinh

ra Thái tử Ác sinh và Thắng man phu nhân,

sau trở thành Vương phi nước A du xà.

[X. phẩm Thanh tín nữ trong kinh Tăng

nhất a hàm Q.3; kinh Pháp cú thí dụ Q.2;

kinh Hiền ngu Q.2; luật Tứ phần Q.16; luật

Thập tụng Q.16; luật Ma ha tăng kì Q.19;

Huyền ứng âm nghĩa Q.5]. (xt. Thắng Man

Phu Nhân).

MẠT MA

…..

Phạm: Marman.

Hán dịch: Tử tiết, Chi tiết, Tử huyệt.

Tức là chỗ hiểm yếu trên thân thể con

người mà nếu bị thương tổn 1 chút thôi cũng

có thể đưa đến tử vong.

Cứ theo Du già luận kí quyển 1 thượng,

thì thân thể con người có 64 hoặc 120 tử

tiết. Theo luận Đại tì bà sa quyển 190 và

luận Câu xá quyển 10, trong 3 đại thủy, hỏa,

phong, lúc người ta sắp chết, nếu có 1 đại tự

tăng lên mạnh mẽ, mà ngay lúc đó chạm

vào mạt ma thì toàn thân rất đau đớn, cuối

cùng dứt mệnh căn mà chết. Đây gọi là Đoạn

mạt ma.

Luận Thuận chính lí quyển 31 (Đại 29,

514 trung), nói: “Nếu thủy, hỏa, phong

duyên hợp không bình thường, chống trái

lẫn nhau, hoặc cả 3 đại, hoặc riêng từng đại,

thế lực tăng mạnh, làm thương tổn đến điểm

Mạt ma thì đau đớn vô cùng, như lấy dao

mà cắt xẻ thân thể chân tay, chỉ trong chốc

lát là bỏ thân mệnh, vì thế nên gọi Đoạn

mạt ma”.

[X. luận Câu xá Q.2; Huyền ứng âm

nghĩa Q.23].

MẠT NA THỨC

Mạt na, Phạm:Manas.

Hán dịch: Ý, Tư lương.

Thức nhiễm ô, luôn chấp thức thứ 8 A

MẠT NA

 

M

3072

lại da làm “ngã”, là thức thứ 7 trong 8 thức

tâm của loài hữu tình do tông Duy thức lập

ra. Vì để phân biệt với thức thứ 6 cũng là Ý

thức (Phạm:Mano-vijĩàna: Thức của ý)

nên dùng âm Phạm là Mạt na làm tên gọi.

Thức này tương ứng với các phiền não

ngã si, ngã kiến, ngã ái và ngã mạn, lúc nào

cũng thẩm xét, chấp trước kiến phần của

thức A lại da làm ngã và ngã sở(ta và của

ta), vì thế đặc chất của nó là “hằng thẩm tư

lương”(luôn suy lường tính toán). Lại vì thức

này là gốc của ngã chấp, nếu chấp trước mê

vọng thì tạo các ác nghiệp, trái lại, thì đoạn

trừ phiền não ác nghiệp, triệt ngộ chân lí

nhân không, pháp không, cho nên gọi là

Nhiễm tịnh thức, cũng gọi là Tư lương thức,

Tư lương năng biến thức. Hơn nữa, từ vô

thủy đến nay, thức này ngấm ngầm tương

tục, không dùng sức bên ngoài, chỉ tự nhiên

sinh khởi, cho nên tính chất của nó là “Hữu

phú vô kí”. Thức này không dẫn sinh ra quả

dị thục nhưng lại thường chướng ngại Thánh

đạo, che lấp chân tính.

Tông Pháp tướng căn cứ theo sự cạn sâu

của các giai đoạn tu hành mà lập ra 3 vị về

thức Mạt na, gọi là Mạt na tam vị. Đó là:

1. Bổ đặc già la ngã kiến tương ứng vị

(Bổ đặc già la, Phạm:Pudgala, tức là người):

Giai vị thức Mạt na duyên với thức A lại da

mà sinh khởi kiến chấp về nhân ngã. Như

tâm hữu lậu của phàm phu, Hữu học nhị

thừa và Bồ tát từ Thất địa trở xuống.

2. Pháp ngã kiến tương ứng vị: Thức

Mạt na duyên với thức dị thục thứ 8 mà

sinh khởi kiến chấp về pháp ngã. Đây là chỉ

cho hàng phàm phu, Nhị thừa và Bồ tát chưa

chứng trí pháp không.

3. Bình đẳng tính trí tương ứng vị: Giai

vị khởi Bình đẳng tính trí vô lậu, tức là Bồ

tát quán pháp không mà vào Kiến đạo, lại ở

giai vị Tu đạo sinh khởi quả trí pháp không

và quả Phật.

Trong 3 vị trên đây, 2 vị trước thuộc

hữu lậu, vị thứ 3 thuộc vô lậu. Theo luận

Thành duy thức quyển 5, thì sự tồn tại của

thức Mạt na có thể dùng 2 giáo thuyết của

kinh Nhập lăng già, kinh Giải thoát và 6

đạo lí để chứng minh. Đây gọi là “Hai giáo

sáu lí”.

Hai giáo:

1. Kinh Nhập lăng già quyển 9 cho rằng

tính tư lương gọi là Ý.

2. Theo kinh Giải thoát thì Ý nhiễm ô

cùng với các hoặc thường hằng sinh diệt.

Sáu lí:

1. Bất cộng vô minh chứng: Tác dụng

của thức thứ 6 tuy không gián đoạn, nhưng

Bất cộng vô minh(cũng gọi Độc đầu vô minh,

loại vô minh chỉ khởi một mình, chứ không tương

ứng với các phiền não khác)của phàm phu thì

không có gián đoạn mà thường tương tục,

cho nên phải có thức Mạt na.

2. Lục nhị duyên chứng: Năm thức

trước lấy 5 căn trước làm chỗ nương, lấy 5

cảnh trước làm chỗ duyên, cho nên thức thứ

6 cũng phải có thức Mạt na làm Ý căn là

chỗ nương của nó.

3. Ý danh chứng: Mạt na gọi là Ý, vì là

hằng thẩm tư lương nên nó phải thường

tồn tại.

4. Nhị định sai biệt chứng: Bậc Thánh

vào định Diệt tận có khác với các ngoại

đạo vào định Vô tưởng, vì định Diệt tận

không còn thức Mạt na, mà định Vô tưởng

thì vẫn còn.

5. Vô tưởng hữu nhiễm chứng: Tu

định Vô tưởng được sinh lên cõi trời Vô

tưởng, ở đây tuy không còn thức thứ 6

nhưng vẫn có ngã chấp, bởi thế cần phải

có thức Mạt na.

6. Hữu tình ngã bất thành chứng:

Người phàm phu làm các việc thiện như bố

thí v.v… nhưng không thể trở thành vô lậu,

không thoát li được ngã chấp, là bởi vì còn

có thức Mạt na.

[X. kinh Nhập lăng già Q.8; luận Du già

MẠT NA THỨC

 

M

3073

sư địa Q.63; luận Hiển dương Thánh giáo

Q.1; luận Thành duy thức Q.4, 5; Thành

duy thức luận xu yếu Q.hạ; Đại thừa nghĩa

chương Q.3 phần cuối].

MẠT NÔ HẠT LẠT THA

Phạm: Manoratta.

Cũng gọi Ma nâu la tha, Mạt nô hạt

lợi tha.

Hán dịch: Như ý, Tâm nguyện.

Cao tăng Ấn độ, người nước Kiện đà la,

ra đời sau đức Phật nhập diệt khoảng 1.000

năm.

Theo điều Kiện đà la quốc trong Đại

đường tây vực kí quyển 2, thì thủa nhỏ ngài

hiếu học, có tài biện luận, đạo tục đều kính

ngưỡng. Ngài từng soạn luận Bà sa.

Theo Phó pháp tạng nhân duyên truyện

quyển 6, đệ tử nối pháp của Pháp sư Bà tẩu

bàn đậu là ngài Ma nô la, làu thông 3 tạng,

từng hoằng dương Phật pháp ở Nam thiên

trúc. Mạt nô hạt lạt tha và ngài Ma nô la

này phải chăng là 1 người? Chưa có tư liệu

xác minh.

Ngài có tác phẩm: Luận Bà sa.

[X. Thành duy thức luận thuật kí Q.8;

Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện; Đại từ ân tự

Tam tạng pháp sư truyện Q.2; Câu xá luận

pháp nghĩa Q.1].

MẠT PHÁP

… ..

Phạm: Saddharma-vipralopa.

Đồng nghĩa: Mạt thế, Mạt đại.

Chỉ cho thời đại Phật pháp suy đồi, là 1

trong 3 thời kì Chính, Tượng và Mạt, tức là

giáo pháp ở đời có 3 thời kì biến thiên Chính

pháp, Tượng pháp và Mạt pháp.

Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương

quyển 6, phần đầu, căn cứ vào giáo(giáo

pháp), hành(tu hành), chứng(chứng quả) có

đầy đủ hay không đầy đủ để bàn về 3 thời

Chính, Tượng, Mạt. Nghĩa là sau khi đức

Phật diệt độ, giáo pháp ở đời, nếu nương theo

giáo pháp mà tu hành thì liền được chứng

quả, gọi là Chính pháp; tuy có giáo pháp và

người tu hành nhưng không thể chứng quả,

gọi là Tượng pháp(tượng nghĩa là tương tự).

Tuy có nhiều người lãnh thụ giáo pháp,

nhưng không tu hành chứng quả, gọi là Mạt

pháp. Đời mạt pháp cũng gọi là Mạt thế.

Thời đại mà chính pháp của Phật suy

đồi thì chúng tăng trược loạn. Trong Ngũ

trược bộ của Pháp uyển châu lâm quyển 98

(Đại 53, 1005 hạ), nói: “Sau khi đức Phật

Niết bàn sẽ có 5 thứ loạn:

1. Tỉ khưu tương lai sẽ theo bạch y(người

tại gia) để học pháp.

2. Bạch y ngồi trên, tỉ khưu ngồi dưới.

3. Tỉ khưu nói pháp không ai thực hành

vâng theo, bạch y nói pháp thì cho là không

gì hơn.

4. Tỉ khưu sinh vào nhà ma, cho pháp

thế gian là đạo đế chân chính, đối với chính

pháp của Phật thì chẳng hiểu gì, lấy dối trá

làm tin.

5. Các tỉ khưu trong tương lai nuôi dưỡng

vợ con, tôi tớ, tranh giành kiện cáo lẫn nhau,

không còn tuân theo lời Phật dạy.

Về thời hạn của 3 thời kì có nhiều thuyết

khác nhau. Có thuyết cho rằng sau khi đức

Phật nhập diệt, chính pháp trụ thế 500 năm,

tượng pháp 1.000 năm. Lại có thuyết nói

chính pháp và tượng pháp đều trụ 1.000

năm, sau đó mới đến thời kì mạt pháp; thời

kì này trải qua 10.000 năm, sau đó thì Phật

pháp diệt hết. Lại có thuyết cho rằng chính

pháp 1.000 năm, tượng pháp và mạt pháp

mỗi thời 10.000 năm. Nhưng nhìn chung

thì các kinh luận phần nhiều đều cho thời

kì mạt pháp là 10.000 năm.

[X. kinh Tạp a hàm Q.25, 32; kinh Phật

lâm niết bàn kí pháp trụ; phẩm Sơ phần

nan văn công đức trong kinh Đại bát nhã

Q.302; kinh Đại thừa đồng tính Q.hạ; phẩm

MẠT NÔ HẠT LẠT THA

 

M

3074

An lạc hạnh kinh Pháp hoa; kinh Hoa

nghiêm Q.45 (bản 80 quyển); kinh Pháp diệt

tận; kinh Vô lượng thọ Q.hạ]. (xt. Chính,

Tượng, Mạt).

MẠT PHÁP MINH ĐĂNG KÍ

Tác phẩm, 1 quyển, tương truyền do ngài

Tối trừng người Nhật bản soạn vào năm

Diên lịch 20 (801).

Nội dung sách này dựa theo 3 thời kì

chính, tượng, mạt để nói về qui chế giáo hóa

khác nhau. Vào cuối thời kì tượng pháp, vì

sắp đến thời mạt pháp, nên Phật pháp ở

thời kì này không được hành trì theo qui

định, kỉ cương tăng ni cũng trái với qui chế,

giới luật không được tuân theo, nhưng vẫn

chủ trương tôn kính Tăng bảo.

Sách này được các Tổ sư của phái Tân

Phật giáo ở thời Liêm thương như các vị:

Vinh tây, Nguyên không, Thân loan, Nhật

liên v.v… dẫn dụng, cho nên được xem là

tác phẩm có hiệu lực nhất trong việc cổ động

tư tưởng mạt pháp ở Nhật bản, có ảnh hưởng

rất lớn về sau.

MẠT PHÁP TƯ TƯỞNG

Chỉ cho tư tưởng về thời kì mạt pháp.

Sau khi đức Phật nhập diệt, giáo pháp

của Ngài trải qua các thời kì chính pháp,

tượng pháp, người tu hành chứng ngộ dần

dần giảm thiểu, cuối cùng, đến thời kì mạt

pháp thì chỉ còn giáo pháp mà thôi, tuy có

nhiều người lãnh thụ giáo pháp nhưng không

thể tu hành chứng quả. Thời kì này kéo dài

10 nghìn năm, gọi là thời mạt pháp. Loại tư

tưởng mạt pháp này được thấy rải rác trong

các kinh điển.

Tư tưởng mạt pháp này đã thôi thúc và

tạo nên 1 thời kì giáo đồ phản tỉnh, khiến

họ bắt đầu suy tư, tìm ra phương pháp để

giải quyết và cứu vãn. Trong các văn hiến

của Trung quốc, tư tưởng này được thấy sớm

nhất trong bài “Nam nhạc Tư thiền sư lập

thệ nguyện văn” của ngài Tuệ tư (515-577)

đời Bắc Tề. Kế đến là ngài Tín hành (540-

594) đời Tùy, đề xướng Tam giai giáo(giáo

pháp của 3 bậc); ngài Tín hành cho rằng thời

kì chính pháp trụ thế là bậc thứ 1, tượng

pháp là bậc thứ 2, mạt pháp là bậc thứ 3,

trong đó, mỗi bậc đều có giáo pháp tương

ứng. Nhất thừa là pháp của bậc thứ 1, Tam

thừa là pháp của bậc thứ 2, Phổ pháp là pháp

của bậc thứ 3. Ngài Tín hành cho rằng thời

bấy giờ(đời nhàTùy) đã tiến vào thời kì mạt

pháp, nếu nương theo giáo pháp của 2 bậc

trước mà tu hành thì thực rất khó khăn,

nên cần phải tu hành theo Phổ pháp(pháp

Phổ cập= toàn thể Phật giáo) là qui y Tam

bảo, dứt trừ tất cả điều ác, tu trì tất cả điều

thiện thì mới dễ thành tựu.

Đến đời Đường, các ngài Đạo xước (562-

645), Thiện đạo (613-681) v.v… cho rằng

Tịnh độ giáo tương ứng với thời mạt pháp,

nên các ngài nhấn mạnh sự tu hành thực

tiễn là sám hối, niệm Phật v.v…

Tại Nhật bản, vào giữa thời kì Bình an,

các ngài Nguyên tín (942-1017), Nguyên

không (1133-1212) cũng kế thừa tư tưởng

này, đề cao tông Tịnh độ. Ngài Nhật liên

(1222-1282) sáng lập tông Nhật liên cũng là

thuận theo tư tưởng mạt pháp. Cuốn Mạt

pháp đăng minh kí ở cuối thời đại Bình an

của Nhật bản là tác phẩm có hiệu lực nhất

trong việc cổ động tư tưởng mạt pháp.

[X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Thiện kiến

luật tì bà sa Q.18; Vãng sinh lễ tán; Pháp

uyển châu lâm Q.98]. (xt. Tam Giai Giáo,

Chính Tượng Mạt).

MẠT THA

Phạm: Matsya.

Pàli:Maccha.

Cũng gọi Ma sa, Ma tha.

MẠT PHÁP TƯ TƯỞNG

 

M

3075

Từ gọi chung các loài cá.

Thần thoại Ấn độ cho rằng cá là 1 trong

10 hóa thân của thần Tì nữu noa (Phạm:

Viwịu)

[X. kinh Đại uy đức đà la ni Q.7; kinh

Lục độ tập Q.6; phẩm Vô thường trong kinh

Pháp cú Q.thượng; Phạm ngữ tạp danh].

MẠT THÊ ĐỀ XÁ

Phạm: Madhyadeza.

Hán dịch: Trung quốc.

Nước ở trung ương, tức là dải đất ở trung

du sông Hằng, trung tâm của nền văn minh

Bà la môn Ấn độ cổ đại.

Phần chú thích trong Nam hải kí qui nội

pháp truyện quyển 3 (Đại 54, 222 thượng)

ghi: “Mạt thê là trung, đề xả là quốc, Mạt

thê đề xả là trung tâm của trăm nước”.

(xt. Trung Quốc).

MẠT THẾ NGŨ PHÁP LINH CHÍNH PHÁP BẤT

DIÊT

… … … … … … … … ..

Năm phương pháp làm cho chính pháp

không diệt mất ở thời mạt do Đại minh tam

tạng pháp số căn cứ vào luật Thập tụng

quyển 49 mà nêu ra. Đó là:

1. Tôn trọng chính giáo:Các tỉ khưu

nên y theo chính giáo mà tiến tu, lánh xa

Tiểu thừa và các ngoại đạo tà giáo.

2. Chỉ tức sân ác: Các tỉ khưu thường

tu hạnh nhẫn nhục, không sinh tâm tức giận

thì đức độ vang xa, khiến mọi người qui

ngưỡng.

3. Kính sự thượng tọa: Các tỉ khưu phải

cung kính, vâng lời, siêng năng cầu học với

các bậc Đại đức, Thượng tọa.

4. Ái nhạo chính pháp: Đối với diệu

pháp được bậc Đại đức, Thượng tọa nói cho

nghe, các tỉ khưu phải sinh lòng tin sâu, ưa

thích và vui mừng làm theo.

5. Thiện hối sơ tập(dẫn dắt người mới

học): Các tỉ khưu nên nói pháp Đại thừa

phương tiện cho những người mới học, khiến

cho họ có chỗ nương tựa để tiến tu đạo

nghiệp.

[X. Đại minh tam tạng pháp số].

MẠT THỐ LA PHẬT GIÁO NGHÊ THUẬT

Nghệ thuật chạm trổ và đắp tượng Phật

ở nước Mạt thố la (Phạm:Mathurà) tại lưu

vực sông Diêm mâu na (nay là sông Chu

mộc na) thuộc Trung Ấn độ thủa xưa.

Vào năm 340 Tây lịch, vua Sa mẫu đà la

cấp đa (Phạm:Samudragupta, ở ngôi 335-

375) thuộc vương triều Cấp đa (Phạm:

Gupta), khuyến khích phát triển văn học

nghệ thuật và tông giáo vốn có, lại hấp thu

nền nghệ thuật

Phật giáo Kiện đà

la mà hình thành

phong cách nghệ

thuật mới, được

gọi là Nghệ thuật

Phật giáo Mạt thố

la. Các pho tượng

Phật được điêu

khắc có lớp áo

mỏng lộ rõ thân

hình bên trong,

nếp áo mịn màng

và đều đặn.

MẠT THỐ LA QUỐC

Mạt thố la, Phạm:Mathurà, Madhurà.

Cũng gọi Ma thâu la quốc, Ma độ la quốc,

Ma đột la quốc.

Tên một nước xưa ở Trung Ấn độ, là 1

trong 16 nước lớn ở thời đức Phật còn tại

thế, tương đương với vùng đất phía tây nam

sông Chu mộc na (Jumna) ngày nay, kinh

đô là thành Mạt thố la, nằm về phía nam

thành phố Ma đặc lạp (Muttra).

MẠT THỐ LA QUỐC

Tượng Phật ngồi, 1 trong những

nghệ thuật điêu khắc ở Mạt thố la

 

M

3076

Theo Đại đường tây vực kí quyển 4 thì

khí hậu nước này nóng bức, phong tục thuần

thiện, thích làm phúc, chuộng đạo đức, học

vấn. Toàn quốc có hơn 20 ngôi chùa, 5 đền

thờ trời, nhiều phái ngoại đạo; cũng có rất

nhiều di tích của 4 đức Phật đời quá khứ,

cũng là nơi xưa kia đức Phật thường đến

thuyết pháp và các vị Bồ tát, A la hán đến ở

ẩn tu tập thiền định. Sau khi đức Phật nhập

diệt, có ngài Ưu ba cúc đa (Phạm: Upagupta)

ra đời, nỗ lực chấn hưng Phật giáo. Nước

này vốn là 1 trung tâm lớn của nghệ thuật

Phật giáo Ấn độ. Hiện nay vẫn còn các di

tích như: Ba ngôi tháp do vua A dục xây

dựng, ngôi chùa thờ ngài Ưu ba cúc đa, xá

lợi và tháp Di hầu. Gần đây lại đào được rất

nhiều di vật ở phía nam thành phố Ma đặc

lạp như: Tượng Phật, văn khắc vào thời

vương triều Khổng tước, trụ đá, điêu khắc

vào thời vương triều Cấp đa, tượng vua Ca

nị sắc ca v.v…

[X. kinh Đại bát niết bàn Q.23 (bản Bắc);

kinh Tăng già la sát sở tập Q.hạ; Tuệ lâm

âm nghĩa Q.26; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ].

MẠT THƯỢNG

… ..

Cuối cùng, sau cùng.

Cảnh đức truyền đăng lục quyển 10 (Đại

51, 278 thượng ), chép: “Có người hỏi:

–Hòa thượng còn vào địa ngục không?

Sư đáp: Lão tăng vào sau cùng.

Hỏi: Bậc đại thiện tri thức vì sao còn

vào địa ngục?

Sư đáp: Nếu không vào, ai giáo hóa ông?”

MẠT TỰ

… ..

Đối lại: Bản tự.

Chỉ cho những ngôi chùa trực thuộc bản

tự(chùa chính).

Tại Nhật bản từ thời Giang hộ trở đi,

chế độ Bản Mạt được xác lập thì tính chất

của Mạt tự mới cố định. Trước đó, sự quan

hệ giữa Bản và Mạt tự hoàn toàn lấy chính

trị và kinh tế làm cơ sở, chứ chưa hẳn liên

kết theo mối quan hệ tông phái. Cho đến

khi các tông phái qui định pháp tắc là cần

phải giữ nghiêm sự quan hệ Bản Mạt thì

mới hình thành mối quan hệ thống thuộc,

trên dưới rõ ràng giữa các Bản sơn, Bản tự,

Trung bản tự, Trực bản tự, Tôn bản tự v.v…

Mãi đến sau thế chiến thứ 2, do thi hành

lệnh Pháp nhân của tông giáo, thể chế thống

thuộc mới bắt đầu suy vi. Và cũng từ đó

Mạt tự mới được độc lập.

[X. Bách luyện sao Q.7].

MẶC BẤT NHỊ

……..

Cũng gọi Mặc nhiên vô ngôn, Duy ma

nhất mặc.

Cư sĩ Duy ma cật im lặng để biểu thị ý

chỉ Bồ tát vào pháp môn bất nhị.

Cứ theo phẩm Nhập bất nhị pháp môn

trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển

trung, thì 32 vị Bồ tát như ngài Văn thù sư

lợi v.v… đàm luận về vấn đề vào pháp môn

Bất nhị với cư sĩ Duy ma cật. Trong đó,

đối với nguyên lí tương đối sinh và diệt,

thiện và ác v.v… mỗi vị Bồ tát đều đưa ra

đáp án vượt ngoài vấn đề tuơng đối này và

cho đó là pháp môn bất nhị. Bồ tát Văn

thù thì cho rằng tất cả pháp vô ngôn vô

thuyết, vô thị vô thức, lìa các vấn đáp, đó

MẶC BẤT NHỊ

Đầu cột đá khắc hình sư tử đào được ở nước Mạt thố la

 

M

3077

mới là vào pháp mônbất nhị. Trái với sự

giải thích của các vị Bồ tát như ngài Văn

thù v.v…cư sĩ Duy ma lặng thinh không

nói(mặc bất nhị) để hiển bày chân lí cao

siêu nhất của việc vào pháp môn bất nhị,

ngài Văn thù liền khen như thế mới “chân

chính vào pháp môn bất nhị”.

Phẩm Nhập bất nhị pháp môn trong

kinh Duy ma cật sở thuyết quyển trung (Đại

14, 551 hạ), nói: “Bồ tát Văn thù sư lợi hỏi

cư sĩ Duy ma: Chúng tôi đều đã nói quan

điểm của mình rồi, bây giờ xin Nhân giả

cho biết thế nào là Bồ tát vào pháp môn bất

nhị? Cư sĩ Duy ma lặng thinh không nói.

Ngài Văn thù sư lợi khen rằng: Hay thật!

Hay thật! Cho đến chỗ không còn văn tự

ngôn ngữ, thế mới là chân thực vào pháp

môn bất nhị”.

(xt. Nhập Bất Nhị Pháp Môn).

MẶC CHIẾU THIỀN

Thiền phong do Thiền sư Hoành trí

Chính giác thuộc tông Tào động đời Tống

đề xướng.

Mặc là lặng yên, chuyên tâm ngồi thiền;

Chiếu là dùng trí quán chiếu tâm tính linh

tri xưa nay vốn thanh tịnh. Ngài Chính giác

cho rằng thực tướng tức là tướng mà vô

tướng, chân tâm tức là tâm mà vô tâm, chân

đắc tức là đắc mà vô đắc, chân dụng tức là

dụng mà vô dụng, cho nên ngài chủ trướng

“tọa không trần lự”(ngồi mà không suy tư)để

yên lặng quán chiếu, không cần phải cầu

đại ngộ, chỉ tọa thiền với thái độ vô sở đắc,

vô sở ngộ.

Thiền phong này bị ngài Đại tuệ Tông

cảo, 1 bậc danh đức thuộc tông Lâm tế

đương thời đả kích mạnh mẽ và chê bai

bằng những từ ngữ như: Mặc chiếu tà thiền,

Vô sự thiền, Khô mộc tử khôi thiền(Thiền

cây khô tro lạnh) v.v… Bởi vì Thiền phong

của ngài Tông cảo khác xa với Thiền phong

của ngài Chính giác,ngàiTông cảo chủ

trương tham cứu cổ tắc công án để có cơ

khế nhập tâm tính mà triệt ngộ, cho nên

cực lực phê bình phái Chính giác chủ

trương im lặng ngồi thiền xoay mặt vào

vách mà bỏ việc tham ngộ tu chứng.

Về phần mình, ngài Chính giác soạn 1

bài minh “Mặc chiếu” (toàn bài gồm 72 câu,

mỗi câu 4 chữ, tất cả có 288 chữ) để phản

bác, cho rằng tọa thiền im lặng có công năng

làm cho tác dụng của trí tuệ được hoạt bát,

tự nhiên chiếu suốt tự đáy nguồn tâm tính,

là Thiền chân thực, chính truyền của Phật

Tổ; trong văn cũng chê pháp Thiền “Khán

thoại đầu” của ngài Tông cảo là chỉ chấp

chặt vào công án mà thôi.

[X. Hoành trí thiền sư quảng lục Q.5, 6,

8; Đại tuệ tông môn vũ khố].

MẶC LÃNG ĐẠO GIA

Một nghi thức xua đuổi ma quỉ với qui

mô lớn được tổ chức vào ngày 24 tháng giêng

hàng năm theo lịch Tây tạng, khi pháp hội

Truyền đại triệu cử hành tại Lạp tát (Lhasa)

kết thúc. Đạo gia là tiếng Tây tạng, nghĩa

là trừ quỉ.

Khi cử hành nghi thức này, chúng tăng

ở Cam đan trì ba, Trát Phương Lãng Kiệt

thuộc cung Bố đạt lạp, viện Mật tông của

Trát thương Ngạc ba chùa Triết bạng, đều

về nhóm họp tại Lạp tát, rồi 500 người hóa

trang làm các kị sĩ Mông cổ thời xưa, xếp

thành hàng ngũ diễu hành, đốt các đống

cỏ và bắn súng để xua đuổi tất cả tai họa

trong năm.

MẶC LÍ

…..

Diệu lí lặng yên không lời(mặc nhiên vô

ngôn).

Nghĩa là cư sĩ Duy ma cật dùng mặc

nhiên vô ngôn để biểu thị chân lí sâu xa

MẶC LÃNG ĐẠO GIA

 

M

3078

mầu nhiệm không thể dùng lời nói mà diễn

tả được.

[X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1].

(xt. Mặc Bất Nhị).

MẶC MAI Y

Chỉ cho loại áo ca sa đã biến dạng hoặc

trái với hình thức ca sa.

Nguyên do có mặc mai(mai đen)là vì

đem cành mai tháp vào cây xoan, khi hoa

mai nở thì có màu đen, cho nên về sau từ

ngữ này được dùng để chỉ cho những vật đã

thay hình đổi dạng.

MẶC NHƯ (1905- )

…..

Danh tăng Trung quốc, người huyện

Đông đài, tỉnh Giang tô.

Năm Dân quốc thứ 3 (1914), sư xuất gia

ở am Như lai cùng huyện, sau thụ giới ở núi

Bảo hoa tại Nam kinh, học Thiền ở chùa

Cao mân và chùa Thiên đồng, học Phật pháp

tại trường Sư phạm Phật giáo và Phật học

viện Mân nam. Về sau, sư dạy học tại Phật

học viện Mân nam, Phật học viện chùa Kim

lăng và Phật học viện Thiên minh ở Thường

châu. Năm Dân quốc 38 (1949) sư đến Đài

loan, dạy học và hoằng pháp tại các chùa

viện. Hiện nay sư trụ ở chùa Pháp vân tại

Đài bắc. Sư nghiên cứu sâu rộng về Pháp

tướng Duy thức học.

Sư có các trứ tác: Đại thừa tam hệ luận

tùng, Duy thức học khái luận, Bút thuyết

bát thức qui củ tụng.

MẶC PHỔ

Cũng gọi Bác sĩ.

Âm phổ ghi chép về Phạm bái. Vì loại

âm phổ này cho thấy rõ sự khác nhau giữa

năm âm nên gọi là Ngũ âm mặc phổ. Lại vì

người ta dùng bút đỏ mà ghi chép thành

nên cũng gọi là Chu mặc phổ, hoặc Chu

bác sĩ.

Tại Nhật bản, từ Thanh minh tập của

Hiển giáo, Mật giáo cho đến Lãng vịnh và

Thôi mã nhạc… phần nhiều đều được ghi

vào Mặc phổ.

MẶC SẤN

Phạm, Pàli: Brahma daịđa.

Hán âm: Phạm đàn, Phạm đát.

Chúng tăng giữ thái độ im lặng, không

chuyện trò giao du là phương thức trừng phạt

vị tỉ khưu vi phạm giới luật mà không chịu

sự điều phục.

Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 303

thượng), nói: “Mặc sấn nghĩa là chúng tăng

không qua lại nói chuyện với người ấy”.

[X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết

hành sự sao Q.thượng, phần 2, đoạn 2]. (xt.

Phạm Đàn).

MẶC TÍCH

Cũng gọi Thư tích, Thủ tích.

Chỉ cho những bút tích của người xưa

viết bằng mực trên giấy hoặc lụa. Trong trà

đạo của Nhật bản, Mặc tích đặc biệt chỉ cho

thủ bút(mặc bảo) của các vị Thiền sư.

Ban đầu, ông Thôn điền Châu quang đến

chùa Đại đức tham yết ngài Nhất châu Tông

thuần (1394-1481), 1 Thiền sư lỗi lạc của

tông Lâm tế. Do thấy trong trà thất có treo

mặc tích của Thiền sư Viên ngộ Khắc cần

thuộc tông Lâm tế đời Tống, Trung quốc

mà ông ngộ được lí “Trà thiền nhất vị”.

Về sau, mặc tích của các Thiền sư đời

Tống, Nguyên Trung quốc như: Đại tuệ

Tông cảo, Mật am Hàm kiệt, Si tuyệt Đạo

xung, Hư đường Trí ngu, Thanh chuyết

Chính trừng, Cổ lâm Thanh mậu và mặc

tích của các ngài Vinh tây, Đạo nguyên,

Mộng song Sơ thạch, Tông phong Diệu siêu,

MẶC TÍCH

 

M

3079

Nhất hưu Tông thuần v.v… tại Nhật bản

đều được quí trọng.

MẶC TRÍ KÍ

……..

Phạm:Sthàpanìya-vyàkaraịa.

Pàli: Ỉhapanìya-vyàkarịa.

Cũng gọi Xả trí kí, Mặc nhiên kí, Chỉ kí

luận.

Đối với các câu hỏi thuộc loại không nên

đáp thì im lặng gác qua một bên, là 1 trong

4 cách trả lời.

Nghĩa là đối với những câu hỏi không

nên đáp hoặc không thể đáp vì phi lí, thì

đức Phật mặc nhiên không trả lời, khiến cho

người hỏi không tăng thêm hí luận vô nghĩa.

Chẳng hạn như có người hỏi: “Con của thạch

nữ(người đàn bà đá) là màu đen hay màu

trắng?” thì gác vấn đề này qua 1 bên, im

lặng không đáp.

[X. Phật địa kinh luận Q.6; luận Câu xá

Q.19]. (xt. Tứ Kí Đáp).

MẶC TRUYỀN

…..

Đồng nghĩa: Mặc truyền tâm ấn.

Trong Thiền tông, khi thầy truyền pháp

cho đệ tử, không dùng ngôn ngữ, hoặc văn

tự trực tiếp chỉ bày, mà dùng tâm truyền

tâm, khiến đệ tử tự ngộ được thực nghĩa sâu

kín của Phật pháp, kiến tính thành Phật.

“Mặc” nghĩa là chỉ hiểu biết trong im lặng,

chứ chẳng phải hoàn toàn không có 1 lời.

Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 351 trung), nói:

“Nhưng phải truyền trao, như từ xưa đến

nay vẫn mặc truyền phân phó, không được

giấu giếm chính pháp”.

[X.Thiền nguyên chư thuyên tập đô tựQ.2].

MÂN NAM PHẬT HỌC VIÊN

Viện Phật học ở chùa Nam Phổ đà, thành

phố Hạ môn, tỉnh Phúc kiến, Trung quốc,

được sáng lập vào năm 1925 là một trong

những Phật học viện hiện đại tại Trung quốc.

Viện tổ chức chế độ học tập mỗi khóa

3 năm. Viện trưởng đầu tiên là ngài Hội

tuyền, trụ trì chùa Nam Phổ đà. Năm Dân

quốc 16 (1927), sau khi giữ chức vụ Viện

trưởng kế tiếp, Đại sư Thái hư thành lập

thêm “Tích lan lưu học đoàn” ở chùa Nam

sơn, Chương châu và đổi trường Nam sơn

thành Phật học viện Mân nam thứ 2. Năm

Dân quốc 19 (1930) lại lập thêm Bộ Nghiên

cứu. Sau khi Đại sư Thái hư từ chức thì

ngài Thường tỉnh (1896-1939) kế nhiệm

Viện trưởng.

MẪN KỊ

Chỉ cho ngày sinh của bậc tôn túc(bậc

tuổi cao đức trọng) đặc biệt dùng để gọi ngày

sinh sau khi vị ấy thị tịch. Trai soạn được

cúng dường vào ngày này, gọi là Mẫn kị

trai.

Môn Báo đảo, loại thứ 16 trong Thiền

lâm tượng khí tiên nói: “Bậc thiện tri thức

vì thương xót(ai mẫn) chúng sinh mà ứng

thế ra đời, cho nên ngày sinh của Ngài gọi là

Mẫn kị”.

MẪN NA DA PHU

Minayeff, Ivan Pavlovitch (1840-1890)

Học giả Ấn độ học người Nga.

Ông thông hiểu các thứ tiếng Phạm,Pàli,

Trung quốc, Mãn châu. Vì chịu ảnh hưởng

của ông Hoa tây lí da phu (Vasiliev,

V.P.1818-1900) nên ông chuyên nghiên cứu

Ấn độ học cổ đại và tôn ông Vi bá (Weber)

làm thầy. Ông từng biên soạn mục lục tiếng

Pàli(bản viết tay) hiện được tàng trữ ở Thư

viện Quốc gia tại Paris. Năm 1868, ông ấn

hành nguyên văn bộ Ba la đề mộc xoa

(Pàtimokkha) và Thi luận (Vuttodaya)

tiếngPàli. Năm 1873, ông làm giáo sư

MẪN NA DA PHU

 

M

3080

trường Đại học S.Peterburg, từng đến Ấn

độ, Tích lan (1874), Miến điện (1885) v.v…

Năm 1887, ông bắt đầu đăng các bài nghiên

cứu về Phật giáo và các công trình có liên

quan đến việc nghiên cứu các nguyên điển

tiếng Phạm vàPàli, đã đạt được thành quả

to lớn. Ông và ông Chu lợi an (Julien,

Stanislas, 1799-1873) cùng đảm nhiệm công

việc hiệu đính phần tiếng Phạm trong bộ

“Phiên dịch danh nghĩa đại tạp” (Phạm:

Mahàvyutpatti).

Ông có các tác phẩm:Nàmasaôgìti

(Diệu cát tường chân thực danh kinh);Bodhi=

caryàvatàra(Bồ đề hành kinh), 1890;

Kathàvatthu;Pàli Grammar (Pàli văn ngữ

pháp), 1872; Grammaire Palie, 1874.

MẪN VIÊN

Khu vườn ở huyện Thanh dương, tỉnh

An huy, phía bắc ngọn Thiên thai núi Cửu

hoa, Trung quốc.

Khu vườn này vốn là trang trại của ông

Mẫn nhượng hòa sống vào đời Đường, ông

thích làm việcbố thí, thường cúng dường

trai tăng hàng trăm vị, nhưng lúc nào cũng

dành 1 tòa trống, đó là tòa của ngài Kim

kiều giác tu khổ hạnh ở trên núi, ông Mẫn

thường từ xa lễ thỉnh ngài về tham dự.

Cứ theo truyền thuyết thì ngài Kim kiều

giác–vương tử nước Tân la– là hóa thân

của bồ tát Địa tạng, ngài ngồi mà hóa lúc

99 tuổi; đêm trước khi hóa, ngài Kim kiều

giác hướng về ông Mẫn nhượng hòa xin 1

mảnh đất rộng bằng tấm áo ca sa, khi trải

ra thì ca sa trùm hết núi Cửu hoa, ông

Mẫn vui lòng cúng dường. Về sau, con

ông Mẫn cũng xuất gia, tức là Pháp sư Đạo

minh, rồi ông lại lễ ngài Đạo minh làm

thầy. Hiện nay 2 bên tòa của bồ tát Địa

tạng ở núi Cửu hoa có 2 người đứng hầu,

đó là ông Mẫn nhượng hòa và Pháp sư

Đạo minh.

MẬT

Phạm:Deva-dàru.

Cũng gọi Mộc mật, Mật hương, Một

hương.

Tên khoa học:Pinus devadàru, hoặc

Avaria longifolia, hoặc Erythrosylon

sideroxyloides.

Loại cây thuộc họ trầm hương.

Cây này cao hơn 3 mét, vỏ màu xanh

lợt, lá giống như lá hòe nhưng dài hơn, hơi

có mùi hồ tiêu. Tháng 6 hoa nở trắng giống

hoa cây quít, quả như quả thầu dầu, khi chín

vỏ nứt ra, ở trong có 5, 6 hạt, to bằng hạt

đậu, màu đen, vị chua ngọt, ăn được, nhưng

ăn nhiều thì say. Gốc cây to

dày, sau khi chặt 4, 5 năm,

người ta lấy những chỗ không

mục nát của cây chế thành

hương, vị của nó cay nồng,

có thể trừ mùi hôi và mùi của

xác chết. Cành cây có thể

cúng Phật, vỏ và lá cây sau

khi phơi khô có thể dùng làm

hương đốt, gọi là Mạt hương.

Ngoài ra, cây mật sinh sản tại Nhật bản

thuộc họ Mộc lan, lá xanh quanh năm. Tên

khoa học là Ilicium anisatum, e là khác họ

với cây Mật nói trên. Cũng gọi là cây Nhãn

vu, lá nó giống với lá cây mật nhưng hơi

dày, cao từ 0,5 đến 1 mét, cây mọc trong núi

sâu nhưng ở chỗ có ánh mặt trời, khoảng

tháng 4, 5 nở hoa kết trái.

[X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa

Q.1; Pháp hoa nghĩa sớ Q.4 hạ; Huyền ứng

âm nghĩa Q.7; Hòa Hán tam tài đồ hội Q.82;

Nhũ vị sao Q.1].

MẬT AM HÒA THƯỢNG NGỮ LỤC

Cũng gọi Mật am Hàm kiệt thiền sư ngữ

lục, Mật am lục.

MẬT AM HÒA THƯỢNG NGỮ LỤC

Cây Mật

 

M

3081

Tác phẩm, 1 quyển (hoặc 2 quyển), do

ngài Mật am Hàm kiệt (1118-1186) soạn vào

đời Tống, các ngài Tùng nguyên Sùng nhạc

và Tiếu am Liễu ngộ biên tập, được ấn hành

vào năm Thuần hi 15 (1188), thu vào Đại

chính tạng tập 47.

Nội dung thu chép các ngữ lục của Thiền

sư Mật am Hàm kiệt trong 7 hội: Càn minh

thiền viện, Thái bình Hưng quốc thiền tự,

Hoa tạng thiền tự, Thiên đồng Cảnh đức

thiền tự… và tiểu tham, phổ thuyết, tụng

tán, kệ tụng, pháp ngữ, tháp minh… Đầu

quyển có lời tựa của Trương tư.

MẬT AM SA BỒN

Tên công án trong Thiền tông.

Nội dung công án này nói về cơ duyên

Thiền sư Mật am Hàm kiệt được thầy là

ngài Ứng am Đàm hoa ở chùa Thiên đồng

ấn chứng.

Ngũ đăng hội nguyên quyển 20 (Vạn tục

138, 414 hạ) chép: “Một hôm, ngài Ứng am

hỏi: Thế nào là chính pháp nhãn? Sư đáp

ngay: Chậu đất vỡ(phá sa bồn)! Ngài Ứng

am liền gật đầu”.

MẬT ẤN

…..

I. Mật Ấn.

Dấu ấn bí mật, sâu kín.

Cứ theo giáo nghĩa căn bản của Mật giáo,

chư Phật và Bồ tát đều có bản thệ, để nêu tỏ

bản thệ ấy, các ngài thường dùng 10 ngón

tay, hoặc 1 động tác đặc biệt nào đó của

thân thể để hiển bày thành các thứ tướng,

đó là ấn tướng ấn khế của bản thệ, cho nên

gọi là “ấn”; lại vì cái nghĩa lí chỉ thú được

nêu ra đó rất là sâu kín mầu nhiệm, cho

nên gọi là “mật”.

Phẩm Mật ấn kinh Đại nhật (Đại 18, 30

thượng), nói : “Nên biết thân thể cử động

hay bất động đều là Mật ấn; những lời uyển

chuyển nói ra đều là Chân ngôn”.

II. Mật Ấn.

Trong Thiền tông, 1 lúc nào đó, người

học chợt thấy suốt bản tính mà tỏ ngộ cội

nguồn sinh tử mê vọng, bậc thầy bèn nhân

cơ duyên ấy mà ấn khả cho. Cảnh giới được

ấn khả chứng minh ấy chính là tâm ấn trực

tiếp, thân thiết giữa thầy và trò, người khác

không thể nào thấy biết được, nên gọi là

Mật ấn.

III. Mật Ấn.

Pháp hiệu của Thiền sư Chân truyền

thuộc tông Lâm tế sống vào cuối đời Minh

đầu đời Thanh.

(xt. Mật Ấn Chân Truyền).

MẬT ẤN CHÂN TRUYỀN (1625-1678)

………..

Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm

tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh,

người Tự châu (tỉnh Tứ xuyên), họ Lí, hiệu

Mật ấn, là đệ tử nối pháp của ngài Linh ẩn

Ấn văn.

Sư xuất gia từ thủa nhỏ, một hôm nghe

1 vị lão tăng nói về tông chỉ “giáo ngoại biệt

truyền” nên qui hướng Thiền tông và thờ

ngài Linh ẩn làm thầy. Sau sư trụ ở chùa

Thắng giác, núi Quảng phúc, huyện Kiềm

dương, tỉnh Hồ nam, Xiển dương tông

phong.

Năm Khang hi 17 (1678) sư tịch, thọ 54

tuổi.

Sư có tác phẩm: Mật ấn thiền sư ngữ

lục.

MẬT ẤN QUÁN ĐÍNH

Pháp Quán đính này không thực hành

các tác pháp của Cụ chi quán đính mà chỉ

truyền trao ấn khế chân ngôn, là pháp

Quán đính đặc biệt chỉ thực hành đối với

các đệ tử có căn tính ưu việt. Pháp quán

đính này tương đương với Ấn pháp quán

MẬT ẤN QUÁN ĐÍNH

 

M

3082

đính hoặc Dĩ tâm quán đính(là quán đính

chỉ ở trong tâm tưởng). Còn “Cụ chi quán

đính” là pháp Quán đính được truyền trao

cho các đệ tử có tư cách thâm sâu, có năng

lực mạnh mẽ, được quả báo phúc thí vô

tận và đầy đủ các điều kiện cần thiết mới

thụ được.

(xt. Cụ Chi Quán Đính).

MẬT ẤN THIỀN SƯ NGỮ LỤC

Tác phẩm, 12 quyển, do ngài Mật ấn

Chân truyền (1625-1678) soạn vào cuối đời

Minh đầu đời Thanh, các ngài Như vĩ v.v…

biên tập, được thu vào Đại tạng đời Minh.

Nội dung 12 quyển được chia ra như

sau: Quyển 1 đến quyển 3 là phần Thướng

đường, quyển 4 là phần Tiểu tham, quyển

5, quyển 6, là phần Khai thị, quyển 7 là

phần Pháp ngữ, Mục ngưu tụng, Thập vô

ngữ tụng, quyển 8 là phần Cơ duyên, Khám

biện, Niêm vấn đại tụng, quyển 9 là phần

Tụng cổ, quyển 10 là phần Sơn cư, Tập

thi, Thủy cư, quyển 11 là phần Tạp kệ, Chư

tán, Chân tán, quyển 12 là phần Tạp kệ,

Sớ dẫn, Tháp lục…

MẬT ẤN TỰ

……..

Chùa ở núi Đại qui, phía tây huyện

Ninh hương, tỉnh Hồ nam, do ngài Qui

sơn Linh hựu (771-853) sáng lập vào

khoảng năm Nguyên hòa (806-820) đời

Đường, theo lời thỉnh cầu của cư sĩ Bùi

hưu. Khi ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch, đệ tử

nối pháp của Thiền sư Qui sơn Linh hựu,

kế thừa pháp vị tiếp hóa người học, thì chùa

này trở thành nơi phát tích của tông Qui

ngưỡng.

Trước kia, trong chùa có các di tích nổi

tiếng như: Lầu chứa kinh, am Bùi công,

mộ Bùi công, cư thất của ngài Ngưỡng sơn,

động Hương nghiêm, cầu Hồi tâm, Bàn đà

thạch v.v…, nhưng rất tiếc chùa đã hoàn

toàn bị hủy diệt trong chiến tranh thời cận

đại!

[X. Đại thanh nhất thống chí Q.277].

MẬT CHÚ VIÊN NHÂN VÃNG SINH TẬP

Tác phẩm, 1 quyển, do các ngài Trí

quảng, Tuệ chân biên tập vào đời Tống, được

thu vào Đại chính tạng tập 46.

Sách này thu tập 33 bài (hoặc 29 bài)

mật chú linh nghiệm trong các bộ kinh do

ngài Kim cương chàng dịch, bao gồm: Quán

tự tại bồ tát lục tự đại minh tâm chú, A di

đà Phật căn bản chú, Đại Phật đính bạch

tản cái tâm chú v.v… trong đó phần nhiều

được coi là có công năng khiến người trì tụng

được vãng sinh thành Phật.

Sách nhấn mạnh cần tụng niệm đúng

như pháp bất cứ 1 đà la ni nào trong số đó,

thì đều được vãng sinh Tịnh độ. Cùng với

“Hiển mật viên thông thành Phật tâm yếu

tập” là 2 bộ sách mà người muốn hiểu rõ về

Mật giáo Hoa nghiêm ở núi Ngũ đài cần

phải đọc.

MẬT CƠ

Căn cơ có khả năng tu tập chân ngôn bí

mật.

Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 5 (Đại 19,

125 hạ), nói: “Ẩn chứa mật cơ, mong Phật

thầm truyền”.

MẬT CÚNG

Từ gọi chung pháp tắc cúng dường theo

nghi quĩ của Mật giáo. Tức là những nghi

thức tông giáo được Mật giáo dần dần phát

triển ra để thực hiện lí tưởng về giáo nghĩa.

Loại nghi thức tông giáo này đều được chép

vào kinh điển giáo nghĩa. Về sau, pháp thực

hành dần dần trở nên phức tạp, nên đã sản

MẬT CÚNG

 

M

3083

sinh những kinh chuyên môn nói rõ về các

phép tắc, loại kinh điển này đặc biệt được

gọi là Nghi quĩ (Phạm:Kalpa).

Pháp cúng dường là 1 phần sự tướng

(đối lại với giáo tướng) rất quan trọng của

Mật giáo, theo với đà phát triển của kĩ thuật

tạo tượng mà pháp cúng dường cũng dần

dần trở nên phiền toái. Đối tượng để lễ bái

của Phật giáo nguyên thủy chỉ là tốt đổ ba

(tháp Phật), cây Bồ đề, pháp luân, những di

vật của Phật, lốt chân Phật v.v… Mãi sau

khi mĩ thuật tượng thần kiểu Hi lạp bột

phát ở Kiện đà la, cùng với ảnh hưởng tượng

thần của Ấn độ giáo, thì Phật giáo mới bắt

đầu tạo tượng Phật. Các bản Nghi quĩ của

Mật giáo phần lớn vốn miêu tả phương

pháp tạo tượng Phật, song song với việc

tạo tượng, những phép tắc tụng chú và cúng

dường trước tượng Phật cũng dần dần phát

triển, để rồi hình thành một bộ phận riêng

của nghi quĩ Mật cúng. Nhưng trên thực

tế, Mật cúng chỉ là pháp cúng dường, khác

với pháp tạo tượng.

Kinh Hoa tích đà la ni thần chú, do

ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô (Đại 21,

875 thượng) nói: “Nếu thiện nam tử đọc

tụng thần chú Hoa tích này, thì nên tụng

vào các tháng 3, 4, 9 từ ngày mồng 8 đến

15, nhất tâm nhớ tưởng Như lai tướng hảo;

nửa đêm tụng 3 lần, giữa trưa cũng 3 lần,

dâng hương hoa, đèn nến trước tượng Phật

tu pháp Cúng dường. Đây là ghi chép sớm

nhất về phép tu Cúng dường trước tượng

Phật.

Về sau, Mật cúng dần dần phát triển,

như kinh Mâu lê mạn đà la chú được dịch

vào đời Lương thuộc Nam triều đã ghi chép.

Khi tu Mật cúng, trước hết 3 nghiệp phải

thật thanh tịnh, tạo 1 tháp xá lợi, chọn

ngày, tháng, giờ tốt, từ ngày mồng 1 đến

15 tháng trắng(bạch nguyệt) là ngày giờ tốt.

Nếu chỉ tu 1 ngày cũng được, trong trường

hợp này thì nên chọn ngày 15 hàng tháng

là tốt nhất. Hành giả phải dùng nước thơm

tắm gội, mặc áo mới sạch sẽ, thắp 4 ngọn

đèn, dâng hoa tươi tùy theo mùa, cúng

dường chư Phật, Bồ tát và các vị Kim cương;

nên ăn 3 loại bạch thực(thức ăn có màu

trắng), nhiễu 1 vòng quanh tháp và Mạn

đà la, tụng 1 biến chú, cứ thế tụng đủ 108

biến thì thành tựu pháp cúng dường này.

Do đó có thể thấy nghi thức Mật cúng dần

dần đã phát triển đầy đủ các phép tắc. Đến

Vô lượng thọ Như lai tu quán hạnh cúng

dường nghi quĩ do ngài Bất không dịch vào

đời Đường thì lại thấy Mật cúng đã chịu

ảnh hưởng của phong tục Ấn độ, rồi vì

sáng kiến cũng như sự giải thích của các vị

A xà lê khác nhau mà đã phát sinh những

dòng phái bất đồng.

MẬT DIÊM THÁP

Một loại bảo tháp hoặc tháp Phật đời

xưa.

Loại tháp này phần nhiều được xây bằng

gạch, thông thường có hình 8 góc hoặc 12

góc, nền tháp là tòa Tu di, tầng dưới cùng

của thân tháp tương đối cao, phía trên là 9

tầng, 11 tầng, 13 tầng, mái nhô ra, thân

tháp ở khoảng giữa 2 mái rất ngắn, không

để cửa sổ, chỉ có 1 lỗ nhỏ, ruột tháp phần

nhiều là đặc.

MẬT ĐA LA

……..

Phạm:Mitra.

Hán dịch: Bằng hữu.

Vị thần trông coi về ban ngày được nói

đến trong sách Phệ đà của Bà la môn giáo và

Ấn độ giáo. Uy lực và trí tuệ của vị thần này

cũng ngang với Bà lâu na (Phạm:Varuịa),

2 thần này được xem như vợ chồng, thường

gọi là Mật đa la bà lâu na. Bà lâu na trông

coi ban đêm, 2 vợ chồng cùng thống trị trời

và đất, bảo vệ thế giới, trừng phạt tội ác, cho

MẬT ĐA LA

 

M

3084

nên được tôn xưng là “Vũ trụ đại vương”,

“Chân lí chúa tể”.

MẬT ĐÀ HỘI

Cũng gọi Mật đà tăng.

Tranh sơn dầu. Trong nghệ thuật hội

họa của Phật giáo cũng có loại tranh này.

Mật đà tăng là phiên âm của chữ Murdasen,

1 thứ tiếng địa phương ở nước Ba tư.

MẬT ĐÀN

…..

Gọi đủ: Bí mật đàn.

Đối lại: Đại đàn.

Chỉ cho đàn dùng để tu hành Mật pháp.

Nói theo nghĩa rộng thì Đại đàn cũng

gọi là Mật đàn, nhưng thông thường, Mật

đàn là đàn hình chữ nhật được đặt ở trước

tượng Phật, trên có bày các vật trang trí

như mâm Kim cương, lò hương, 6 thứ đồ

đựng, đồ đựng thức ăn uống, đế đèn, bình

hoa v.v… mỗi thứ 1 cặp, không thể chưng

bày Tứ diện khí như Đại đàn được.

MẬT ĐẶC LA GIÁO

Mithraism

Tông giáo của nước Ba tư (Iran) thời xưa,

là 1 trong những tông giáo được lưu truyền

bí mật trong thời Đế quốc La mã, thuộc hệ

thống Thiên giáo. Theo Thánh điển A phàm

sĩ tháp (Zend Avesta) thì vị chủ thần của

tông giáo này là thần cách trọng yếu trực

thuộc Mã triết đạt (Ahura Mazda). Chủ thần

ấy chính là Mật đặc la (Mithra), vì thế nên

gọi là Mật đặc la giáo. Ma ni giáo bắt nguồn

từ tông giáo này.

Mật đặc la vốn là 1 trong những vị thần

linh của Ba tư và Ấn độ thời thượng cổ, bắt

đầu vào khoảng 2.000 năm trước Tây lịch,

có thể thấy trong Lê câu phệ đà. Sau khi

Thiên giáo nổi lên thì Mật đặc la không thấy

nói đến nữa. Nhưng sau lại thấy được lưu

hành ở vùng Mesopotamia rồi từ đó truyền

sang phương Tây. Vào khoảng thế kỉ thứ III

trước Tây lịch, ở Ba tư và Ấn độ, Mật đặc la

được tin thờ như là vị thần chúa tể của thiên

không, rồi dần dần được coi là thần Thái

dương, thần Ánh sáng, thần làm cho muôn

vật tốt tươi và rất được sùng bái. Đối chiếu

với Mật đa la (Phạm:Mitra) trong thần thoại

Phệ đà, ta thấy Ấn độ và Ba tư có chung 1

thần Thái dương. Đây là đề tài rất thú vị

cho những môn Tỉ giảo ngôn ngữ học, Tỉ

giảo thần thoại học Ấn Âu v.v…

Căn cứ vào nội dung giáo nghĩa và tín

ngưỡng mà nhận xét, có thể nói tông giáo

này trực thuộc hệ thống Thiên giáo. Do đề

xướng thuyết bình đẳng, ăn bánh thánh, nên

mọi tín đồ đều được phúc âm như nhau mà

đạt đến cảnh giới sống lại. Thế giới hiện thực

đấu tranh nhị nguyên thiện và ác, cũng do

sự giáng lâm của thần Mật đặc la mà có

thuyết “Người thiện chết được sống lại, kẻ

ác chết bị tiêu diệt”.

Năm 67 trước Tây lịch, tín ngưỡng Mật

đặc la được truyền vào La mã, đến thời Đế

quốc La mã hưng thịnh, vì Mật đặc la là

chủ thần nên tín ngưỡng Mật đặc la trở

thành tông giáo Mật đặc la. Đến thế kỉ II

Tây lịch, tông giáo này dựa vào thế lực

mạnh mẽ của Đế quốc La mã mà truyền

bá ở châu Âu và có xu thế phát triển thành

tông giáo thế giới. Nhưng về sau, do sự nổi

lên của Cơ đốc giáo nên vào khoảng thế kỉ

IV, Mật đặc la giáo suy vi và tín đồ của

tông giáo này hoặc cải tín theo Cơ đốc giáo,

hoặc theo Ma ni giáo.

MẬT GIA TAM TẠNG

………..

Cũng gọi Mật giáo tam tạng.

Chỉ cho 3 tạng Kinh, Luật, Luận của

Mật giáo, tức những bộ kinh lớn của Kim

cương giới và Thai tạng giới là Kinh tạng,

MẬT GIA TAM TẠNG

 

M

3085

kinh Tô bà hô đồng tử và các luật điển của

Đại thừa, Tiểu thừa là Luật tạng, còn luận

Bồ đềtâmvà luận Thích ma ha diễn là

Luận tạng.

MẬT GIÀ XÀ

Phạm:Mfgajà.

Hán dịch: Lộc tử, Lộc vương, Lộc dưỡng.

Một trong 3 vị phu nhân của Thái tử

Tất đạt đa khi chưa xuất gia.

[X. Hữu bộ tì nại da Q.18].

MẬT GIÁO CƯƠNG YẾU

Tác phẩm, 4 quyển, do Quyền điền Lôi

phủ người Nhật bản soạn, Vương hoằng

nguyện dịch vào đời Dân quốc.

Nội dung sách này chia làm 3 thiên:

Thiên đầu nói về Mật giáo Ấn độ, Trung

quốc và Nhật bản. Thiên thứ 2 nói về giáo lí

Mật giáo. Thiên thứ 3 giải thích về nghi thức

tác pháp của Mật giáo. Đây là tác phẩm nêu

rõ những cương yếu và là bộ sách nhập môn

để hiểu giáo pháp của Mật giáo.

(xt. Vương Hoằng Nguyện).

MẬT GIÁO MĨ THUẬT

Mĩ thuật đặc biệt của Mật giáo.

Xưa nay, Mật giáo lấy pháp tu của các vị

Bản tôn làm trọng điểm, về mặt tạo tượng

và vẽ tranh y cứ vào nghi quĩ mà có những

qui định đặc thù, cho nên, để thích ứng với

nhu cầu tu pháp mà về phương diện Tôn

tượng, pháp khí, mạn đồ la v.v… đã dùng

mĩ thuật để biểu hiện một cách rất đặc sắc.

Vì chịu ảnh hưởng sự sùng bái đa thần của

Ấn độ giáo nên trong Mật giáo có rất nhiều

loại tượng Phật, tượng các Tôn vị và phần

lớn thuộc về cách tạo hình siêu nhân loại,

như có nhiều mắt, nhiều mặt(3 mặt, 11 mặt),

nhiều tay(4 tay, 6 tay, 42 tay, 1.000 tay), hiện

tướng giận dữ, cầm các loại vũ khí v.v… Ý

nghĩa của các hình tượng này không ngoài

việc tượng trưng cho nhân loại vì muốn đạt

đến cảnh giới tức thân thành Phật, nên người

tu hành ở hiện thế phải hàng phục các ma,

khắc phục các chướng ngại ở nội tâm và ngoại

cảnh mà biểu hiện cảm giác cường lực và

thần bí sâu kín.

Về pháp khí, thông thường có chày kim

cương, chuông kim cương, mâm kim cương,

bánh xe báu, yết ma, lò hương, bình hoa, 6

thứ khí cụ, 4 cây cọc, đồ đựng thức ăn, thùng

chứa nước sạch, lò đốt củi hộ ma v.v… Lấy

Mật giáo Tây tạng(Lạt ma giáo) làm điển

hình, có thể chia làm 6 loại:

1. Dùng để kính lễ: Như ca sa, tràng

hạt, dây lụa…

2. Dùng để tán tụng: Như chuông,

chuông lắc, mõ, não bạt, kèn, trống, ống sáo

(làm bằng xương người), đàn 6 dây v.v…

3. Dùng để cúng dường: Như lư hương,

đế đèn, bát đựng nước, bình, mâm, chậu,

bát, cờ, phan, phướn, chuỗi anh lạc, tràng

hoa, lẵng hoa v.v…

4. Dùng để trì niệm: Như mạn đồ la,

tràng hạt, bạt chiết ra(tức các loại chày kim

cương 1 chĩa, 3 chĩa, 5 chĩa, bằng vàng, bàng gỗ

thơm v.v…), linh chử(1 chĩa, 3 chĩa, 5 chĩa),

giả cát la(tức bánh xe), trống, khánh, mõ gỗ

hình con cá, hồ quán đính v.v…

5. Dùng cho pháp tu Hộ ma: Như

mạn đồ la, lò đốt, Phật hộ thân, phù ấn

bí mật v.v…

6. Dùng để khuyên dạy: Bánh xe ma

ni, ống kì đảo, cờ kì đảo, vách kì đảo, đá kì

đảo v.v…

Trong các loại pháp khí nêu trên, 2 bộ

Mạn đồ la Thai tạng giới và Kim cương giới

là hình thức biểu hiện mĩ thuật đặc hữu của

Mật giáo đầy đủ nhất.

Mạn đồ la (Phạm:Maịđala, Hán dịch:

Đàn, Luân đàn) là bức tranh tượng Phật để

thờ khi tu pháp Mật giáo. Mạn đồ la Thai

MẬT GIÁO CƯƠNG YẾU

 

M

3086

tạng giới và

Mạn đồ la

Kim cương

giới tượng

trưng 2 thế

giới Lí và

Trí, còn

tượng các vị

tôn nhóm

họp thì

biểu hiện

thế giới

quan luân

viên cụ túc

của Mật

giáo, về

hình thức

thì hoặc

vuông hoặc

tròn. Ở

chính giữa

Mạn đồ la

Thai tạng

giới vẽ

tượng 1 đức

Phậthoặc 1

vị Bồ tát để làm Bản tôn; ở phía trên phía

dưới, 2 bên tả hữu, 4 phương cho đến 4

góc chung quanh vị Bản tôn đều vẽ tượng

1 đức Phật hoặc 1 vị Bồ tát, hình thành 1

đóa hoa sen nhìn xuống, trên đài(gương)

sen ở chính giữa là vị Bản tôn, trên 8 cánh

sen chung quanh đài sen mỗi cánh đều có

tượng của 1 vị tôn, tạo thành viện ở chính

giữa(viện Trung đài bát diệp). Ở phía ngoài

lại vẽ 1 lớp hoặc 2 lớp tượng các vị Bồ tát

hoặc chư thiên hộ pháp tạo thành viện

ngoài.

Mạn đồ la Kim cương giới thì do 9 hội

Mạn đồ la tổ chức thành. Hình bức tranh

lấy đầu trên làm phương Tây, dọc ngang chia

làm 3 ô, ô ở chính giữa là hội Thành thân,

từ đó tính xuống theo thứ tự chiều bên trái

là: hội Tam

muội da,

hội Vi tế,

hội Cúng

dường, hội

Tứ ấn, hội

Nhất ấn,

hội Lí thú,

hội Hàng

tam thế và

hội Hàng

tam thế

tam muội

da. Trong

đó, hình vẽ

của hội Lí

thú thì

hoàn toàn

như bức vẽ

Mạn đồ la

Kim cương

giới được

thu nhỏ

lại, hội

Nhất ấn

thì chỉ do

Đại nhật Như lai ở trong vòng tròn lớn mà

thành, 1 hội chỉ đơn thuần có 1 vị tôn nên

gọi là hội Nhất ấn. Bảy hội còn lại thì hình

thức đại khái giống nhau, đều do vị Chủ

tôn ở chính giữa và 4 đức Phật ở 4 phương

(hoặc các vị Bồ tát, Kim cương),4 Bồ tát Cúng

dường ở 4 góc tạo thành.

Khi vẽ Mạn đồ la phải tuân theo những

phép tắc được qui định trong các kinh và

nghi quĩ. Như vẽ Mạn đồ la Thai tạng giới

thì phải y cứ vào kinh Đại nhật, còn vẽ Mạn

đồ la Kim cương giới thì phải căn cứ vào

kinh Kim cương đính. Trong một bức tranh

có nhiều Phật và Bồ tát hàng hàng lớp lớp

phân bố ra, gọi là Phổ môn mạn đồ la, hoặc

Đô hội mạn đồ la, Phổ môn hội mạn đồ la.

Cũng có những bức Mạn đồ la lấy Phật Dược

MẬT GIÁO MĨ THUẬT

Mạn đồ la Thai tạng giới

Mạn đồ la Thai tạng giới

Mạn đồ la Kim cương giới

Mạn đồ la Kim cương giới

 

M

3087

sư, Phật A di đà, hoặc bồ tát Quan thế âm

làm trung tâm, hình thức tương đối đơn

giản, thì gọi là Nhất môn mạn đồ la, hoặc

Biệt môn mạn đồ la. Ngoài ra, hành giả tu

Mật giáo, trì tụng các kinh của Hiển giáo

như kinh Pháp hoa, kinh Nhân vương bát

nhã v.v… mà vẽ thành Pháp hoa mạn đồ

la, Nhân vương mạn đồ la thì gọi chung là

Kinh pháp mạn đồ la.

Tóm lại, Mật giáo cho rằng giáo lí của

mình là pháp môn bí mật phát xuất từ cảnh

giới nội chứng của Pháp thân Đại nhật Như

lai, cho nên dùng lưỡng giới Mạn đồ la cụ

thể để biểu hiện. Tức Mạn đồ la Kim cương

giới tượng trưng cho thế giới ngoại hiện,

còn Mạn đồ la Thai tạng giới thì tượng

trưng cho thế giới nội tại. Kết hợp 2 loại

Mạn đồ la này mới thành chân lí. Đem

nhân cáchhóa2 loại Mạn đồ la này thì

Đại nhật Như lai từ lưỡng giới lại diễn hóa

ra các vị tôn của lưỡng giới Mạn đồ la, vì

thế mà thông thường các chùa viện của Mật

giáo đều thờ Đại nhật Như lai ở địa vị Chủ

tôn. Nhưng sức diệu dụng mà Mật giáo

thường giải thích hiển bày là ở 5 vị Đại tôn

Minh vương Giáo lệnh luân thân: Bất động,

Hàng tam thế, Quân đồ lợi, Đại uy đức,

Kim cương dạ xoa

và Ái nhiễm minh

vương, trong đó

Bất động minh

vương là thân

biến hóa của đức

Đại nhật Như lai

(hiện tướng phẫn

nộ), các loại tu

pháp đều lấy vị

tôn này làm trung

tâm.

Về tượng Phật, đặc trưng của sự tạo hình

là ở chỗ màu sắc và hình dáng, cả 2 đều có ý

nghĩa trọng yếu. Mĩ thuật Mật giáo muốn

biểu hiện con người nhờ tu hành mà đạt

đến cảnh giới “tức thân thành Phật”, cho

nên người ta phải khắc phục các chướng ngại

ở bên trong cũng như bên ngoài và vì phải

hàng phục các chướng ngại ấy nên phải dùng

nhiều phương pháp biểu hiện. Chẳng hạn

tạo hình thể hiện hiệu quả 1 cách mạnh mẽ

như: làm nổi bật chức năng của các cảm quan

trong thân thể, hoặc biểu lộ ra ngoài bằng

hình tướng giận dữ, bậm môi, trừng mắt …

thường thấy ở các tôn tượng. Các vị tôn trong

Mật giáo, ngoài việc thần cách hóatôn

tượng, còn thần cách hóa chim thú. Phương

pháp biểu hiện thần cách hóa, có những

tạo hình đặc thù như: 3 mắt, 11mặt, 8 tay,

6 chân v.v… như Thập nhất diện Quan âm,

Như ý luân Quan âm, Mã đầu Quan âm,

Khổng tước minh

vương và Ngũ đại

tôn minh vương.

Lại tiến thêm

bước nữa bằng

cách xác lập, qui

định những tư

thái, hình tướng,

vật cầm v.v… của

các vị tôn đã được

thần cách hóa mà

đặt ra các nghi

quĩ.

Trong Mật giáo, các bức họa, điêu khắc

và những pháp cụ được biểu hiện đều mang

vẻ thần bí, sâu kín hoặc kì dị làm cho người

ta kinh hãi, đó là đem cái cảm giác vừa sợ

hãi, vừa tôn kính đối với sức thần bí mà

khái niệm hóa, tổ chức hóa để hiển bày cái

hình thái nghệ thuật có phong cách đặc biệt

khác lạ. Do đó, các tác phẩm nghệ thuật của

Mật giáo thường mang tính đả phá những

khuôn phép tạo hình đối xứng cân bằng của

nghệ thuật truyền thống mà biểu hiện cái

khí thế mạnh mẽ khiến người sợ hãi và tràn

đầy lực cảm.

(xt. Mạn Đồ La, Mật Giáo Pháp Khí).

MẬT GIÁO MĨ THUẬT

Minh Vương Bất Động

Quan Âm Mã Đầu

 

M

3088

MẬT GIÁO NGŨ ĐẠI

Năm đại: Đất, nước, lửa, gió và hư không

trong giáo nghĩa Mật giáo.

Khác với Hiển giáo cho 5 đại là các pháp

hữu vi, vô thường. Mật giáo thì lại chủ trương

5 đại được lập ra từ bản thể của các pháp , là

thân Tam muội da của Như lai. Tam muội

da có nghĩa là “bản thệ”(thệ nguyện xưa),

tiêu biểu, tức 5 đại tiêu biểu cho nội dung

cảnh giới nhiệm mầu tam mật vô tướng và

bản thệ của Pháp thân Như lai.

Thai tạng giới của Mật giáo lấy 5 đại sắc

pháp làm lí pháp thân của Đại nhật Như

lai, chủng tử là (a), (vi), (ra), (hùô),

(khaô), hoặc (a), (va), (ra), (ha),

(kha), tức là chủng tử của 5 đức Phật ở 5

phương, cũng tức là 5 đại được phối hợp với

5 Phật ở 5 phương.

Tôn thắng nghi quĩ do ngài Thiện vô úy

dịch vào đời Đường, theo thứ tự phối hợp 5

đại đất, nước, lửa, gió, hư không với 5

phương Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung

ương, tức là nghĩa Đông nhân Kim cương

giới tu sinh của thủy giác thượng chuyển.

Còn kinh Tú diệu do ngài Bất không

dịch vào đời Đường thì phối hợp không, gió,

lửa, nước, đất với Đông, Tây, Nam, Bắc và

Trung ương, tức là theo nghĩa Trung nhân

Thai tạng giới bản hữu của bản giác hạ

chuyển.

1. Tôn thắng nghi quĩ: Năm đại theo

nghĩa của Tôn thắng nghi quĩ là nương vào

“Đông nhân phát tâm”(phát tâm tu nhân

từ phương Đông):

a) Đất(địa đại), phối hợp với Phật A súc

ở phương Đông, là giai vị phát tâm, tức lấy

tâm bồ đề tu sinh làm Nhân (..), sinh khởi

muôn hạnh đại bi, cũng giống như đất là

cội gốc sinh ra muôn vật; lại vì tâm bồ đề

vững chắc không lay động, giống như đất,

cho nên kí hiệu của Phật A súc là bất động.

Trí đại viên kính gìn giữ tất cả pháp tương

ứng với đất gìn giữ muôn vật; Đất ở phương

Đông biểu thị của sự bắt đầu của tu sinh;

màu vàng là màu không thay đổi, tương ứng

với tính bất biến của tâm bồ đề.

b) Nước(thủy đại): Phối hợp với Phật Di

đà ở phương Tây, là giai vị thành tựu bồ đề;

tự tính thanh tịnh của tâm bồ đề và sự tròn

sáng rốt ráo của Vô lượng quang(Phật Di

đà) giống như tính trong sáng của nước; đức

thuyết pháp đoạn nghi của trí Diệu quán

sát giống như công năng rửa sạch bụi nhơ

của nước; Nước ở phương Tây, tương ứng

với chỗ cuối cùng của sự hành chứng(tu

hành chứng quả); màu trắng tương ứng với

Vô lượng quang(ánh sáng vô lượng).

c) Lửa(hỏa đại): Phối hợp với Phật Bảo

sinh ở phương Nam, là giai vị tu hành; tu

hành thành tựu muôn hạnh, giống như tính

nóng của lửa có công năng nấu chín muôn

vật; trí Bình đẳng tính diệt trừ tất cả sự phân

biệt hư vọng, khiến cho bình đẳng nhất như,

giống như công năng của lửa đốt cháy hết

muôn vật.

d) Gió(phong đại): Phối hợp với Phật Bất

không thành tựu ở phương Bắc, là giai vị

nhập Niết bàn, tức biểu thị trong Niết bàn,

muôn vật hoàn toàn vắng lặng, giống như

gió bão có công năng phá hoại muôn vật;

Gió ở phương Bắc, tương ứng với địa vị cao

tột của Niết bàn; màu đen tương ứng với sự

mầu nhiệm sâu kín của Niết bàn.

MẬT GIÁO NGŨ ĐẠI

Đồ biểu 1:Theo nghĩa của Tôn Thắng Nghi Quĩ

Đông

Đất vàng

A Súc

Phát tâm

Trí đại

viên kính

Tây

Nước trắng

Di Đà

Bồ đề

Trí diệu

quán sát

Nam

Lửa đỏ

Bảo Sinh

Tu hành

Trí bình

đẳng tính

Trung

Hư không xanh

Đại Nhật

Phương tiện

Trí pháp giới

thể tính

Bắc

Gió đen

Bất Không

Niết bàn

Trí thành

sở tác

 

M

3089

e) Hư không(không đại): Phối với Phật

Đại nhật ở Trung ương, là giai vị phương

tiện cứu cánh; biểu thị đã viên thành 4 đức,

hàm chứa tất cả công đức tự lợi lợi tha, giống

như hư không dung nạp hết thảy muôn vật;

trí pháp giới thể tính của đức Đại nhật, cũng

giống như hư không, rộng lớn vô biên, trùm

khắp pháp giới; Hư không ở Trung ương,

tương ứng với sự trùm khắp pháp giới; màu

xanh tương ứng với sự dung nạp hết thảy

(xem đồ biểu trên).

2. Kinh Tú diệu: Năm đại theo nghĩa

của kinh Tú diệu là nương vào “Trung nhân

phát tâm”(phát tâm tu Nhân từ Trung ương):

a) Đất(địa đại): Phối với Đại nhật Như

lai ở Trung ương, là giai vị phát tâm. Đây là

biểu thị tâm bồ đề vốn có, vững chắc không

lay động, là thể tính bản nguyên của các

pháp, tính ấy giống như mặt đất; cũng như

trí pháp giới thể tính là nguồn gốc của các

pháp; Đất màu vàng, tương ứng với tính bất

biến của tâm bồ đề.

b) Hư không(không đại): Phối hợp với

Phật A súc ở phương Đông, là giai vị tu hành;

tu muôn hạnh đều đầy đủ không thiếu, giống

như hư không hàm chứa muôn vật, cũng

như trí đại viên kính chiếu soi hết thảy. Hư

không ở phương Đông là chỗ bắt đầu của

muôn vật, vì thế nên tương ứng với chỗ bắt

đầu của muôn hạnh; màu xanh hàm chứa

cả 5 màu, cho nên tương ứng với sự hàm

chứa muôn hạnh.

c) Gió(phong đại): Phối với Phật Di đà

ở phương Tây, là quả vị Niết bàn. A di đà,

Hán dịch là Vô lượng quang, biểu thị cho

đức của Niết bàn. Trí diệu quan sát và công

dụng thuyết pháp đoạn nghi sinh tín của

trí này tương ứng với 2 công năng phá hoại

và sinh thành của gió. Đối lại với phương

Đông là chỗ bắt đầu của muôn vật thì

phương Tây là chỗ chung cuộc của muôn

vật, tức là quả Niết bàn. Màu trắng tương

ứng với Vô lượng quang.

d) Lửa(hỏa đại): Phối hợp với Phật Bảo

sinh ở phương Nam, là giai vị thành tựu bồ

đề, vì giai vị này thành tựu muôn hạnh, làm

nở hoa bồ đề, giống như tính nóng của lửa

làm cho muôn vật thành thục, cho nên phối

với phương Nam là màu đỏ.

e) Nước(thủy đại): Phối hợp với Phật

Bất không thành tựu ở phương Bắc, là giai

vị phương tiện cứu cánh; ở giai vị này, dùng

phương tiện lợi tha để thành tựu diệu nghiệp

hóa tha, có năng lực tùy thuận căn cơ để

đoạn trừ mê vọng cho chúng sinh, giống như

nước có công năng rửa sạch bụi nhơ, có hình

vuông hay tròn đều tùy theo vật chứa. Theo

tục Ấn độ, phương Bắc là hướng tốt, cho

nên tương ứng với giai vị cứu cánh; màu

đen là màu chí cực, tương ứng với chỗ chí

cực của giai vị cứu cánh.

[X. phẩm Tất địa xuất hiện trong kinh

Đại nhật Q.3; phẩm A xà lê chân thực trí

trong kinh Đại nhật Q.5]. (xt. Trung Nhân

Phát Tâm, Đông Nhân Phát Tâm, A Tự Ngũ

Chuyển).

MẬT GIÁO PHÁP KHÍ

Những pháp khí của Mật giáo sử dụng

trong các khóa tu trì hoặc trong pháp hội.

Một trong những nét đặc sắc của Phật

giáo Tây tạng là chú trọng về nghi quĩ phiền

tạp và pháp khí đặc định. Về nguồn gốc pháp

khí, chủ yếu là Phật giáo Ấn độ vào thời kì

MẬT GIÁO PHÁP KHÍ

Đồ biểu 2:Theo nghĩa của kinh Tú Diệu

Đông

Hư không xanh

A Súc

Phát tâm

Trí pháp giới

thể tính

Tây

Gió trắng

Di Đà

Phương tiện

Trí thành

sở tác

Nam

Lửa đỏ

Bảo Sinh

Bồ đề

Trí bình

đẳng tính

Trung

Đất vàng

Đại Nhật

Tu hành

Trí đại

viên kính

Bắc

Nước đen

Bất Không

Niết bàn

Trí diệu

quán sát

 

M

3090

sau cùng đã hấp thụ các pháp khí của Ấn

độ giáo rồi truyền vào Tây tạng, đồng thời

khi đến Tây tạng lại du nhập thêm một số

pháp khí của Bổng giáo truyền thống, cho

nên danh mục rất nhiều. Nay căn cứ vào

những trường hợp sử dụng khác nhau, có

thể chia ra 6 loại:

I. Pháp khí được sử dụng khi lễ kinh:

1. Ca sa: Giống như miếng lụa vuông 1

lớp, quấn quanh mình, để trần vai bên phải,

hình thức tuy khác nhưng về ý nghĩa thì

cũng giống như loại áo của Trung quốc.

2. Quải châu: Xâu

chuỗi gồm 108 hạt, có

nhiều loại như hạt bồ đề,

hạt kim cương, hạt sen,

hạt thủy tinh, hạt chân

châu, hạt san hô, hạt hổ

phách, hạt mã não, hạt

pha lê, hạt vàng xanh,

hạt vàng trắng, hạt cây

mộc hoạn, hạt làm bằng

xương sọ người v.v… tùy

theo mỗi pháp tu mà

được sử dụng.

3. Cáp đạt: Tấm sa(lụa mỏng) hình chữ

nhật có nhiều màu như: Đỏ lợt, vàng, lam,

loại lớn khoảng hơn 3 mét, loại nhỏ khoảng

1,4 mét, hay nhỏ hơn nữa, dùng làm quà

tặng, biếu cho khách, yết kiến Lạt ma, hoặc

trao đổi với bạn bè để tỏ lòng quí kính. Màu

sắc, kích thước phải tùy theo địa vị, giai cấp

khác nhau mà có qui chế nhất định, không

được dùng lẫn lộn.

II. Những pháp khí được sử dụng khi

xưng tán.

1. Chuông: Có đủ các kiểu lớn nhỏ.

2. Đạc: Cái linh lớn có con lắc bằng kim

loại hoặc bằng gỗ.

3. Trống: Có các loại như: Trống lớn,

trống cơm, trống yết(loại nhạc khí của giống

Yết, 1 chi của rợ Hung nô đến ở đất Yết thất,

nên gọi là Yết), trống đồng v.v…

4. Linh: Chuông nhỏ cầm tay.

5. Não bạt: Chập chọe, loại lớn gọi là

Não, loại nhỏ gọi là Bạt.

6. Tất lật: Kèn loa hình dáng giống cái

ống sáo, phát ra âm thanh trầm buồn, vì thế

cũng gọi là Bi lật.

7. Cốt địch: Ống sáo làm bằng xương

người.

8. Lục huyền cầm: Đàn 6 dây.

III. Pháp khí sử dụng khi cúng dường:

1. Lư hương.

2. Đế đèn.

3. Chén đựng nước.

4. Đồ dâng cúng: Bình, mâm, bát, li,

chén v.v…

5. Lá cờ: Hình dáng giống như cờ tiết,

làm bằng lông vũ, đá quí, vàng, lụa v.v…

6. Lá phan: Như loại cờ gió mà những

người đi thuyền thường sử dụng. Có nhiều

cỡ: lớn, nhỏ, dài, ngắn.

7. Lá phướn: Lớn và dài hơn lá phan

nhiều, trên đầu có tàn(cái), thường được

treo trong chính điện.

8. Anh lạc: Vòng trang sức được xâu

bằng những hạt ngọc quí. Đội ở trên đầu

gọi là Anh, đeo ở trên mình gọi là Lạc.

9. Hoa man:

Tràng hoa, dùng

hoa kết thành

vòng tròn hoặc

dây dài.

10. Hoa lung:

Lẵng đựng hoa,

được làm bằng

các chất liệu như:

Vàng, bạc, tre, gỗ v.v…

IV. Pháp khí sử dụng khi trì nghiệm.

1. Mạn đồ la, cũng gọi Đạo tràng, Đàn

thành, Luân đàn, Luân viên cụ túc: Đàn được

sử dụng khi tu trì mật pháp, có nhiều hình

thức như vuông, tròn, 3 góc v.v…

2. Niệm châu, cũng gọi Sổ châu, Phật

châu: Chuỗi tràng hạt nhỏ hơn Quải châu,

MẬT GIÁO PHÁP KHÍ

Chuỗi hạt Kim cương

Lẵng đựng hoa

 

M

3091

số hạt không cố định, có thể từ 14 đến

1.080 hạt.

3. Kim cương chử: Chày kim cương, có

3 loại: 1 chĩa,

3 chĩa, 5 chĩa,

làm bằng kim

loại quí hoặc

gỗ thơm.

4. Linh chử: Cũng chia làm 3 loại: 1

chĩa, 3 chĩa, 5 chĩa.

5. Luân, cũng gọi Giả cát la: Bánh xe.

6. Cổ: Trống, có 2 thứ trống lớn và trống

nhỏ.

7. Dẫn khánh: Cái kiểng, kiểu giống

kiểng của Trung quốc.

8. Mộc ngư: Mõ bằng gỗ có hình con

cá, cũng giống kiểu mõ của Trung quốc.

9. Quán đính hồ: Bình đựng nước được

dùng khi tu pháp truyền Quán đính cho

đệ tử.

V. Pháp khí được sử dụng khi tu pháp

Hộ ma.

1. Mạn đồ la.

2. Lư: Lò đốt, chia làm 3 loại: Vuông,

tròn, tam giác, được dùng tùy theo pháp tu.

3. Hộ thân Phật: Tượng Phật bằng đồng

đặt trong 1 cái hộp bằng bạc, hoặc đội trên

đầu hoặc đeo ở ngực.

4. Bí mật phù ấn: Lá bùa và ấn, chia

làm 3 hình thức: Vuông, tròn, tam giác, gồm

có các loại: Hộ thân, hộ nhà, bảo hộ đất

nước, đuổi ma quỉ, trừ tai họa, tăng phúc

thọ v.v…

VI. Pháp khí được dùng khi khuyên

dạy.

1. Ma ni luân: Bánh xe có hình dáng

như cái thùng gỗ, ở giữa có cái trục, có thể

xoay vòng, trên khắc câu thần chú Lục tự

Quan âm.

2. Kì đảo đồng: Ống kì đảo, hình thức

giống như Ma ni luân nhưng lớn hơn, được

quay bằng sức gió, sức nước hoặc máy móc.

3. Kì đảo bích: Tấm ván mỏng trên có

khắc câu chú 6 chữ, được treo trên vách.

4. Kì đảo chàng: Lá cờ trên có viết câu

chú 6 chữ, buộc vào cây sào cắm trên nóc

nhà.

5. Kì đảo thạch: Tấm đá trên có khắc

câu chú 6 chữ, đặt ở chân núi hoặc bên cạnh

đường.

MẬT GIÁO SÁM PHÁP

Pháp lễ Phật sám hối được thực hành

trong Mật giáo.

Thai tạng giới tu Cửu phương tiện sám

hối và Kim cương giới tu Ngũ hối sám hối.

I. Cửu Phương Tiện.

Chín pháp nương vào sức phương tiện

như kết ấn, tụng chú để diệt trừ tội lỗi, thành

tựu chân thực. Có thuyết cho rằng 9 pháp

này là những phương tiện được thực hành

trước khi tu pháp. Cửu phương tiện là:

1. Tác lễ phương tiện: Cung kính lễ bái

qui mệnh Tam bảo trong 10 phương và 3

đời quá khứ, hiện tại, vị lai.

2. Xuất tội phương tiện: Sám hối các

tội lỗi đã phạm từ vô thủy đến nay.

3. Qui y phương tiện: Qui y Tam bảo.

4. Thí thân phương tiện: Hành giả dâng

thân mình cúng dường các vị tôn.

5. Phát bồ đề tâm phương tiện: Phát

MẬT GIÁO SÁM PHÁP

Đàn Thành

Chày Kim cương 5 chĩa

 

M

3092

tâm bồ đề và sinh khởi tâm đại bi làm lợi

ích chúng sinh.

6. Tùy hỉ phương tiện: Thấy chư Phật,

Bồ tát, Nhị thừa và chúng sinh tu phúc trí

thiện căn, hành giả đều tùy hỉ.

7. Khuyến thỉnh phương tiện: Tức

thỉnh chư Phật, Bồ tát trụ lâu nơi đời và

thường chuyển pháp luân.

8. Phụng thỉnh pháp thân phương tiện:

Khiến chúng sinh an trụ nơi Pháp thân.

9. Hồi hướng phương tiện:Hành giả

đem phúc đức thiện cănmà mình đã tu được,

hồi hướng cho tất cả chúng sinh.

Cửu phương tiện biểu thị ý nghĩa hành

giả chuyển 9 thức mà hiển bày pháp nội

chứng của 9 vị tôn ở Trung đài Bát diệp,

hoặc biểu thị ý nghĩa Tam tam bình đẳng.

Có thuyết cho rằng Thai tạng giới là

Nhân mạn đồ la, cho nên căn cứ vào 9 thức

của Nhân vị ( ) mà lập 9 phương tiện;

hoặc cho rằng Thai tạng giới được kiến lập

từ Tam bộ, cho nên dựa theo ý nghĩa Tam

tam bình đẳng mà lập Cửu phương tiện.

II. Ngũ Hối.

Nêu lên những hạnh nguyện chung của

tất cả Phật, Bồ tát để biểu thị ý thú lễ bái

sám hối. Mà hạnh nguyện của chư Phật. Bồ

tát thì không ngoài 10 Đại nguyện của bồ

tát Phổ hiền, Ngũ hối và 10 đại nguyện tuy

khác nhau nhưng pháp thể thì chỉ là một, vì

thế Ngũ hối cũng được gọi là Phổ hiền hạnh

nguyện. Ngũ hối là:

1. Chí tâm qui mệnh: Với 3 nghiệp

thanh tịnh, thành tâm lễ kính qui mệnh

Tam bảo.

2. Chí tâm sám hối: Dốc lòng sám hối

những tội nghiệp đã tạo ra ở đời quá khứ.

3. Chí tâm tùy hỉ: Thấy chư Phật, Bồ

tát, Nhị thừa và tất cả hữu tình tu tập phúc

đức thiện căn và trí tuệ, hành giả đều dốc

lòng tùy hỉ.

4. Chí tâm khuyến thỉnh: Một lòng

khuyến thỉnh chư Phật hiện tại trong 10

phương, thường trụ ở thế gian, không bỏ

nguyện đại bi, mãi mãi chuyển pháp luân

làm lợi ích cho chúng sinh.

5. Chí tâm hồi hướng: Đem tất cả những

công đức đã thành tựu được như: Công đức

không mất 4 pháp nêu trên, không thoái

chuyển tâm bồ đề, thường tu học theo chư

Phật, thường sinh vào các chủng tộc cao quí,

được 4 biện tài, 6 thần thông, 10 tự tại và

các cảnh giới thiền định v.v… dốc lòng hồi

hướng đến Vô lượng bồ đề.

Có thuyết cho rằng Kim cương giới là

Quả mạn đồ la, cho nên biểu thị 5 trí của

Quả vị ( ); hoặc cho rằng vì Kim cương

giới được cấu thành từ 5 bộ cho nên lập

Ngũ hối.

[X. kinh Đại nhật Q.7; kinh Yếu lược

niệm tụng; kinh Nhất thiết Như lai chân

thực nhiếp Đại thừa hiện chứng đại giáo

vương Q.thượng, hạ; Liên hoa bộ tâm nghi

quĩ, Như ý luân nghi quĩ].

MẬT GIÁO TAM TAM MUỘI MÔN

Ba môn giải thoát của Mật giáo, cũng

tức là pháp quán tưởng mà hành giả thực

hiện vào các giai đoạn đầu, giữa và cuối

pháp tu .

Tam tam muội là Tam ma địa của chữ

“Hồng”, chữ Hồng này có 3 đức giải thoát.

Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 9, thì

chân ngôn lấy chữ “Hồng” ( , hùô) cuối

cùng làm thể, đầy đủ 3 môn giải thoát bí

mật. Nghĩa là trên chữ có cái chấm

Không (.), tức là nghĩa Đại không, là Không

giải thoát môn; bản thể là chữ (ha), vì

lìa nhân duyên nên là Vô tướng giải thoát

môn; dưới có chữ (ù) với chấm tam muội,

vì vốn chẳng sinh nên là Vô tác giải thoát.

Ba môn này, tất cả các chướng ngại đều

không thể xâm nhập được.

Cứ theo Bí tạng kí sao quyển 4, ở giai

đoạn đầu của pháp tu, thực hành pháp quán

MẬT GIÁO TAM TAM MUỘI MÔN

 

M

3093

Tam muội này; cuối cùng, khi tu pháp đã

xong cũng lại thực hành pháp quán này. Cái

chấm Không biểu thị cho tâm thái xa lìa

Hữu và Không, quán các pháp bình đẳng,

không nguyện dứt sống chết, mong chứng

được Niết bàn, cho nên đạt đến Không giải

thoát môn. Bản thể chữHabiểu thị vô

tướng, tức là nghĩa Không cũng Không, đoạn

trừ chấp trước về Không. Chữ Ùnghĩa là

vốn không sinh, cho nên chẳng cầu mong

điều gì, tức là Vô tác giải thoát môn.

Đối với việc kiến lập Tam tam muội,

Hiển giáo thường nói theo việc quán xét ngăn

dứt tình chấp, còn Mật giáo thì nói theo

nghĩa sâu kín về mặt biểu đức; hoặc cho rằng

Không, Vô tướng là ngăn dứt tình chấp, Vô

nguyện là biểu đức. Nếu nói theo nghĩa biểu

đức, thì Không nghĩa là tất cả các pháp dung

thông vô ngại; Vô tướng nghĩa là muôn đức

tròn đầy vô tận; Vô nguyện nghĩa là hành

giả xưa nay vốn có đầy đủ công đức của Mạn

đồ la Kim cương bộ và Thai tạng bộ, cho

nên không còn cầu mong điều gì.

[X. Bí tạng kí Q.đầu]. (xt. Tam Tam

Muội).

MẬT GIÁO TỨ BA LA DI

Bốn giới nặng mà hành giả Mật giáo phải

giữ gìn.

Thông thường, trong giới Tỉ khưu có 4

tội Ba la di: Giết hại, trộm cắp, dâm dục và

nói dối, nhưng Mật giáo thì căn cứ vào Phật

tính tam muội da giới mà lập riêng 4 trọng

cấm là:

1. Bất xả chính pháp giới: Tất cả Thánh

giáo của Như lai đều phải tu tập, không được

xả bỏ.

2. Bất xả li bồ đề tâm giới: Tâm bồ đề

là tiêu biểu cho muôn hạnh Bồ tát, nếu xả

bỏ thì muôn hạnh không có chỗ nương, cho

nên không được xa lìa tâm bồ đề.

3. Bất ưng khan lận pháp giới: Không

được bỏn sẻn pháp, vì chính pháp là di sản

của bậc Đại thánh truyền lại, nếu Bồ tát bỏn

sẻn không bố thí pháp thì cũng đồng với tội

ăn trộm tài vật của Tam bảo.

4. Nhiêu ích hành giới: Phải làm tất cả

những việc lợi ích, nhiếp hóa chúng sinh

làm nhân duyên vào đạo.

Đại nhật kinh sớ quyển 17 (Đại 39, 757

trung), nói: “Không bỏ Tam bảo, cũng không

xa lìa tâm bồ đề, đó là 4 trọng cấm chân

thực của Bồ tát”.

Vì không bỏ Tam bảo là 3, cộng với

không xa lìa tâm bồ đề là 4 Ba la di. Nếu

phạm 4 giới này thì mất mệnh căn của Chân

ngôn thừa, hệt như mất đầu. Vì đã dứt mất

cội gốc của nghiệp thiện thì tất cả công đức

không nảy sinh được, nên mọi sự tu hành

đều không có kết quả.

Khi cử hành lễ quán đính, ở đàn giới

tam muội da, vị A xà lê truyền trao 4 giới

trọng này. Bài kệ nói về 4 giới trọng này

trong phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật gọi là

Tam muội da kệ; cũng kinh Đại nhật, phẩm

Học xứ thì gọi là Tứ chủng căn bản tội.

Còn Đại nhật kinh sớ quyển 9 thì gọi là

Tứ ba la di.

(xt. Tứ Chủng Trọng Cấm).

MẬT GIÁO TỨ VÔ LƯỢNG QUÁN

Cũng gọi Mật giáo tứ vô lượng tâm quán.

Chỉ cho pháp quán tưởng 4 tâm từ, bi,

hỉ, xả của đức Phật mà hành giả Mật giáo tu

tập.

Theo kinh Thiên thủ thiên nhãn nghi

quĩ quyển thượng chép:

1. Từ vô lượng quán: Tam ma địa của

Bồ tát Phổ Hiền ở phương đông. Hành giả ở

trong định Từ vô lượng, với tâm thanh tịnh,

ân cần quán xét tất cả hữu tình khắp trong

tứ sinh lục đạo đều đầy đủ 6 đại, 4 mạn của

Như lai và 3 kim cương thân, khẩu, ý. Rồi

khởi niệm đại từ tu công đức của Tam mật,

MẬT GIÁO TỨ VÔ LƯỢNG QUÁN

 

M

3094

khiến hết thảy hữu tình cũng được giống

hệt như bồ tát Phổ hiền. Quán như thế xong

liền tụng chân ngôn Đại từ tam ma địa: Án

(oô,qui mệnh) ma ha muội đát la dạ (mahàmàitraya,

đại từ) sa phả la (sphara,phổ

biến), nghĩa là làm cho tâm đại từ trùm khắp

tất cả.

2. Bi vô lượng quán: Tam ma địa của

bồ tát Hư không tạng ở phương nam. Hành

giả ở trong định Bi vô lượng, với tâm thương

xót, quán xét tất cả hữu tình khắp trong tứ

sinh lục đạo, đang chìm đắm trong biển khổ

sinh tử, chẳng ngộ tự tâm, vọng khởi phân

biệt, sinh ra các thứ phiền não, do đó không

đạt được chân như bình đẳng, có hằng sa

công đức vượt qua hư không, vì thế nguyện

làm cho hết thảy hữu tình cũng được giống

hệt như bồ tát Hư không tạng. Quán như

thế rồi tụng chân ngôn Đại bi tam ma địa:

Án (oô, qui mệnh) ma ha ca lỗ noa dạ

(mahà-kàroịaya,đại bi) sa phả la (sphara,

phổ biến), nghĩa là làm cho tâm đại bi trùm

khắp tất cả.

3. Hỉ vô lượng quán: Tam ma địa của

bồ tát Quán tự tại ở phương tây. Hành giả ở

trong định Đại hỉ vô lượng, với tâm thanh

tịnh, quán xét tất cả chúng sinh khắp trong

tứ sinh lục đạo, xưa nay vốn thanh tịnh,

giống như hoa sen không nhuốm bùn nhơ,

tự tính trong sạch, nên nguyện dùng sức công

đức tu Tam mật của mình làm cho hết thảy

hữu tình được giống hệt bồ tát Quán tự tại.

Quán như thế rồi tụng chân ngôn Đại hỉ

tam ma địa: Án (oô,qui mệnh) truật đà bát

la mô na (zuddha pramàda,hỉ vô lượng) sa

phả la (sphara,phổ biến), nghĩa là làm cho

tâm Đại hỉ trùm khắp tất cả.

4. Xả vô lượng quán: Tam ma địa của

bồ tát Hư không khố ở phương bắc. Hành

giả ở trong định Xả vô lượng, với tâm bình

đẳng, quán xét hết thảy hữu tình khắp trong

tứ sinh lục đạo, đều lìa ngã, ngã sở, đối với

pháp bình đẳng tâm vốn chẳng sinh, nên

nguyện dùng công đức tu Tam mật của mình

khiến cho hết thảy chúng sinh đều được

giống như bồ tát Hư không khố. Quán như

thế rồi tụng chân ngôn Xả vô lượng tam ma

địa: Án (oô,qui mệnh) ma hộ bế khất sái

(mahopekwa,xả li) sa phả la (sphara,phổ

biến), nghĩa là làm cho tâm Xả vô lượng bao

trùm khắp tất cả.

[X. Bí tạng kí Q.đầu].

MẬT HẠNH

Hộ trì giới hạnh một cách tinh vi, tức là

có thể giữ gìn đầy đủ 3 nghìn uy nghi và 8

vạn tế hạnh không thiếu sót.

Ngài La hầu la đã nhờ giữ gìn giới luật

một cách kiên cố mà trở thành người giữ

mật hạnh bậc nhất trong hàng đệ tử của

đức Phật.

Nhưng theo tông Thiên thai thì mật

hạnh của Đại thừa và Tiểu thừa có khác

nhau. Giữ gìn giới luật một cách tinh vi là

mật hạnh Tiểu thừa, theo kinh Pháp hoa,

ngài La hầu la vốn là 1 vị Bồ tát pháp thân,

an trụ trong diệu giới viên đốn, nhưng nay

thị hiện thân Thanh văn, giữ gìn giới thô

của Tiểu thừa mà ẩn kín giới viên đốn vi

diệu của bản địa, cho nên gọi là Mật hạnh.

[X. phẩm Thụ học vô học nhân kí trong

kinh Pháp hoa Q.4; Pháp hoa huyền nghĩa

thích tiêm Q.8].

MẬT HẠNH NHẪN THIỀN SƯ NGỮ LỤC

Gọi đủ: Hành châu khai phong Mật hạnh

nhẫn thiền sư ngữ lục.

Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Mật hạnh

Tịch nhẫn soạn vào đời Minh, ngài Minh

quảng biên tập, ấn hành vào khoảng năm

Khang hi (1662-1722) đời Thanh.

Nội dung: Quyển 1 là Thướng đường

ngữ. Quyển 2 gồm các mục Pháp ngữ, cơ

duyên có liên quan đến Thướng đường ngữ,

MẬT HẠNH NHẪN THIỀN SƯ NGỮ LỤC

 

M

3095

Chức sự bảng, An thiền bảng. Quyển 3 thu

chép các bài tụng cổ, thi kệ, tán…

MẬT HIÊU

…..

I. Mật Hiệu.

Danh từ ẩn chứa chân nghĩa sâu xa

không thể qua hình dạng văn tự mà có thể

hiểu thấu được. Như ví dụ núi có nghĩa là

tâm bồ đề thanh tịnh không động chuyển,

hoặc ví dụ đất có nghĩa chọc thủng vô minh

trụ địa và trừ bỏ sự nhơ nhớp của tâm vọng

tưởng. Ý nghĩa sâu xa trong 2 thí dụ này,

những người tầm thường không thể theo

mặt chữ để suy lường mà biết được, cho

nên gọi là Mật hiệu. Lại như câu nói: “Hãy

giết hết hữu tình trong 3 cõi”. Theo ý nghĩa

sâu xa ẩn chứa trong câu nói ấy là phải diệt

trừ hết hoặc nghiệp làm nhân cho sinh tử

trong 3 cõi.

Đại nhật kinh sớ quyển 4 (Đại 39, 620

hạ) nói: “Pháp môn mạn đồ la này cũng lại

như thế, Như lai dùng các nhân duyên sự

tướng của thế gian ví dụ cho pháp giới chẳng

thể nghĩ bàn để dẫn dắt các căn cơ. Nếu

nhận ra điều này thì có thể tin hiểu được

Phổ môn, dũng mãnh tiến tu, được Tam

mật gia hộ. Khi nguồn tâm đã sáng, mới biết

tất cả danh ngôn đều là Mật hiệu của Như

lai, những người thường tình không thể biết

được. Như nói trì tụng 3 tháng, cho đến

phương tiện 3 chuyển trong tính thanh tịnh

viên minh, há có thể hiểu là 9 tuần thôi sao?

Lại như Phật Bảo chàng ở phương đông, là

nghĩa mới phát tâm bồ đề, há chỉ hiểu là 4

phương được sao?”

II. Mật Hiệu.

Cũng gọi Kim cương danh, Quán đính

hội.

Danh hiệu Kim cương mà Phật và Bồ tát

thuộc Mật bộ đều có. Như Đại nhật Như lai

mật hiệu là Biến chiếu kim cưong, Minh

vương Ô xu sa ma mật hiệu là Hỏa đầu kim

cương, đức Phật A di đà mật hiệu Thanh

tịnh kim cương. Ngoài ra, khi hành giả Mật

giáo nhận lãnh pháp Quán đính cũng được

gọi bằng mật hiệu này.

III. Mật Hiệu.

Tên khác của chân ngôn Mật giáo.

[X. Đại nhật kinh sớ Q.1]. (xt. Chân Ngôn).

MẬT LẶC ĐẠI SƯ TOÀN TẬP

Gọi đủ: Mật lặc nhật ba đại sư toàn tập.

Tác phẩm, do ngài Mật lặc nhật ba, người

Tây tạng soạn, cư sĩ Trương trừng cơ dịch

vào thời Dân quốc, Trung quốc, nhà xuất

bản Tuệ cự ấn hành.

Nội dung sách này có 2 phần: “Mật lặc

nhật ba tôn giả truyện” và “Mật lặc đại sư

thập vạn ca tập”. Về phần trước, họ Trương

chỉ dựa vào nguyên bản Tây tạng mà biên

dịch, có rất nhiều chỗ lược bớt, còn phần

sau thì tuyệt đại bộ phận được dịch từng

câu theo nguyên văn.

Ngài Mật lặc nhật ba là người đại biểu

cho nền Phật pháp thực tiễn, đồng thời cũng

là 1 nhà thơ lớn của Phật giáo Tây tạng. Sách

này tuy chưa thu tập được toàn bộ tư liệu

hoằng pháp của ngài Mật lặc, nhưng trên

đại thể, có thể được xem là tác phẩm chủ

yếu đại biểu cho tư tưởng và sự hành trì

Phật pháp của ngài.

MẬT LẶC NHẬT BA (1038 ?-1122)

Tạng: Mi-la-ras-pa.

Cao tăng Tây tạng, người ởKya-ía-tsa

gần Népal, là đệ tử chính truyền của ngài

Mã nhĩ ba (Tạng:Mar pa), tổ khai sáng

phái Ca nhĩ cư.

Sư mồ côi cha từ năm 7 tuổi, vì hận chú

và cô chiếm đoạt gia sản nên sư học phép

chú thuật giết người và làm mưa đá, do đó

đã gây nên nhiều nghiệp ác. Về sau, sinh

tâm hối hận, sư theo chính pháp tu tập thiện

MẬT LẶC NHẬT BA

 

M

3096

nghiệp. Để

giúp sư tiêu

trừ tội

chướng, ngài

Mã nhĩ ba

dạy sư tu tập

nhiều pháp tu

khổ hạnh của

Đại Tiểu

thừa; sau khi

diệt trừ ác

nghiệp, sư

được thụ quán đính và khẩu quyết tu trì. Sư

nổi tiếng về khổ hạnh và giỏi ca vịnh. Vì sư

thường đi nhiều nơi giáo hóa làm lợi ích

chúng sinh nên được tôn xưng là Mật lặc

tôn giả. Giáo lí do sư truyền lại rất gần chủ

nghĩa thần bí. Sư có rất nhiều đệ tử, trong

đó có 25 người được đại thành tựu và người

tập đại thành học thuyết của sư là Đạt bảo

cáp giải (Tạng: Dwag-po lha-rje, 1077-1152).

Sư có các tác phẩm: Bồ đề đạo thứ đệ

tùy phá tông trang nghiêm kinh, Thập vạn

ca tập.

MẬT LÂM SƠN BỘ

………..

Phạm:Waịđagàrikà.

Hán âm: Sa na lợi ca, Sơn đà già lê kha.

Cũng gọi Mật lâm trụ bộ, Mật sơn trụ

bộ, Nhận sơn bộ, Lục thành bộ.

Một chi phái chia ra từ Độc tử bộ thuộc

Thượng tọa bộ, được hình thành vào khoảng

300 năm sau đức Phật nhập diệt, là 1 trong

20 bộ phái Tiểu thừa.

Dị bộ tông luân luận thuật kí (Vạn tục

83, 220 thượng), nói: “Mật lâm sơn là vùng

rừng núi, cây cối um tùm rậm rạp, vì chủ bộ

của phái này ở tại đây nên lấy tên là Mật

lâm sơn bộ. Kinh Văn thù vấn thì gọi bộ

này là Nhận sơn bộ”.

Giáo nghĩa của bộ phái này đại khái cũng

giống với giáo nghĩa của Độc tử bộ, nhưng

nguyên nhân dẫn đến việc phân phái là vi

bất đồng quan điểm về bài tụng:

“Dĩ giải thoát cánh đọa

Đọa do tham phục hoàn

Hoạch an hỉ sở lạc

Tùy lạc hành chí lạc”.

Phái này chủ trương có 6 loại Vô học:

Thoái pháp, Tư pháp, Hộ pháp, An trụ,

Kham đạt và Bất động. Và cho rằng Dĩ giải

thoát(đã giải thoát) là Tư pháp, cánh đọa

(lại bị đọa) là Thoái pháp; Đọa do tham(đọa

là tại vì tham) ở câu thứ 2 là Hộ pháp, phục

hoàn(trở lại) là An trụ; câu thứ 3 là Kham

đạt và câu thứ 4 là Bất động.

[X. kinh Xá lợi phất vấn; Bộ chấp dị luận;

Thập bát bộ luận]. (xt. Bộ Phái Phật Giáo,

Độc Tử Bộ).

MẬT LẬP

Đối lại: Hiển lập.

Nghi thức pháp hội được tổ chức y theo

pháp thức thuần túy của Mật giáo. Hiển lập

nghĩa là đem nghi thức của Hiển giáo mà

dùng cho Mật giáo. Còn pháp hội đặc hữu

của Mật giáo thì gọi là Mật lập.

MẬT NGHĨA

…..

Nghĩa lí sâu xa kín nhiệm.

Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19,

106 trung) nói: “Kính vâng lời đức Từ

nghiêm, mong cầu mật nghĩa. Lúc ấy, đức

Như lai liền trải tọa cụ ngồi yên, rồi giảng

nói cho thính chúng trong hội nghe về nghĩa

lí sâu xa kín nhiệm”.

MẬT NGHIÊM HẢI HỘI

Tịnh độ của chư Phật được trang

nghiêm bằng tam mật thân, khẩu, ý. Hải

hội, ví dụ thính chúng trong pháp hội nhiều

như nước biển.

MẬT NGHIÊM HẢI HỘI

Mật Lặc Nhật Ba

 

M

3097

Đại nhật kinh sớ quyển 3 (Đại 39, 608

trung) nói: “Nhờ phương tiện tam mật mà

tự tâm lắng trong, cho nên Mật nghiêm

hải hội của chư Phật thảy đều hiển hiện

trong đó”.

MẬT NGHIÊM HOA TẠNG

Từ chỉ chung cho cõi nước Mật nghiêm

được nói trong kinh Mật nghiêm và thế

giới Hoa tạng được nói trong kinh Hoa

nghiêm; tức chỉ cho các cõi Phật trang

nghiêm thanh tịnh.

Kinh Du kì quyển thượng (Đại 18, 254

thượng) nói: “Chỉ có cõi Phật này là Mật

nghiêm hoa tạng được cấu tạo thành bởi tự

tính kim cương thanh tịnh”.

(xt. Mật Nghiêm Tịnh Độ).

MẬT NGHIÊM KINH

……..

Gọi đủ: Đại thừa Mật nghiêm kinh

(Phạm:Ghana-vyùha-sùtra).

Kinh, 3 quyển, do ngài Nhật chiếu (Địa

bà ha la) dịch vào đời Đường, được thu vào

Đại chính tạng tập 16.

Nội dung kinh nhằm nói rõ tất cả pháp

đều do tâm thức biến hiện. Toàn kinh chia

làm 8 phẩm: Mật nghiêm hội, Diệu thân

sinh, Thai sinh, Hiển thị tự tác, Phân biệt

quán hạnh, A lại da kiến lập, Tự thức cảnh

giới, A lại da vi mật.

Trước hết, nói về việc đức Phật ra khỏi 3

cõi, trụ ở nước Mật nghiêm(Tịnh độ của Đại

nhật Như lai), theo lời thỉnh cầu của 2 vị Bồ

tát là Như thực kiến và Kim cương tạng,

đức Phật tuyên nói pháp yếu, chỉ bày lí Như

lai tạng bất sinh bất diệt; kế đến, bồ tát Kim

cương tạng nói cho các Bồ tát trong pháp

hội nghe về công năng của thức A lại da

biến hiện ra các pháp nhiễm tịnh, làm chỗ

nương cho các pháp, lại vì thức này duyên

theo mê ngộ mà có phàm thánh khác nhau.

Kinh này cũng thuyết minh về các nghĩa của

5 pháp, 8 thức, 3 tính, nhị vô ngã, 2 phần

nhiễm và tịnh của thức A lại da, lại dùng

biển để ví dụ cho thức A lại da, dùng gió ví

dụ cảnh giới… cho đến thuyết 8 thức, 9

thức v.v…đại khái đều tương đồng với kinh

Lăng già đã nói. Kinh này giống với kinh

Hậu nghiêm, nhưng kinh này nói về thức

thứ 9, còn kinh Hậu nghiêm thì nói về Ngũ

tính các biệt.

Ngoài ra, kinh này còn có bản dịch của

ngài Bất không, dịch vào đời Đường và cũng

thu vào Đại chính tạng tập 16, nhưng ít được

lưu hành. Còn bản dịch Tây tạng gồm 4

quyển 9 phẩm, nội dung có hơi khác với

bản Hán.

Về chú sớ của kinh này thì có bộ Mật

nghiêm kinh sớ của ngài Pháp tạng.

[X. Đại chu san định chúng kinh mục

lục Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Chí

nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.3,4].

MẬT NGHIÊM KINH SỚ

………..

Cũng gọi Đại thừa Mật nghiêm kinh sớ.

Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Pháp tạng

(643-712) soạn, được thu vào Đại chính tạng

tập 34. Hiện quyển 1 đã bị thất lạc.

Đây là sách chú thích bộ kinh Đại thừa

mật nghiêm do ngài Địa bà ha la dịch. Đối

với các phẩm trong kinh Mật nghiêm, tác

giả đã phân chia tỉ mỉ từng khoa và giải thích

rõ ràng. Nhưng vì quyển đầu đã bị thất lạc,

cho nên khó hiểu rõ được chỉ thú của bộ sớ

này và cũng khó đoán định được giá trị chính

xác của tác phẩm.

MẬT NGHIÊM TỊNH ĐỘ

………..

Cũng gọi Mật nghiêm quốc, Mật nghiêm

Phật độ, Mật nghiêm Phật quốc, Mật nghiêm

thế giới, Mật nghiêm đạo tràng.

Chỉ cho cõi Tịnh độ Chân như pháp tính

MẬT NGHIÊM TỊNH ĐỘ

 

M

3098

tự thụ dụng được trang nghiêm bằng tam

mật thân, khẩu, ý, là nơi y chỉ của Như lai.

Tịnh độ này là quả viên mãn do tu mà

đạt được, xa lìa các tội lỗi, có đầy đủ trí tuệ,

thần thông và cũng là nơi nương tựa của

người tu quán hạnh. Tịnh độ này lấy thức

vô cấu nhiễm Như lai tạng làm thể, Mật

giáo đặc biệt chỉ cho Tịnh độ của Pháp thân

Đại nhật Như lai; bởi vì, nếu phối hợp 9

thức với Ngũ Phật, thì thức vô cấu Am ma

la thứ 9 tương đương với Đại nhật Như lai,

cho nên lấy thức vô cấu là Tịnh độ của thể

tính làm trụ xứ của đức Đại nhật Như lai.

Tịnh độ này còn là chỗ y chỉ của pháp thân

2 bộ Kim cương giới và Thai tạng giới nói

trong kinh Mật nghiêm, cũng tương đương

với thế giới Hoa tạng nói trong kinh Hoa

nghiêm và thế giới Cực lạc nói trong pháp

môn Tịnh độ.

[X. phẩm Hiển thị tự tính trong kinh

Đại thừa mật nghiêm Q.trung; luận Phát bồ

đề tâm; Mật nghiêm tịnh độ lược quán; Mật

nghiêm kinh sớ (Pháp tạng) Q.3; Đại nhật

kinh sớ Q.3].

MẬT NGỮ

…..

I. Mật Ngữ.

Chỉ cho ngôn ngữ và giáo chỉ của đức

Phật có ẩn chứa chân nghĩa bí mật. Ví dụ

như câu “Như lai đã vào Niết bàn” là lời nói

ẩn chứa ý nghĩa Như lai thường trụ.

II. Mật Ngữ.

Chỉ cho chân ngôn đà la ni của Mật giáo.

[X. Bí tạng kí Q.đầu]. (xt. Đà La Ni, Chân

Ngôn).

MẬT NGƯU CUNG

Phạm:Bfiwa.

Hán âm: Tì lê sa.

Cũng gọi Ngưu mật cung, Kim ngưu

cung, Ngưu cung.

Cung ở phía đông viện Ngoài trên Hiện

đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo,1 trong

12 cung, tương đương với vị trí của mặt trời

vào tháng 4 trong đường Hoàng đạo.

Kinh Tú diệu quyển thượng (Đại 21, 387

hạ) nói: “Sao Mão thứ 10, 3 chân, sao Tất 4

chân, sao Tuy 2 chân, là vị trí của Thái bạch;

hình vị thần này giống như con bò, vì thế

được gọi là Ngưu cung”.

Trong các Mạn đồ la, hình tượng của

cung này đều được vẽ hình con bò đực đang

nằm.

MẬT NHÂN

…..

I. Mật Nhân.

Nhân hạnh để đạt đến Bí mật tạng(tức

là quả đức liễu nghĩa mà Như lai đã chứng

ngộ được).

Lăng nghiêm kinh sớ quyển 8 phần 2

(Đại 39, 933 thượng) nói: “Người đã đạt

đến quả vị trong 3 đời vào Bí mật tạng, lấy

đó làm Nhân, là Mật nhân vậy. Hơn nữa,

đại định này đủ tất cả hạnh, chẳng phải

chỗ mà hàng phàm phu và Tiểu thừa có

thể biết được, cho nên gọi là Mật. Mật tức

là Nhân vậy”.

[X. bài Tựa kinh Thủ lăng nghiêm; kinh

Đại nhật Q.5].

II. Mật nhân.

Chỉ cho bản địa của Phật và Bồ tát.

Lăng nghiêm kinh sớ quyển 6 phần 2

(Đại 39, 914 hạ) nói: “Việc mà bậc Thánh

chí chân làm lợi ích cho chúng sinh, rốt cuộc

không thể suy lường được; đó là cái nhân

chính của bậc Thánh, chỉ có Ngài chứng biết,

cho nên gọi là Mật nhân”.

[X. kinh Thủ lăng nghiêm Q.6].

MẬT PHÓ

…..

Cũng gọi Mật thụ, Mật phụ, Mật truyền.

Bậc thầy đích thân truyền trao Phật pháp

MẬT PHÓ

 

M

3099

cho đệ tử một cách kín đáo. Cũng tức là

phương thức “dùng tâm truyền tâm” của

Thiền tông.

Khi người tu học tỏ ngộ được mày mặt

thật xưa nay của chính mình và được thầy

chứng minh, ấn khả thì gọi là Mật truyền

mật phó.

Thụy châu Động sơn Lương giới thiền

sư ngữ lục bảo kính tam muội (Đại 47, 525

hạ) nói: “Pháp ấy như thế, Phật tổ mật phó

(kín đáo trao cho), nay ông đã được, phải khéo

giữ gìn”.

[X. Viên ngộ tâm yếu].

MẬT SƯ BẠCH THỐ

Tên công án trong Thiền tông.

Nội dung công án này nói về cuộc đối

thoại giữa Thiền sư Mật sư(Thần sơn Tăng

mật) và Tổ của tông Tào động là Thiền sư

Động sơn Lương giới.

Tắc 56 trong Thung dung lục quyển 4

(Đại 48, 262 hạ) chép: “Một hôm, Mật sư

bá đang đi với ngài Động sơn, chợt thấy 1

con thỏ trắng(bạch thố) chạy qua trước mặt,

Mật sư nói: “Tài thật!

Ngài Động sơn hỏi: Sư hiểu thế nào?

Mật sư bá đáp: Như kẻ nghèo hèn được

làm quan to.

Ngài Động sơn bảo: Đã già đời rồi mà

còn nói năng như vậy à!

Mật sư bá lại hỏi: Vậy còn ông thì hiểu

thế nào?

Ngài Động sơn đáp: Bao đời quyền quí,

bây giờ nổi trôi!”.

MẬT TẠI NHỮ BIÊN

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Pháp do Phật và Tổ truyền đều chẳng

phải là bí mật mà bí mật chính ở nơi thân

mình.

Tắc 23 trong Vô môn quan (Đại 48, 296

thượng) nói: “Nếu ông chiếu rọi trở lại mặt

mũi của chính mình, thì bí mật ở liền ngay

bên ông”.

MẬT TẠNG

…..

I. Mật Tạng.

Chỉ cho giáo pháp bí mật, tức là giáo

pháp trực tiếp hiển bày các pháp vốn tự

nhiên như thế(Pháp nhĩ tự nhiên); giáo pháp

này vượt ngoài giáo pháp do Phật nhục thân

(sinh thân Phật) tuyên thuyết. Giáo pháp này

chỉ có Phật pháp thân với Phật pháp thân

mới hiểu được, nên gọi là Mật tạng.

II. Mật Tạng.

Chỉ cho 3 tạng Kinh, Luật, Luận của Mật

giáo.

MẬT TẠNG KHAI THIỀN SƯ DI CẢO

Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Mật tạng

Đạo khai soạn vào đời Minh. Nội dung:

-Quyển thượng gồm 50 thiên: Thướng

từ Thánh hoàng thái hậu, Mộ khắc Đại tạng

văn, Khắc Đại tạng nguyện văn v.v…

-Quyển hạ gồm 64 thiên: Thướng bản

sư hòa thượng, Dữ Từ hải quán cư sĩ v.v…

MẬT THÀNH BIÊT ÍCH

………..

Cũng gọi Minh thành biệt ích.

Tiếng dùng nói về “Lợi ích của sự đào

thải” trong thời Bát nhã thuộc 5 thời do Tổ

thứ 9 của tông Thiên thai là ngài Trạm nhiên

đặt ra.

Nghĩa là ở thời Bát nhã có sự dung thông

giữa pháp môn Đại thừa và Tiểu thừa, tuy

tự thân hành giả không biết, mà người khác

cũng không hay, nhưng trong sự âm thầm

kín nhiệm ấy đã có những căn cơ thành thục

để nhập vào giáo pháp chân thực, thậm chí

thành tựu ngang bằng với Biệt giáo.

Về nghĩa “Mật thành biệt ích”, trong Tứ

MẬT THÀNH BIÊT ÍCH

 

M

3100

giáo nghi tập chú bán tự đàm quyển 1, ngài

Si không, người Nhật bản, giải thích rằng

“Mật” nghĩa là âm thầm kín đáo, mình và

người khác đều không hay biết; “thành biệt

ích” tức là Nhất thừa, đại biểu cho pháp

Đại thừa, là pháp môn rõ suốt giới nội, giới

ngoại. Bởi vậy, nếu căn cứ vào sự thành thục

của các căn cơ chân thực bên trong thì tương

đương với giáo nghĩa của Biệt giáo giải thích

về pháp môn giới nội, giới ngoại, cho nên

gọi là Thành biệt ích, chứ không phải chỉ

cho pháp môn tu hành của Biệt giáo.

[X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú

Q.thượng (Mông nhuận)]. (xt. Chuyển Giáo

Dung Thông).

MẬT THÀNH THÔNG ÍCH

………..

Cũng gọi Mật thành thông nhân.

Tiếng dùng nói về “Lợi ích của sự quở

trách” trong thời Phương đẳng do Tổ thứ 9

tông Thiên thai là ngài Trạm nhiên đặt ra.

Nhị thừa Tạng giáo tuy bị Phật quở trách

trong thời Phương đẳng, nhưng trong sự

chẳng hay chẳng biết đã có những căn cơ

thành thục để nhập vào giáo pháp chân thực,

cho nên được sự lợi ích của Thông giáo, là

cửa đầu tiên của Đại thừa.

Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết

quyển 10 phần 2 (Đại 46, 446 trung), nói:

“Phương đẳng dùng Tam tạng làm phụ,

dùng Tam giáo làm chính để bài bác Nhị

thừa, làm cho hàng Nhị thừa Mật thành

Thông giáo”.

[X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú

Q.thượng (Mông nhuận); Tứ giáo nghi tập

chú bán tự đàm Q.1 (Si không)].

MẬT THẤT

…..

I. Mật Thất.

Nhà đóng cửa kín mít.

Ma ha chỉ quán quyển 7 thượng (Đại 46,

89 trung), nói: “Trí quán trong định như

đèn trong nhà kín(mật thất) soi tỏ các vật.

II. Mật Thất.

Ví dụ cảnh giới tuyệt đối.

Cảnh đức truyền đăng lục quyển 16 (Đại

51, 330 trung), chép:

“Hỏi: Thế nào là mật thất?

Sư đáp: Gấp gáp quá thì không tới được.

Hỏi: Thế nào là người trong mật thất?

Sư trả lời: Chẳng ngồi trên lưng trâu!”.

III. Mật Thất.

Chỉ cho nhà tu học Mật giáo.

Ngoài ra, trong Thiền lâm cũng có câu:

“Mật thất bất thông phong”(Nhà kín không

thoáng gió), là chỉ cho cảnh giới không có sự

ứng dụng linh hoạt của Thiền, hoặc ví dụ sự

thân mật giữa thầy và trò.

Nhân thiên nhãn mục quyển 6 (Đại 48,

329 thượng), chép: “Ngài Vân môn nói: Nhà

kín chẳng thoáng gió, về nhà ngồi một

mình”.

MẬT THÔN

Một đơn vị tăng chúng trực thuộc Khang

thôn trong các chùa viện của phái Cách lỗ,

Phật giáo Tây tạng.

Thông thường, chư tăng cùng 1 địa

phương hoặc cùng 1 bộ lạc tập hợp lại thành

đơn vị, số người từ 5 vị đến 50, 60 vị không

nhất định. Trong đó cử ra 2 chức Chấp sự

là Mật thôn cách cán và Mật thôn cát mễ.

Mật thôn cách cán là vị Trưởng lão của Mật

thôn, giám sát và chỉ đạo về giới luật và học

vấn của chúng tăng trong Mật thôn, còn chức

Mật thôn cát mễ thì phụ trách việc quản lí

kinh tế trong Mật thôn.

MẬT TÍCH KIM CƯƠNG LỰC SĨ AI LUYẾN KINH

Gọi đủ: Phật nhập niết bàn Mật tích kim

cương lực sĩ ai luyến kinh.

Cũng gọi Phật nhập niết bàn ai luyến

MẬT THÀNH THÔNG ÍCH

 

M

3101

kinh, Lực sĩ ai luyến kinh.

Kinh, 1 quyển, được dịch vào đời Tiền

Tần, không rõ dịch giả, được thu vào Đại

chính tạng tập 12.

Nội dung kinh này tường thuật việc khi

đức Phật sắp vào Niết bàn, Lực sĩ Kim cương

Mật tích buồn rầu thương xót, than rằng:

Đức Như lai giống như vị thuyền trưởng vĩ

đại trong biển cả sinh tử, lại sắp lìa bỏ chúng

sinh để nhập diệt; lòng Lực sĩ xúc động, luyến

thương, sầu khổ quá đến nỗi tâm thần hôn

mê. Lúc bấy giờ đại địa chấn động, núi lở

sao rơi, 4 phương lửa dậy; sau nhờ trời Đế

thích ngăn chặn lại, đức Phật liền dạy (Đại

12, 1117 hạ): “Các hành đổi dời, không lúc

nào dừng nghỉ, không nên tin vào thân này,

vì nó là pháp vô thường, sớm còn tối mất”.

MẬT TÍCH KIM CƯƠNG LỰC SĨ HỘI

Cũng gọi Mật tích Kim cương lực sĩ kinh,

Mật tích kinh.

Kinh, 7 quyển, do ngài Trúc pháp hộ

dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại

chính tạng tập 11, tức là phần kinh từ quyển

8, đến quyển 14 trong kinh Đại bảo tích.

Nội dung kinh này trước hết nói rõ về

thân mật, ngữ mật, ý mật của Bồ tát và Như

lai; sau đó là lời thỉnh cầu của Bí mật chủ

xin hộ trì kinh này trong 500 năm sau Phật

nhập diệt.

Ngoài ra, bản dịch khác của kinh này là

kinh Như lai bất tư nghị bí mật đại thừa.

(xt. Như lai Bất Tư Nghị Bí Mật Đại Thừa

Kinh).

MẬT TÍCH LỰC SĨ

Phạm: Guhyapada vajra, Saịđa.

Hán âm: Tán đa.

Cũng gọi Chấp kim cương thần, Mật tích

kim cương, Kim cương mật tích, Kim cương

lực sĩ, Mật tích sĩ, Mật tích.

Vị thần Dạ xoa tay cầm chày Kim cương

bảo vệ Phật pháp.

Cứ theo Đại nhật

kinh sớ quyển 1 thì Mật

tích lực sĩ là vua Dạ xoa,

thân, khẩu, ý, rất linh

hoạt bí ẩn, khó biết

được nên gọi là Mật

tích. Lại vì được gần gũi

đức Phật mong được

nghe những sự tích bí

mật của Phật nên gọi là

Mật tích.

Ngoài ra, vì vị thần này tay cầm chày

kim cương để thủ hộ Phật pháp nên cũng

gọi là Kim cương thần, Kim cương thủ,

Chấp kim cương. Thông thường Mật tích

lực sĩ là 1 trong 2 vị tôn được thờ ở 2 bên

cửa chùa.

[X. hội Mật tích Kim cương lực sĩ trong

kinh Đại bảo tích Q.9; Đại đường tây vực kí

Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.1].

MẬT TÔNG

…..

Cũng gọi Chân ngôn tông, Du già tông,

Kim cương đính tông, Tì lô giá na tông, Khai

nguyên tông, Bí mật thừa.

Tông phái Đại thừa nương vào pháp môn

Chân ngôn đà la ni, tu diệu hạnh Ngũ tướng,

Tam mật, để mong cầu thành Phật ngay nơi

thân này, là 1 trong 13 tông của Phật giáo

Trung quốc và 1 trong 8 tông của Phật giáo

Nhật bản.

Tông này chủ yếu lấy kinh Kim cương

đính làm Kinh tạng, kinh Tô bà hô làm

Luật tạng và luận Thích ma ha diễn làm

Luận tạng. Các kinh điển của Mật giáo được

gọi chung là Mật kinh. Tông này được gọi

là Mật giáo(đối lại với Hiển giáo) là vì hiển

bày giáo lí của mình là rất sâu xa bí mật,

mà coi các giáo phái Đại thừa khác là nông

cạn hời hợt. Hơn nữa, tông này còn cho

MẬT TÍCH LỰC SĨ

Lực Sĩ Mật Tích

 

M

3102

rằng giáo pháp của 2 bộ Kim cương giới và

Thai tạng giới do Pháp thân Phật Đại nhật

Như lai tuyên thuyết mới chính là cảnh

giới tự nội chứng của Phật, rất huyền nhiệm

bí mật, cho nên tự xưng là Mật. Vả lại, vì

không được truyền dạy pháp này cho những

người chưa thụ quán đính, cho nên gọi là

Mật. Về giáo nghĩa hiển bày chân lí thì

không có sự sai biệt giữa Hiển giáo và Mật

giáo, nhưng về mặt hành trì thì Mật giáo

có những nghi quĩ đặc thù, khác với các

tông phái khác, nên thích hợp với danh

xưng Mật tông. Lại nữa, sự học vấn và tu

hành của Mật giáo, gọi là Mật học. Bậc

tông sư hoặc tăng đồ tu học Mật giáo, gọi

là Mật gia. Đồ chúng tu hành Mật giáo, gọi

là Mật chúng; đạo tràng tu học Mật giáo,

gọi là Mật tràng.

Mật tông Ấn độ bắt nguồn từ kinh điển

Phệ đà cổ xưa, về sau lưu hành trong các

tầng lớp dân gian. Trong quá trình phát

triển lâu dài, Phật giáo dần dần đã thấm

vào tín ngưỡng dân gian và chịu ảnh hưởng

cũng như tiếp thu, ứng dụng những chú

thuật Mật pháp này để bảo vệ giáo đồ, tiêu

trừ tai chướng, xưa nay thông thường gọi

những mật pháp này là Tạp mật. Mật tông

cũng du nhập các vị thần của Phệ đà vào

Phật giáo, nên đã xuất hiện rất nhiều các

vị Minh vương, Bồ tát, chư thiên, chân

ngôn chú ngữ v.v… Bởi vậy, trong các kinh

điển Đại thừa ở thời kì sau lại thấy xuất

hiện 1 loại kinh điển lấy Đà la ni (Phạm:

Dhàraịi) làm chủ. Trong Kinh tạng và

Luật tạngPàli có kinh điển nói những bài

kệ Hộ thân mà Phật giáo đồ ở các vùng

Tích lan biên tập thành kinh gọi là kinh

Minh hộ (Pàli:Paritta), cho đến nay vẫn

còn truyền tụng; lại có kinh Đại hội (được

thu vào Trường a hàm) là kinh điển liệt kê

tên các hội chúng nghe pháp. Các kinh điển

này được cho là khởi nguồn của Mật giáo

đà la ni và Mạn đồ la sau này. Đến khoảng

thế kỉ IV, mới xuất hiện kinh điển độc lập

chuyên nói về chú pháp như kinh Khổng

tước minh vương, cho rằng miệng niệm

chân ngôn, trong tâm thống nhất, kiến lập

đàn bằng đất hình vuông, hình tròn, cúng

dường các vị tôn, nghiêm tu nghi lễ v.v…

sẽ được công đức bất khả tư nghị.

Đến hậu bán thế kỉ VII, Phật giáo Ấn

độ tiến vào thời kì toàn thịnh. Lúc này đã

có kinh, giáo, quĩ, nghi. Mật giáo chân

chính mới khai triển, dùng chân ngôn, Đà

la ni làm trung tâm để phát triển triết học

Phật giáo Đại thừa, đặt định nền tảng vững

chắc. Đây là Mật tông thuần chính(thuần

mật), lấy kinh Đại nhật và kinh Kim cương

đính làm chủ. Kinh Đại nhật được thành

lập tại Ấn độ ở nửa sau thế kỉ VII, lấy Đại

nhật Như lai làm trung tâm, cùng với các

vị tôn đã được nói trong các kinh điển Tạp

mật mà tập đại thành Thai tạng giới mạn

đồ la. Kinh Đại nhật kế thừa giáo thuyết

kinh Hoa nghiêm, chủ trương dựa trên sự

tướng hiện thực mà trực tiếp quán xét chân

tướng của vũ trụ. Kinh Kim cương đính

được thành lập muộn hơn, lưu hành ở Nam

Ấn độ, kế thừa học thuyết của phái Phật

giáo Du già, đề xướng pháp quán “Ngũ

tướng thành thân”(trong thân tâm có đủ 5

tướng đồng nhất với Bản tôn).

Thuần mật lấy 2 bộ kinh trên làm nền

tảng, không bao lâu đã bị suy đồi tại Ấn độ.

Vào thế kỉ thứ VIII, Thuần mật được ngài

Thiện vô úy truyền đến Trung quốc, rồi sau

được truyền đến Nhật bản trở thành tông

Chân ngôn.

Mật giáo hưng khởi vào thế kỉ VII, đến

thế kỉ XI, Phật giáo Ấn độ suy vong thì

Mật giáo cũng rơi vào tình trạng đình đốn.

Tuy nhiên, tại Trung Ấn độ, Mật giáo vẫn

hưng thịnh và sau khi dung nhập với giáo

thuyết của phái Tính lực (Phạm:Zàktà#)

thì trở thành Mật giáo tả đạo, đặc biệt chú

trọng thuyết Đại lạc (Phạm:Mahàsukha-

MẬT TÔNG

 

M

3103

vàda) trong kinh Kim cương đính của

Thuần mật.

Từ đầu thế kỉ VIII trở đi, Mật giáo được

truyền vào Tây tạng, trở thành nền tảng

của Lạt ma giáo. Đến thế kỉ X và XI, 1

phần kinh điển của Mật giáo được lưu

truyền và phiên dịch ở Trung quốc, nhưng

chưa có ảnh hưởng về mặt tư tưởng. Tóm

lại, theo lịch sử phát triển của Mật giáo mà

nhận xét, thì Tạp mật hưng khởi trước, kế

đến là Thuần mật và sau cùng là Mật giáo

tả đạo.

Cứ theo truyền thuyết, Đại nhật Như

lai, cùng 1 lúc vượt qua 3 thời, ở nơi cung

điện Pháp giới tâm tại cõi trời Sắc cứu kính,

đối với các nội quyến thuộc như ngài Kim

cương tát đỏa v.v… từ trong tâm lưu xuất

pháp nội chứng, tự thụ pháp lạc mà tuyên

thuyết kinh Đại nhật, rồi lại ở cung Chân

ngôn mà tuyên thuyết kinh Kim cương

đính, sau do Kim cương tát đỏa kết tập

(Thai Mật của Nhật bản cho rằng ngài A nan

cũng tham dự).

Sau Phật nhập diệt khoảng 800 năm,

bồ tát Long mãnh(Long thụ) trì chú vào 7

hạt cải trắng để mở tháp sắt cao 16 trượng

(biểu thị 16 vị Bồ tát trong Kim cương giới)

ở Nam Thiên trúc, đích thân nhận 2 bộ

Đại kinh này từ ngài Kim cương Tát đỏa

(Thai Mật thì cho rằng bộ kinh Đại nhật ở ngoài

tháp sắt và do bồ tát Văn thù trao cho). Về

sau, ngài Long mãnh truyền cho ngài Long

trí. Trải qua khoảng 700 năm(tương truyền,

ngài Long trí thọ 7, 8 trăm tuổi)sau, Đại kinh

lại được truyền cho ngài Thiện vô úy. Vì

vậy, Mật giáo tôn ngài Long mãnh là Tổ sư

khai sơn, kinh Đại nhật và kinh Kim cương

đính là Thánh điển căn bản và vị Giáo chủ

là đức Đại nhật Như lai(Phật Tì lô giá na).

Vì việc thuyết pháp khác với đức Thích

tôn nên gọi là Kim cương thừa. Kim cương

thừa, ở Nhật bản là chỉ cho Thuần mật, ở

Ấn độ và người Âu châu thì quen chỉ cho

Mật giáo tả đạo (Kim cương thừa, tiếng Anh

là Tantric Buddhism).

Kim cương thừa, theo nghĩa rộng, được

chia làm 2 phái:

1. Phái hữu: Lấy kinh Đại nhật làm

chủ, tức chỉ cho Thuần mật, mang đậm

sắc thái chủ nghĩa thần bí, muốn nhờ vào

chú thuật để thực hiện sự hợp nhất giữa

vũ trụ và tinh thần, hầu chi phối thế lực tự

nhiên và vận mệnh con người; phái này

còn được gọi là Chân ngôn thừa (Phạm:

Mantrayàna) và được truyền từ Trung

quốc đến Nhật bản, trở thành Chân ngôn

tông, gọi là Đường Mật hoặc Đông Mật.

Còn Mật giáo do tông Thiên thai truyền ở

Nhật bản thì gọi là Thai Mật.

2. Phái tả: Lấy kinh Kim cương đính

làm chủ, tức là Mật giáo tả đạo, khẳng định

bản năng của con người, muốn ngay nơi

bản năng ấy mà tìm ra lẽ chân thực, nên

gọi là Kim cương thừa, Dị hành thừa,

(Phạm:Shahajì-yàna) hoặc gọi là Tính

lực phái, nói theo lập trường của Phật giáo

nguyên thủy thì phái này là bàng môn tả

đạo. Phái này coi trọng pháp Song thân và

từ thế kỉ IX trở đi, kết hợp với Ấn độ giáo

nên ngày càng thêm hưng thịnh. Về sau,

phái này được truyền vào Tây tạng, trở

thành nòng cốt của Tạng Mật. Tạng Mật

tức là Mật tông của Phật giáo Tây tạng do

các ngài Liên hoa sinh và Tịch hộ truyền

vào từ thế kỉ VIII.

Ở giai đoạn đầu sau khi du nhập, Mật

pháp Tây tạng phần nhiều thực hành theo

2 bộ Hành và Sự mà trong sử gọi là Cựu

mật pháp. Đến đầu thế kỉ XI, các ngài Nhân

khâm tang ba v.v… phiên dịch các loại kinh

điển của Mật giáo Du già, trong sử gọi là

Tân mật pháp. Từ đó, Mật pháp của 2 bộ

Du già và Vô thượng Du già được thịnh hành

và truyền thừa trong các phái Phật giáo Tây

tạng. Mật tông truyền sang Trung quốc cũng

trải qua 2 giai đoạn này.

MẬT TÔNG

 

M

3104

Mật tông truyền đến Trung quốc bắt

đầu vào thời Tam quốc, khi ấy ngài Chi

khiêm ở nước Ngô đã dịch nhiều bộ kinh

Mật giáo rất nổi tiếng như: Bát cát tường

thần chú kinh, Vô lượng môn vi mật trì

kinh, Hoa tích đà la ni thần chú kinh, Trì

cú thần chú kinh, Ma ha bát nhã ba la mật

chú kinh, Thất Phật thần chú kinh v.v…

Sang đời Đông Tấn thì có ngài Bạch thi lê

mật đa la dịch kinh Đại quán đính thần

chú, kinh Khổng tước vương; ngài Trúc

đàm vô lan dịch 25 bộ như: Kinh Đà lân

bát chú, kinh Ma ni la chiên thần chú v.v…

Đến đời Đường, ngài Nghĩa tịnh cũng dịch

hơn 10 bộ kinh Mật giáo như: Kinh Quán

tự tại bồ tát như ý tâm đà la ni, kinh Mạn

thù thất lợi bồ tát chú tạng trung nhất tự

chú vương, Xưng tán Như lai công đức thần

chú v.v… Ngoài ra, trong các kinh điển của

Hiển giáo cũng có rất nhiều chú đà la ni,

không thể kể hết. Nhưng từ trước đến đây

chỉ là những kinh Tạp mật được truyền

dịch mà thôi.

Đến khoảng năm Khai nguyên (713-

741) đời vua Đường Huyền tông, ngài

Thiện vô úy và ngài Kim cương trí là 2 vị

Đại sư thuộc Thuần mật, ở Trường an, lần

lượt phiên dịch và truyền bá các kinh điển

căn bản, thiết lập đạo tràng Quán đính,

Mật tông Trung quốc đến đây mới thực sự

có hệ thống. Ngoài ra, còn có các ngài Bất

không, Nhất hạnh, Huệ quả, Biện hoằng,

Tuệ nhật, Duy thượng, Nghĩa viên, Nghĩa

minh, Không hải, Nghĩa tháo, Tuệ tắc v.v…

đều truyền trì Thuần mật. Trong đó, ngài

Không hải(Đại sư Hoằng pháp) người Nhật

bản, đến Trung quốc vào năm Trinh

nguyên 20 (804) đời Đường, theo ngài Huệ

quả thụ pháp, sau trở về nước, hoằng dương

Mật giáo và trở thành vị Tổ của tông Chân

ngôn Nhật bản. Sau Pháp nạn Hội xương,

tiếp đến cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại,

chiến tranh loạn lạc kéo dài, kinh sớ của

Mật tông hầu hết đều bị thiêu hủy. Từ đó

về sau, nói đến Du già chỉ còn là hình thức

pháp sự mà thôi. Đến đời Tống tuy có các

ngài Pháp hiền, Thí hộ, Pháp thiên v.v…

truyền dịch kinh điển, nghi quĩ Mật giáo

nhưng chưa thể phục hưng được. Vả lại,

Mật tông ở thời này đã khác với Mật tông

đời Đường. Mật tông đời Đường có thể nói

Mật tông thống nhất, có hệ thống truyền

thừa. Còn Mật tông đời Tống thì phân hóa,

thông tục, lấy việc sùng bái vị Bản tôn đặc

định và tụng trì chân ngôn đà la ni của

Ngài làm chủ. Là vì đời Tống du nhập Thời

luân đát đặc la của Mật tông Ấn độ nên đã

lập ra nhiều vị Bản tôn Minh vương Phẫn

nộ rất uy mãnh. Đời Nguyên ấn định Lạt

ma giáo làm Quốc giáo, mà Lạt ma giáo

thực ra chỉ là Phật giáo Tây tạng lấy Mật

tông làm nền tảng. Về sau, vì các vua chúa

nhà Nguyên quá ưu đãi Lạt ma giáo, nên

đã đưa đến tình trạng thối nát của phái

Hồng giáo, khiến ngài Tông khách ba phải

ra tay làm cuộc cải cách và thành lập phái

Hoàng giáo để phục hưng nền Phật giáo

thuần túy của Tây tạng.

Điểm bất đồng lớn nhất giữa Hiển tông

và Mật tông là ở sự truyền thừa và nghi quĩ

tu trì. Đối với Hiển tông, về giáo lí thì cố

nhiên phải có thầy truyền trao, nhưng về

pháp môn tu trì thì không nhất định có thầy

truyền trao và nghi quĩ nghiêm khắc, như

Ngũ trùng Duy thức quán của Du già, Đại

tiểu chỉ quán của tông Thiên thai, dù không

có thầy truyền thụ cũng có thể tự mình tu

tập. Trái lại, nghi lễ của Mật tông thì rất

phiền phức, các tông giáo trên thế giới không

có tông giáo nào sánh kịp. Từ lúc mới qui y

thụ Quán đính đến bậc Kim cương Thượng

sư có 1 trình tự nhất định, không thể vượt

qua được, khác rất xa với phương tiện giản

dị của Hiển giáo. Nói về giáo nghĩa thì Hiển

tông cho rằng Ứng thân Phật thuyết pháp,

Mật tông thì lại cho rằng Pháp thân Phật

MẬT TÔNG

 

M

3105

thuyết pháp. Hiển tông cho rằng người tu

hành phải trải qua 3 đại a tăng kì kiếp, tu

lục độ vạn hạnh mới chứng được quả Phật,

còn Mật tông thì chủ trương chỉ cầu tu diệu

hạnh Tam mật cũng có thể thành Phật ngay

ở kiếp này.

Ngoài ra, còn có thuyết Lục đại duyên

khởi, lục đại tức là 6 yếu tố đất, nước, lửa,

gió, không và thức, 6 yếu tố này là bản thể

của tất cả các pháp, có năng lực tạo ra tất cả,

từ chư Phật cho đến căn thân, thế giới của

hết thảy chúng sinh, tức là 4 thứ pháp, 3

loại thế gian đều do 6 yếu tố này sinh ra.

Căn cứ vào Lục đại duyên khởi này mà lập

nghĩa chúng sinh và Phật bình đẳng, 4 thứ

Mạn đồ la Đại, Tam, Pháp, Yết cũng do Lục

đại duyên khởi mà hiển hiện đức tướng của

pháp thân. Nếu chúng sinh tu trì theo diệu

hạnh tam mật, khi khế chứng tích đức thì

liền thành Phật ngay ở đời hiện tại này. Tam

mật gia trì diệu hạnh tức là tay kết khế ấn,

miệng tụng chân ngôn của chư Phật và tâm

trụ nơi Tam ma địa. Nếu tu hành đúng như

lời dạy, thân khẩu ý(tam mật) của hành giả

có thể tương ứng với thân khẩu ý của chư

Phật, thì mau chóng được thành Phật. Thân

khẩu ý của chư Phật tức là 4 thứ Mạn đồ la

Đại, Tam, Pháp, Yết: Đại mạn đồ la là thân

của chư Phật, Tam ma da mạn đồ la là ý

mật, Pháp mạn đồ la là khẩu mật, còn Yết

ma mạn đồ la là nghiệp dụng của 3 Mạn đồ

la kia.

Tóm lại, 4 thứ Mạn đồ la đầy đủ tam

mật của chư Phật và bao nhiếp tất cả Mạn

đồ la. Mạn đồ la được y cứ vào kinh Đại

nhật mà kiến lập, gọi là Mạn đồ la Thai

tạng giới; Mạn đồ la được y cứ vào kinh

Kim cương đính mà kiến lập, gọi là Mạn

đồ la Kim cương giới. Mạn đồ la Thai tạng

giới biểu thị cho lí bản giác, cho nên cũng

gọi là Nhân mạn đồ la; Mạn đồ la Kim

cương giới biểu thị cho trí thủy giác, cho

nên cũng gọi là Quả mạn đồ la. Đối với

các Mạn đồ la được y cứ vào các kinh khác

mà kiến lập như Biệt tôn mạn đồ la v.v…

thì 2 bộ Mạn đồ la Kim cương giới và Thai

tạng giới này được gọi là Tổng đức mạn

đồ la.

Ngoài ra, tất cả Phật, Bồ tát đều là những

Tôn vị cá biệt được phát xuất từ Pháp thân

Đại nhật Như lai, mỗi vị đại biểu cho đức

riêng của mình, là bản tôn của 1 môn. Trái

lại, Đại nhật Như lai biểu thị cho đức

chung, là bản tôn của phổ môn. Trong các

Tôn vị của 1 môn, thì 4 đức Phật như A

súc, Bảo sinh v.v… tượng trưng cho 4 trí

như Đại viên kính v.v… Bốn vị Phật mỗi

vị đều có 4 Bồ tát thân cận, hợp lại thành

16 vị Đại bồ tát, lại cộng chung với 4 Bồ

tát ba la mật, 4 Nhiếp bồ tát và 8 Bồ tát

cúng dường thì có tất cả 37 tôn vị, đều phát

sinh từ trí Pháp giới thể tính của đức Đại

nhật Như lai. Nếu hành giả thường dùng

tín tâm thanh tịnh, an trụ nơi tam muội

Kim cương tát đỏa, tu trì diệu hạnh Ngũ

tướng thành thân, thì liền được khế chứng

Phật trí, viên mãn Phật thân, thành tựu sự

nghiệp lợi tha.

Mật tông còn y cứ vào kinh Đại nhật

và luận Bồ đề tâm mà lập thuyết Thập trụ

tâm. Chín tâm từ Dị sinh đê dương đến

Cực vô tự tính là trụ tâm của thế gian, xuất

thế gian, Tiểu thừa, Đại thừa, Nhị thừa,

Nhất thừa … còn tâm Bí mật trang nghiêm

thứ 10 là trụ tâm của Chân ngôn Mật tông.

Cũng tức là Mật tông chủ trương phàm

thánh không 2, 1 mảy bụi, 1 pháp đều trụ

nơi nguồn trí lúc ban đầu, tất cả đều là đất

tâm của Tam ma địa, cho nên đối với bậc

thượng căn thượng trí, thì những động tác

như đi đứng ngồi nằm, mở miệng nói năng,

cho đến lòng nhớ niệm tưởng, tất cả đều

thành Tam mật vô tướng. Còn đối với

những người căn cơ yếu kém thì nương vào

pháp môn Tam mật hữu tướng mà tu trì,

cũng có thể tương ứng với đức của các tôn

MẬT TÔNG

 

M

3106

vị thuộc Tam bộ, dùng ngay thân hiện tại

mà chứng Phật bồ đề.

Tóm lại, đặc chất tư tưởng của Mật tông

là: Về phương diện Giáo chủ, Mật tông cho

rằng Hiển giáo do Ứng thân Thích ca nói

ra, còn Mật giáo là do Pháp thân Đại nhật

Như lai nói. Về phương diện Pháp thân

thì Pháp thân của Hiển giáo là lí thể không

hình không tướng, còn Pháp thân của Mật

giáo thì có hình có tướng và có thể nói pháp.

Về phương diện pháp được nói ra, thì cảnh

giới Bát bất trung đạo vắng lặng của tông

Tam luận, cảnh giới Thắng nghĩa đế lìa lời

nói của tông Pháp tướng, cảnh giới Một

niệm ba nghìn chẳng thể nghĩ bàn của tông

Thiên thai, cảnh giới Thập Phật tính hải

quả phần bất khả thuyết của tông Hoa

nghiêm v.v… rốt ráo đều có thể nói được.

Về phương diện biểu hiện chân lí, thì tất

cả các pháp đều là tượng trưng cho chân lí,

mà biểu hiện một cách cụ thể loại tượng

trưng này, chính là nghi quĩ của Mật tông.

Về phương diện thành Phật mau hay chậm,

ngoại trừ Thiền tông, còn các tông khác

thì đều phải trải qua 3 a tăng kì kiếp, nhưng

Mật tông thì chủ trương thành Phật ngay

nơi thân này. Về phương diện tông giáo,

thì 2 bộ Mạn đồ la của Mật tông biểu hiện

thế giới quan, lấy tư tưởng chủ nghĩa nhân

cách làm nền tảng, do vô lượng vô số chư

Phật, Bồ tát tạo nên thế giới viên dung đầy

đủ: “Một tức tất cả, tất cả tức một”. Về

phương diện hệ thống giáo nghĩa, thì Mật

tông là 1 loại vũ trụ nhân sinh quan hợp

nhất: “Lí và Trí không hai”, đức Đại nhật

Như lai có đầy đủ nhân cách vĩ đại ấy; thế

giới của Trí pháp thân gọi là Kim cương

giới và thế giới của Lí pháp thân gọi là Thai

tạng giới. Nhờ sức tu trì có thể khuếch đại

thế giới Trí hợp nhất với thế giới Lí, đó

chính là Lí, Trí không hai.

(xt. Lục Đại, Tứ Mạn Tướng Đại, Tức

Thân Thành Phật, Chân Ngôn Tông).

MẬT TÔNG ĐẠO THỨ ĐÊ LUẬN

Tạng: Gnags-rim chen-po.

Cũng gọi Chân ngôn đạo thứ đệ, Mật

tông đạo thứ đệ.

Thăng biến chủ đại kim cương trì đạo

thứ đệ khai hiển nhất thiết mật yếu luận.

Tác phẩm, do ngài Tông khách ba soạn

vào năm Vĩnh lạc thứ 4 (1406) đời Minh,

Trung quốc

Nội dung sách này chia thứ tự tu tập Mật

thừa làm 5 phẩm:

1. Thanh tịnh bồ đề tâm: Phẩm này

giống với Hiển giáo.

2. Bốn loại quán đính: Phẩm này chung

cho cả 4 bộ Mật điển.

3. Thủ hộ luật nghi và tam muội da:

Luật nghi là giới chung của hàng Bồ tát như

18 giới nặng và 46 giới nhẹ nói trong luận

Bồ tát địa và Tập bồ tát học xứ. Còn Tam

muội da là giới riêng của Mật thừa, tùy theo

các loại kinh sách nói về mật chú mà có các

thuyết khác nhau về giới này.

4. Thứ tự sinh khởi để thành thục căn

khí.

5. Thứ tự trọn đủ, thành tựu Tất địa

đạt giải thoát: Chủ yếu lấy các pháp Thời

luân và Mật tập của Vô thượng du già làm

chỉ thú.

Bộ luận này và bộ Bồ đề đạo thứ đệ là 2

bộ luận lớn của ngài Tông khách ba, đại

biểu cho cách nhìn hoàn chỉnh và hệ thống

tư tưởng của ngài về Phật giáo. Sách giải thích

về bộ luận này là “Tục bộ Đổng kiến lập

quảng thích” của Đại sư Khắc chủ, đệ tử

của ngài Tông khách ba soạn.

MẬT TỰ

…..

Chỉ cho những chữ chủng tử của các vị

tôn, vì nghĩa lí của những chữ này rất sâu xa

kín nhiệm, nên gọi là Mật tự.

MẬT TỰ

 

M

3107

Phẩm Nhất thiết Như lai nội hộ ma Kim

cương nghi quĩ trong kinh Du kì (Đại 18,

265 hạ), nói: “Tụng trì ngôn ngữ Kim cương,

Mật tự hóa thành mưa đá, đánh phá các

thần Tu la, cho đến tất cả trăng sao”.

Chữ “Mật” trong câu kinh trên chỉ cho

chữ (raô), là chủng tử của bồ tát Kim

cương ngữ. Mật tức là Ngữ mật, dùng lửa

chữ thiêu đốt tất cả ngôn ngữ có tướng mà

trở về với vô ngôn.

MẬT VÂN THIỀN SƯ NGỮ LỤC

Tác phẩm, 13 quyển, do ngài Mật vân

Viên ngộ (1566-1642) soạn vào đời Minh,

ngài Sơn ông Đạo mân biên tập, được ấn

hành vào đời Minh.

Nội dung sách này như sau:

– Từ quyển 1 đến quyển 4 là Thướng

đường ngữ, quyển 5 là Thướng đường khai

thị, Tiểu tham; quyển 6 là Vấn đáp cơ

duyên; quyển 7 là Khám biện cơ duyên,

Pháp ngữ, Thư vấn (thượng), quyển 8 là

Thư vấn (hạ) quyển 9 là Cử cổ, Niêm cổ,

quyển 10 là Đại cổ, Tụng cổ (thượng),

quyển 11 là Tụng cổ (hạ), Phật tổ tán, Tự

tán, quyển 12 là kệ, Phật sự, quyển 13 thu

chép các bài minh tháp, hành trạng, niên

phổ v.v…

MẬT VIÊN

…..

Cũng gọi Cử ba.

Học viện chuyên tu Mật tông trong hệ

thống 3 ngôi chùa lớn ở Lạp tát (Tạng:Lhasa),

Tây tạng.

Mật viện được chia làm Thượng viện và

Hạ viện, mỗi viện gồm 500 người. Thượng

mật viện cũng gọi là Cư đôi, Hạ mật viện

cũng gọi là Cư mạch, coi trọng khổ hạnh,

chủ yếu tu tập 3 Kim cương (Tập mật, Thắng

lạc, Đại uy đức) và các mật pháp khác như

Kim cương hộ pháp v.v… Chúng tăng trong

Mật viện đại khái có thể chia làm 2 bậc:

1. Những người chưa thi đậu học vị Cách

tây ở 3 chùa lớn mà vào thẳng Cử ba, thì gọi

là Cát nhiên ba, lấy việc học tập nghi quĩ sự

tướng của Mật bộ làm chính, ít nghiên cứu

giáo lí hơn.

2. Những người tu học ở học viện Hiển

giáo trong 3 ngôi chùa lớn, đã hoàn tất 13

khóa trình và thi đậu học vị Cách tây, lại

phải qua cuộc khảo thí của tự viện mà đậu,

thì trao cho học vị Đa nhiên ba; kế đến, qua

cuộc khảo thí Đại pháp hội tại Lạp tát mà

đậu, thì lại trao học vị Lạp nhiên ba. Chỉ có

những người đã được học vị Lạp nhiên ba

cách tây, mới được xét theo niên hạn và tư

cách trong Mật viện để thăng cấp. Sau khi

đảm nhiệm các chức vụ duy trì trật tự trong

Cử ba như “Cách quí”, “Ông tắc”, thì mới

có thể mong lên chức “Kham bố”, rồi thăng

Pháp vương v.v…

MẬT VƯƠNG

Chỉ cho đức Đại nhật Như lai, Giáo chủ

của Mật giáo. Vì Đại nhật tượng trưng cho

tâm vương, cho nên gọi là Mật vương.

MẬT Ý

…..

Ý kín đáo, tức chỉ cho ý chỉ đặc thù của

Phật ẩn kín sau những lời nói mà chúng sinh

không thể hiểu được, cho nên gọi là Mật.

Chẳng hạn như ý thực “Như lai thường trụ”

ẩn kín sau từ “Niết bàn”.

[X. kinh Tối thắng vương Q.1].

MÂU NI

…..

I. Mâu Ni.

Phạm:Pàli: Muni.

Cũng gọi Văn ni, Mậu nê.

Hán dịch: Tịch mặc, Tịch, Hiền nhân,

Nhân, Tiên.

MÂU NI

 

M

3108

Chỉ cho bậc Thánh hoặc tiên nhân tôn

quí, thù thắng.

Từ Mâu ni đã thấy xuất hiện vào cuối

thời đại Lê câu phệ đà ở Ấn độ xưa, nghĩa là

nhận lãnh linh cảm, hoặc chỉ cho bậc Thánh,

người ẩn dật, người tiên, người tu hạnh vắng

lặng v.v… Đến thời đại Áo nghĩa thư thì từ

“Mâu ni” được dùng để chỉ cho người tu

hành ở thời kì lâm thê(ẩn tu trong rừng) thứ

3 và đặc biệt chỉ cho bậc Thánh đã khai ngộ

ở thời kì du hành khất thực thứ 4 trong 4

Trụ kì (Phạm:Àzrama) của Bà la môn giáo.

Trong Mật giáo, từ Mâu ni cũng có các

nghĩa: Bậc Thánh, tiên nhân, người tu hạnh

vắng lặng…

Theo sự giải thích trong Huyền ứng âm

nghĩa quyển 18, thì Mâu ni là người tu tâm

học đạo, đã thông suốt nội ngoại, ẩn cư lâu

ngày trong rừng núi. Trong Pháp sắc của vua

A dục có khuyên người xuất gia, tại gia đọc

tụng 7 kinh, trong đó, Mâu ni kệ (Phạm:

Muni-gàthà) có lẽ là Mâu ni kinh (Munisutta)

trong “Kinh tập” bảnPàli, cho rằng

Mâu ni là tỉ khưu chân thực. Còn kinh Pháp

cú thứ 268, 269 bảnPàli thì gọi người làm

thiện lánh ác là Mâu ni. Tiểu bộ kinh nghĩa

thích bảnPàli cho rằng người có trí tuệ, tri

giải là Mâu ni và phân biệt 6 bậc Mâu ni:

Tại gia mâu ni, Phi tại gia Mâu ni, Hữu học

mâu ni, Vô học mâu ni, Bích chi mâu ni và

Mâu ni mâu ni.

II. Mâu Ni.

Phạm: Mauna.

Pàli:Mona.

Cũng gọi Mâu na.

Là hình dung từ Mâu ni. Cũng chỉ cho

trí, tức là tính chất của mâu ni.

Theo Tiểu bộ kinh nghĩa thích, trí mâu

ni bao gồm: Tuệ, tri giải, giản trạch, tư sách,

hiền minh, thiện xảo, biện biệt, tuệ đăng,

chính kiến v.v…

[X. kinh Ưu ba li trong Trung bộ bản

Pàli].

III. Mâu Ni.

Phạm: Mauneya.

Pàli:Moneyya.

Cũng gọi Mâu ni vị, Mâu ni tính, Mâu

ni hạnh, Tịch mặc.

Tức là lí mâu ni. Trung quốc và Nhật

bản xưa nay thường cho rằng Muni thuộc

về sự mâu ni, cònMauneyathuộc về lí mâu

ni. Về lí mâu ni thì từ thời Phật giáo nguyên

thủy đến nay có thuyết Tam mâu ni (Pàli:

Tìni moneyyàni), Hán dịch là Tam tịch

mặc, đó là: Thân mâu ni, ngữ mâu ni và ý

mâu ni.

Cứ theo sự giải thích trong luận Tập dị

môn túc quyển 6, thì thân luật nghi của bậc

Vô học là thân tịch mặc, ngữ luật nghi của

bậc Vô học là ngữ tịch mặc và tâm của bậc

Vô học là ý tịch mặc.

[X. luận Câu xá Q.16; luận Thành duy

thức Q.10; Đại nhật kinh sớ Q.1,12; Thành

duy thức luận thuật kí Q.10 phần cuối; Tông

luân luận thuật kí].

MÂU NI THẤT LỢI (? -806)

… … … ..

Phạm:Munizrì.

Cũng gọi Tịch mặc.

Cao tăng, người miền Bắc Ấn độ, đến

Trung quốc vào đời Đường.

Sư là người có độ lượng, chân thật, tinh

thần cao thượng. Năm Trinh nguyên thứ 9

(793) đời vua Đức tông, sư từ chùa Na lan

đà đến Trung quốc. Năm Trinh nguyên 16

(800) sư trụ ở chùa Hưng thiện tại Trường

an. Năm Trinh nguyên 19 (803) sư dời đến

chùa Sùng phúc, chùa Lễ tuyền, sau, sư lại

trụ ở chùa Đại từ ân. Trong các bản kinh

tiếng Phạm do ngài Huyền trang thỉnh về,

sư dịch được bộ kinh Thủ hộ quốc giới chủ

đà la ni 10 quyển. Sư còn dâng lên vua bức

“Lục trần thú đồ”, nhà vua vui mừng và cúng

dường rất trọng hậu.

Niên hiệu Nguyên hòa năm đầu (806)

MÂU NI THẤT LỢI

 

M

3109

sư tịch ở chùaĐại từ ân.

[X. Tống cao tăng truyện Q.13].

MÂU TÔNG TAM (1909- )

……..

Học giả người Trung quốc, quê ở huyện

Thê hà, tỉnh Sơn đông, tự là Li trung.

Ông từng dạy triết học tại các trường Đại

học: Hoa tây, Trung ương, Kim lăng, Chiết

giang, Đài loan sư phạm, Đông hải và Đại

học Trung văn Hương cảng. Ông không

những giỏi về triết học Nho giáo, Phật giáo,

Lão giáo mà còn có kiến giải độc đáo về triết

học Tây phương như Hegel, Kant v.v…

Ông có các tác phẩm: Nhận thức tâm

chi phê phán, Tài tính dữ huyền lí, Tâm thể

dữ tính thể, Phật tính dữ Bát nhã.

MÂU TỬ

…..

I. Mâu Tử.

Danh nhân Trung quốc, người quận

Thương ngô, sống vào cuối đời Đông Hán,

họ Mâu, tên Dung.

Ban đầu ông học Nho, nghiên cứu các

kinh truyện, ông cho rằng các sách nói về

thần tiên đều là những truyện hư cấu hoang

đường. Sau khi vua Linh đế nhà Đông Hán

băng hà (189), thiên hạ loạn lạc, ông cùng

thân mẫu lánh nạn sang đất Giao chỉ(nay là

Bắc bộ của Việt nam), năm 26 tuổi ông mới

trở về Thương ngô. Sau khi thân mẫu qua

đời, ông phát tâm qui y Phật giáo, đồng thời

nghiên cứu Lão tử, Ngũ kinh. Bấy giờ, các

nhà Nho thấy ông học Phật, nhiều người

bàn tán về ông, ông liền soạn sách “Lí hoặc

luận” để biện bác.

Cứ theo Hoằng minh tập quyển 1, thì

tác giả của Lí hoặc luận là Mâu tử bác, Thái

thú quận Thương ngô. Thành ra, vấn đề Mâu

tử bác và Mâu dung có phải cùng là 1 người

hay không thì vẫn chưa có định luận.

[X. Phật tổ thống kỉ Q.35].

II. Mâu Tử.

Tên sách. Gọi đủ: Mâu tử lí hoặc luận.

(xt. Lí Hoặc Luận).

MẬU GIÀ THỤ

Mậu già, Phạm:Moca.

Cũng gọi Sơn quì, Hản thái (Horse

ruddish tree).

Tên khoa học: Moringa Pterygosperma,

Gat.

Loại thực vật thuộc họ Moringeae, mọc

hoang ở vùng rừng núi Hi mã lạp sơn ở Ấn

độ và được trồng tại các khu vực nhiệt đới

trên thế giới. Thân cây thấp, gỗ mềm, vỏ

cây mịn láng, rễ rất cay, có thể ăn được, lá

hình bầu dục, dài từ 32 đến 64 phân tây, là

loại lá kép trên có 4 đến 6 lá nhỏ, dàn xếp

giống như cánh chim; hoa có đường kính

1 tấc, màu trắng, bầu nhụy có quả giống

như quả đậu, dài khoảng hơn 30 phân, rũ

xuống. Nước trái cây này là 1 trong 8 thứ

nước uống.

Bách nhất yết ma quyển 5 chú thích (Đại

24, 478 thượng): “Nước trái cây ấy giống như

nước chuối chín”.

MẬU LA TAM BỘ LƯ

…………..

Phạm:Mùlasthànapura.

Một vùng đất nằm bên Đông ngạn sông

Sindh (Ấn hà) thuộc Tây bắc Ấn độ.

Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 11

và Từ ân truyện quyển 4, thì vùng đất này

thời bấy giờ (thế kỉ VII) lệ thuộc nước Trách

ca, dân cư phần nhiều thờ thiên thần, ít tin

Phật pháp. Ở đây có hơn 10 ngôi chùa nhưng

phần lớn đã đổ nát; rất ít tăng đồ, mà học

tập cũng không chuyên. Có 8 ngôi đền thờ

trời, ngoại đạo xen lẫn, đặc biệt cúng tế pho

tượng bằng vàng của thần Mặt trời; các bậc

Vương hầu, quí tộc ở Ấn độ thời ấy đều đưa

các thứ trân quí đến đây cúng thần để cầu

MẬU LA TAM BỘ LƯ

 

M

3110

phúc. Thành phố Multan ở Pakistan hiện

nay chính là nền cũ của kinh đô xứ Mậu la

tam bộ lư ngày xưa.

Thành phố Multan là thủ phủ của người

Mallies vào thế kỉ thứ IV trước Tây lịch.

Khi Alexander Đại đế chinh phục Ấn độ,

tương truyền ông ta đã bị trọng thương ở

gần thành phố này.

MẪU CHỦ

…..

Cũng gọi Bộ mẫu.

Đối lại: Bộ chủ.

Vị Bản tôn sinh ra các Bộ chủ hoặc các

vị tôn khác.

Năm bộ Kim cương giới và 3 bộ Thai

tạng giới trong Mật giáo, mỗi bộ đều lập Bộ

chủ và Bộ mẫu. Bộ chủ như Quốc vương, là

bản tôn trung tâm của các bộ; Bộ mẫu như

Quốc mẫu sinh thành các vị tôn.

[X. Bí tạng kí Q.cuối]. (xt. Bộ Chủ Bộ

Mẫu).

MẪU ĐÀ LA

Phạm:Mudrà.

Cũng gọi Mục đà la, Mẫu nại la.

Hán dịch: Ấn tướng, Khế ấn, Mật ấn.

Gọi tắt: Ấn.

Là phương tiện hiển bày đức nội chứng

của chư Tôn trong hải hội Mạn đồ la Mật

giáo.

(xt. Thủ Ấn, Ấn Tướng).

MẪU ĐÀ MA NÔ SA

Phạm: Mfta-manuwya.

Cũng gọi Mẫu na ma nô sa.

Hán dịch: Tử nhân, Tử thi.

Người chết, thây chết.

Kinh Để lí tam lang muội (Đại 21, 11

trung), nói: “Vào đêm mồng 8, đến bãi tha

ma, tìm 1 Mẫu đà ma nô sa(thây chết), ngồi

trên thây chết ấy niệm tụng đủ 1 vạn biến

(thần chú), thây chết liền cử động, không

được sợ hãi; rồi từ miệng của thây chết ấy

mọc ra 1 hoa sen lớn nở rộ, hành giả liền

nắm lấy, tự nhiên thân mình giống như 16

vị đồng tử, tóc như móc xích, bay lên hư

không, đến cõi trời Phạm thiên, làm chủ các

Đại minh vương”.

MẪU ĐƠN THẢO

Những hoa văn hình cỏ mẫu đơn được

vẽ trên đường viền bên ngoài của Mạn đồ la

Thai tạng giới, Mật giáo.

Vì cỏ mẫu đơn vốn được trải ra để bày

các thức ăn, cho nên vẽ loại cỏ này trên

đường viền bên ngoài của Mạn đồ la để tượng

trưng chỗ đặt các thực vật cúng dường. Ngoài

ra, những hoa văn hình cỏ vẽ trên đường

viền bên ngoài Mạn đồ la Kim cương giới,

gọi là Bảo tính thảo. Đây là dùng loại cỏ bò

lan trên mặt đất, không rễ mà vẫn sinh

trưởng để biểu thị ý nghĩa Mạn đồ la viên

dung vô ngại, lớp lớp không cùng tận. Hoặc

có thuyết cho rằng Mạn đồ la tượng trưng

thành quách, Bảo tính thảo tượng trưng cho

vườn hoa ở ngoài thành.

Đại Thánh diệu cát tường bát tự nghi

quĩ có nói rõ về Mẫu đơn thảo và Bảo tính

thảo.

MẪU LỤC THÂN

……..

Cũng gọi Mẫu thân.

Chỉ cho 6 bậc thân thuộc bên mẹ.

Tam tạng pháp số quyển 27 nói rằng,

đức Phật muốn cho các tỉ khưu tránh được

sự chê cười của thế gian, nên Ngài qui định

tỉ khưu không được nhờ người nữ và tỉ khưu

ni không phải là thân thuộc giặt y áo cũ, mà

có thể nhờ người thân thuộc của cha mẹ

giặt giúp, do đó mới chế định Phụ lục thân,

Mẫu lục thân. Mẫu lục thân là:

MẪU LỤC THÂN

 

M

3111

1. Cậu của mẹ: Tức anh em của bà ngoại,

là ông cậu của chính mình.

2. Dì của mẹ:Tức chị em của bà ngoại,

là bà dì của chính mình.

3. Anh chị của mẹ:Là cậu hoặc dì của

chính mình.

4. Em của mẹ:Là cậu hoặc dì của chính

mình.

5. Con gái con trai của mẹ:Là chị em,

anh em của chính mình.

6. Cháu của mẹ:Tức con của anh em

ruột, là cháu gái, cháu trai của chính mình.

[X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.14]. (xt.

Phụ Lục Thân).

..

Phạm:Bhrànti.

Đối lại:Ngộ.

Chấp chặt vào sự lí sai lầm, không nhận

biết rõ được chân tính của sự vật, gọi là Mê.

Trái lại, từ trong mê tỉnh thức, thấu suốt lí

chân thực, gọi là Ngộ.

Nhiếp đại thừa luận thích quyển 2 (bản

dịch đời Lương) cho rằng, trong mê có 3

hoặc: Vô tri, Nghi tri, Điên đảo tri, nếu khởi

3 hoặc này thì sẽ sinh ra 2 thứ tà kiến: Hoặc

chấp vào nhân bất bình đẳng, hoặc chấp

vào vô nhân. Đó đều là do mê sự lí mà khởi

lên vọng chấp điên đảo.

[X. luận Hiển dương thánh giáo Q.14;

phẩm Minh tín trong Đại thừa trang nghiêm

kinh luận Q.4].

MÊ CHẤP

Mê hoặc chấp trước, nghĩa là đối với

chân lí của các Pháp, hiểu biết sai lầm, lại

chấp sự sai lầm ấy cho là đúng, trở thành

điên đảo.

Luận Đại tì bà sa quyển 139 (Đại 27,

718 trung) nói: “Đây là lời của ngoại đạo, vì

trong đó có sự mê chấp”.

MÊ ĐẢO

…..

Bị mê hoặc mà hiểu sự lí một cách đảo

lộn.

Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển)

quyển 49 (Đại 10, 261 trung) nói: “Bồ tát

xa lìa mê đảo, tâm thanh tịnh thường tương

tục”.

[X. Hữu bộ tì nại da Q.47].

MÊ ĐẦU NHẬN ẢNH

………..

Không hiểu được lí chân thật mà tìm cầu

ảo tưởng. Đây là ví dụ trong kinh Lăng

nghiêm quyển 4.

Trong thành Thất la phiệt có 1 kẻ ngu

si tên là Diễn nhã đạt đa, một buổi sáng

nọ, nhìn vào gương thấy đầu mình có đầy

đủ mặt mũi tai mắt, nhưng khi lìa khỏi

gương thì không thấy đầu mình đâu nữa,

anh ta liền hoảng sợ, điên cuồng chạy đi

tìm đầu!

Trong đoạn văn trên, đầu ví chân tính,

hình ảnh trong gương ví dụ tướng hư ảo

không thật.

MÊ ĐỒ

…..

Cảnh giới mê tối, tức chỉ cho 3 cõi, 6

đường mà chúng sinh đang sống chết vòng

quanh trong đó.

Ba cõi chỉ cho cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô

Sắc; 6 đường tức là địa ngục, ngã quỉ, súc

sinh, A tu la, người và trời…

[X. luận Bồ đề tâm]. (xt. Tam Giới, Lục

Đạo).

MÊ GIÀ THẤT LỢI

Phạm: Meghazri.

Hán dịch: Đức vân, Công đức vân, Cát

tường vân.

MÊ GIÀ THẤT LỢI

 

M

3112

Vị tỉ khưu trụ ở nước Thắng lạc (Phạm:

Ràmàvarànta) tại phương Nam, là 1 trong

53 vị thiện tri thức mà Đồng tử Thiện tài

tìm đến tham học.

Khi đến nước này, Đồng tử Thiện tài

được tỉ khưu Đức vân giảng cho nghe về

pháp môn: “Nhớ nghĩ tới tất cả cảnh giới

bình đẳng của chư Phật với trí tuệ thấy cùng

khắp không bị trở ngại”.

[X. phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa

nghiêm; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí

Q.18].

MÊ GIỚI

…..

Cũng gọi Mê cảnh.

Cõi mê muội, tức là 3 cõi, 6 đường luân

hồi của chúng sinh.

(xt. Mê Đồ).

MÊ HOẶC

…..

Lầm lẫn sự lí là mê, không hiểu rõ sự lí

là hoặc.

Cảnh giới của Phật, Bồ tát không có mê

hoặc, còn kẻ phàm phu thì thường mê lầm

sự lí, khởi nghiệp phiền não.

[X. kinh Hoa nghiêm Q.5 (bản dịch đời

Đường); phẩm Phương tiện trong kinh Pháp

hoa].

MÊ LÊ MA LA

………..

Cũng gọi Mê lí ma la, Mị lê ma la, Di lê

ma la, Mê lưu một loạn.

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Sự mê loạn của con mắt.

Tắc 51, trong Bích nham lục (Đại 48,

186 thượng) chép: “Nếu thình lình con

mắt bị mê loạn(mê lê ma la), thì bất cứ

đến nơi nào hễ gặp hỏi liền hỏi, gặp đáp

liền đáp, đâu biết rằng lỗ mũi ở trong tay

người khác”.

MÊ LÊ DA

……..

Phạm: Maireya.

Cũng gọi Muội na dã.

Hán dịch: Mộc tửu.

Loại rượu tạp được nấu bằng rễ, cuống,

hoa, quả của các loại thực vật. Đối lại với

Tốt la là loại rượu được nấu bằng gạo. Rượu

mê lệ da có đủ cả màu sắc và hương vị, khiến

người uống say túy lúy.

Theo luật Tứ phần quyển 16 thì rượu

mê lệ da có các loại như: Rượu lê, rượu diêm

phù, rượu mía, rượu xá lâu già, rượu nhuy

trấp, rượu nho v.v…

[X. luật Thập tụng Q.17; luận Pháp uẩn

túc Q.11].

MÊ LÍ

…..

Đối lại: Mê sự.

Cũng gọi Mê lí hoặc.

Mê mờ đối với chân lí Tứ đế, tức chỉ cho

Kiến hoặc.

(xt. Kiến Hoặc, Tu Hoặc).

MÊ LƯ (LÔ)

…..

Phạm: Sumeru.

Gọi đủ: Tô mê lư.

Tức là núi Tu di.

Núi Tu di cao 8 vạn do tuần, cho nên

cũng gọi là “Mê lư bát vạn”.

(xt. Tu Di Sơn).

MÊ MỘT

…..

Mê mờ chìm đắm, tức là vì mê vọng chấp

trước mà chìm đắm trong chỗ sai lầm.

Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12,

275 thượng) nói: “Không thấu suốt đạo đức,

nên đắm chìm(mê một) trong sân hận”.

(xt. Mê Tình).

MÊ MỘT

 

M

3113

MÊ NGỘ

…..

Mê và ngộ. Phiền não hoặc nghiệp trói

buộc, gọi là Mê; thoát khỏi hoặc nghiệp,

rõ suốt chân lí, gọi là Ngộ. Mục đích của

Phật giáo là chỉ dẫn chúng sinh chuyển

mê thành ngộ, từ phàm phu đến quả Phật.

Mê thì luân hồi tái sinh, ngộ thì giải thoát

niết bàn. Thực ra, mê và ngộ chỉ là 2 mặt

của 1 đồng tiền, chẳng phải 1 cũng không

phải khác. Như khi vội vàng, thấy sợi dây

tưởng lầm là con rắn, đó là mê; sau nhận

ra chẳng phải con rắn mà là sợi dây, đó là

ngộ. Sợi dây trước sau không khác, chỉ vì

sự mê ngộ của người thấy mà thành ra

dây và rắn khác nhau, đó chính là cái lí

“mê ngộ bất nhị” mà Thiền tông thường

nói đến.

[X. Cổ tôn túc ngữ lục Q.30; Vĩnh bình

quảng lục].

MÊ NGỘ NHÂN QUẢ

………..

Nhân quả của mê và ngộ.

Mê ngộ đều có nhân quả; nếu nói theo

pháp Tứ đế, thì nhân của mê vọng là Tập

đế, quả của mê vọng là Khổ đế; nhân của

chứng ngộ là Đạo đế, quả của chứng ngộ là

Diệt đế.

MÊ NGỘ NHẤT NHƯ

………..

Cũng gọi Mê ngộ nhất đồ, Mê ngộ bất

nhị.

Mê không có tự tính, không có tự tính

nên là không; bởi vậy, mê là không, mà

ngộ cũng là không. Thể của không là đồng

nhất, nên gọi là Nhất như, đó là theo nghĩa

của Không tông. Lại nữa, mê như băng

giá, ngộ như nước, mê ngộ đồng thể, gọi

là Nhất như, đó là theo nghĩa của Tính

tông.

MÊ NHÂN CHÚ

……..

Một loại chú thuật của ngoại đạo, làm

cho người ta mê loạn.

[X. luật Ngũ phần Q.26].

MÊ NHŨ

…..

Không nhận ra(mê) màu sắc của sữa

(nhũ), ví dụ ngoại đạo vì mê chấp nên không

hiểu được lí của 4 đức thường, lạc, ngã, tịnh.

Kinh Niết bàn quyển 14 (bản Bắc) nêu

ví dụ người mù không biết màu trắng của

sữa, tuy có nêu ra 4 vật có màu trắng là vỏ

sò, bột gạo, tuyết, con hạc để ví dụ, nhưng

rốt cuộc người mù vẫn chẳng thể biết được

màu sắc đích thực của sữa. Ngoại đạo cũng

vậy, cuối cùng vẫn không thể nào hiểu được

lí thường, lạc, ngã, tịnh là thế nào.

[X. Ma ha chỉ quán Q.5].

MÊ SINH

Chỉ cho chúng sinh mê chấp, vì mê chấp

không tỉnh giác, nên cứ phải lưu chuyển mãi

trong 3 cõi, không lúc nào dừng.

MÊ SỰ

…..

Đối lại: Mê lí.

Cũng gọi Mê sự hoặc.

Mê chấp sự tướng của 5 trần(sắc, thanh,

hương, vị, xúc), tức chỉ cho Tu hoặc.

[X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết

hành sự sao Q.1 thượng]. (xt. Kiến Hoặc,

Tu Hoặc).

MÊ TÂM

Tâm mê lầm sự lí, là 1 trong 60 vọng

tâm nói trong phẩm Trụ tâm của kinh Đại

nhật.

MÊ TÂM

 

M

3114

Kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 3 thượng)

nói: “Thế nào là mê tâm? Nghĩa là chỗ chấp

trước sai khác, chỗ suy nghĩ sai khác”.

Đại thừa nhập đạo thứ đệ (Đại 45, 460

thượng) nói: “Mê tâm chẳng ngộ thì dù một

hạnh cũng chẳng có chỗ nương”.

Pháp đối trị là tâm chuyên nhất thẩm

xét kĩ lưỡng.

[X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm

Q.10].

MÊ TÂN

…..

Bờ bến mê vọng.

Chỉ cho cảnh giới 3 cõi, 6 đường của

chúng sinh.

Bài tựa Đại đường tây vực kí (Đại 51,

867 hạ) nói: “Phá hoài nghi trên biển tính,

mở diệu giác ở bến mê”.

Bài tựa của vua Thần tông nhà Minh

trong Tục nhập tạng kinh cũng nói: “Tạm

mượn bè nơi bến mê để vượt sang bờ giác”.

MÊ TÍN

…..

Niềm tin lầm lạc của người đời.

Phật giáo là tông giáo chính tín, lấy việc

chuyển mê khai ngộ làm mục đích, hiểu biết

tất cả pháp một cách như thực, xa lìa sự hư

dối, đạt đến chính đẳng giác là lí tưởng. Do

đó, Phật giáo chủ trương bài trừ những điều

không hợp lí và hoàn toàn không chấp nhận

những điều mê tín, dị đoạn. Ngay như sự kì

đảo của Mật giáo cũng là dùng tam mật của

hành giả và tam mật của bản tôn gia trì lẫn

nhau mà thành tựu căn nguyên Tất địa, khác

hẳn với các hình thức mê tín. Mặc dầu như

thế, nhưng với sự thay đổi của thời gian, các

tập tục tín ngưỡng dân gian như chiêm tinh,

tướng số, bói toán, bùa chú v.v… đã dần dần

trà trộn vào, từ đó đã sinh ra mê tín có hại

cho xã hội. Như căn cứ vào kinh Tú diệu mà

xemngày giờ lành dữ, căn cứ vào kinh Chiêm

sát mà hành pháp Tháp sám(rấtthịnh hành

ở đời Tùy), căn cứ vào kinh Du kì quyển hạ

mà thực hành pháp A vĩ xa, dùng bùa phép

chữa bệnh chứ không dùng thuốc v.v… Tất

cả những việc làm trên đều thuộc loại mê tín.

MÊ TÌNH

…..

I. Mê Tình.

Đồng nghĩa: Mê tâm.

Chỉ cho tâm mê hoặc của phàm phu, vì

phàm phu không biết rõ thực tướng của vạn

hữu, bám dính vào các sự vật khách quan,

vọng niệm nối tiếp không dứt, cho nên tâm

của phàm phu gọi là Mê tình.

II. Mê Tình.

Chỉ cho chúng sinh(hữu tình) mê hoặc.

Chương Bồ đề đạt ma trong Cảnh đức

truyền đăng lục quyển 3 (Đại 51, 219 hạ),

chép:

“Ta vốn đến đất này,

Truyền pháp cứu mê tình;

Một hoa nở năm cánh,

Kết quả tự nhiên thành”.

MÊ TỬ

…..

Người không biết rõ sự lí.

Trong kinh Kim cương tam muội có 1

thí dụ về Mê tử như sau: Gã mê cầm tiền

vàng trong tay mà không biết tiêu dùng, cứ

sống vất vưởng, khốn khổ quanh năm. Ví

dụ người phàm phu vốn có tính Phật mà

không tự biết, nên cứ mãi trôi lăn trong 3

cõi, khổ não vô cùng.

MÊ VỌNG

…..

Không rõ sự lí là mê, hư dối không thực

là vọng. Vì chúng sinh mê vọng nên phải

chịu vô lượng thống khổ.

[X. kinh Hoa nghiêm Q.4 (bản dịch đời

Đường); Nhân vương kinh hợp sớ Q.trung].

MÊ VỌNG

 

M

3115

MÊ XÍ LA ĐẠI TƯỚNG

Mê xí la, Phạm:Mihira.

Cũng gọi Di khư la đại tướng, Mê khư la

đại tướng.

Vị thần tướng phát nguyện bảo vệ Phật

pháp, là 1 trong 12 thần tướng của đức Phật

Dược sư.

Về hình tượng của vị

thần này, có nhiều thuyết

khác nhau. Cứ theo Tịnh

lưu li tịnh độ tiêu, thì

Hộ pháp Đại tướng Mê

xí la a yết noa phương,

thứ 3, toàn thân rực lửa,

trên có khói xanh, cỡi

rồng bay đi, trong tay

cầm cây mâu, trên mâu

có cờ ánh lửa.

Còn theo kinh Dược sư luu li quang

vương thất Phật bản nguyện công đức niệm

tụng nghi quĩ quyển hạ, thì Đại tướng Dược

xoa mê xí la mình màu vàng, tay cầm gậy

báu, thống lãnh 7 ức chúng Dược xoa, thệ

nguyện giữ gìn giáo pháp của đức Như lai.

[X. kinh Quán đính Q.12].

MỄ MẠCH NHAI PHƯỜNG

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Chức vụ phụ trách việc ra phố phường

hoặc đến xóm làng khuyến hóa tín đồ cúng

dường thóc gạo cho chúng tăng.

Điều Nhai phường Thủy đầu Thán đầu

Hoa nghiêm đầu trong Thiền uyển thanh

qui quyển 4 (Vạn tục 111, 44 hạ) nói: “Chúc

nhai phường, Mễ mạch nhai phường, Thái

nhai phường, Tương nhai phường (…), đều

là các chức vụ, bên ngoài thì đi khuyến hóa

đàn việt(tín đồ) tăng trưởng ruộng phúc, bên

trong thì hỗ trợ Thiền lâm, giữ gìn đạo quả”.

(xt. Hóa Chủ).

MÊNH

..

I. Mệnh.

Chỉ cho “mệnh căn” thường được nói

đến trong các kinh điển của Phật giáo.

(xt. Mệnh Căn).

II. Mệnh.

Phạm:Jìva.

Chỉ cho linh hồn theo học thuyết căn

bản của Kì na giáo ở Ấn độ.

Kì na giáo chia “Mệnh” làm 2 loại là bị

vật chất trói buộc và không bị vật chất trói

buộc. “Mệnh” bị vật chất trói buộc có động,

tĩnh khác nhau. Loại động tồn tại trong

những vật thể có sinh mệnh như động vật

và người, còn loại tĩnh thì tồn tại trong các

vật thể không có sinh mệnh như đất, lửa,

gió v.v… “Mệnh” không bị vật chất trói buộc

chỉ cho “mệnh” giải thoát.

Kì na giáo coi “mệnh” là nguyên lí của

sự sống còn trong vũ trụ, chủ trương trong

“mệnh” có tính hoạt động, khả năng nhận

biết và 5 thứ trí: Tư trí (Phạm:Mati), Văn

trí (Phạm:Zruta), Tự giác trí (Phạm:

Avadhi,cũng gọi Tha giới trí), Tuệ trí (Phạm:

Mana#paryàya,cũng gọi Tha tâm trí) và

Nghĩa trí (Phạm:Kevala,cũng gọi Tuyệt đối

trí). Mệnh này cùng với Vô mệnh (Phạm:

Ajìva) là 2 yếu tố lớn cấu tạo nên vũ trụ.

[X. phẩm Minh tạo luận trong luận

Phương tiện tâm]. (xt. Vô Mệnh).

MÊNH CĂN

Phạm: Jìvitendriya.

Thọ mệnh của các loài hữu tình, cũng

thuộc về pháp Tâm bất tương ứng hành, 1

trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp

của Duy thức.

Do sức nghiệp ở quá khứ dẫn sinh, thân

tâm hữu tình tiếp nối trong 1 khoảng thời

gian(từ lúc đầu thai đến khi chết), cái thể duy

MÊNH CĂN

Đại tướng Mê Xí La

 

M

3116

trì hơi ấm(trong thân) và thức(tâm) là “thọ”.

Nói cách khác, cái nương vào hơi ấm và thức

mà duy trì thân này trong 1 khoảng thời

gian, tức gọi là Mệnh căn.

Về vấn đề Mệnh căn là có giả hay có

thật, thì quan điểm của các phái Phật giáo

không giống nhau. Thuyết nhất thiết hữu

bộ trong Phật giáo bộ phái cho rằng mệnh

căn là có thật, nhưng Kinh bộ và Phật giáo

Đại thừa thì lại cho mệnh căn là giả chứ

không phải có thật. Như luận Thành duy

thức quyển 1 nói: Nương vào “Chủng tử

danh ngôn” của thức thứ 8, cùng với sức

nghiệp quá khứ dắt dẫn, mà nắm giữ thân

mệnh ở đời này, công năng ấy quyết định

thời gian tồn tại của sắc, tâm có dài ngắn

khác nhau, vì thế giả lập làm mệnh căn.

[X. luận Phẩm loại túc Q.1; luận Phát trí

Q.14; luận Đại tì bà sa Q.126; luận Câu xá

Q.5]. (xt. Thọ).

MÊNH MÊNH ĐIỂU

……..

Phạm:Jivaô-jivaka.

Hán âm: Kì bà kì bà, Kì bà kì bà ca, Thời

bà thời bà ca.

Cũng gọi Cộng mệnh điểu, Sinh sinh

điểu.

Loại chim trĩ sống ở Bắc Ấn độ, được

đặt tên theo tiếng hót.

Loài chim này có hình dáng kì quái: Một

thân 2 đầu, mặt người hình chim, bay liệng

nhanh chóng và nhẹ nhàng, tiếng hót rất

hay, vì 2 đầu chung 1 thân, cùng sống chết

nên gọi là Cộng mệnh. Trong kinh Phật,

loại chim này và chim Ca lăng tần già đều

được xem là chim có tiếng hót hay.

[X. kinh Tạp bảo tạng Q.3].

MÊNH NHƯ PHONG TRUNG ĐĂNG

…………..

Sự sống của con người như ngọn đèn

trước gió.

Thích môn qui kính nghi quyển thượng

nói: Mệnh sống con người như ngọn đèn

trước gió, không biết bị thổi tắt lúc nào; ngày

qua ngày, khó mà biết được cái chết sẽ đến;

rồi cứ theo nghiệp chuyển sinh, trong chỗ

mịt mờ, chẳng biết đi đâu”.

MÊNH PHẠM

Mệnh nạn và Phạm nạn.

Mệnh nạn là những tai nạn có liên quan

đến sự còn mất của thân mệnh con người.

Còn Phạm nạn là những tai ách có liên quan

đến sự xúc phạm hạnh thanh tịnh của con

người.

MÊNH QUANG

Chỉ cho thọ mệnh của con người, vì thọ

mệnh tùy theo ngày tháng(quang âm) mà

trôi chảy, tàn tạ nên gọi là Mệnh quang.

Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 4 (Đại19,

124 thượng) nói: “Hình hài tiêu tan, mệnh

quang tàn lụi (…) Căn trần thức tâm, lúc đó

cũng tiêu, tưởng tướng bụi bặm, tình thức

nhớp nhúa, cả 2 đều xa lìa”.

MÊNH TRƯỢC

…..

Phạm:Àyu-kawàya.

Cũng gọi Thọ trược.

Tuổi thọ của con người bị các phiền não

uế trược rút ngắn, là 1 trong 5 trược.

Vào đời mạt pháp, do các ác nghiệp

phiền não, tà kiến tăng trưởng mạnh mẽ,

nên tuổi thọ con người dần dần rút ngắn.

Trược nghĩa là nhớp nhúa vẩn đục, mà

phiền não và tà kiến lại là bản thể của trược,

tuổi thọ con người bị rút ngắn là do kết

quả của 2 thứ này gây ra, cho nên gọi là

Mệnh trược.

[X. kinh Diệu pháp liên hoa Q.1; kinh

Bồ tát địa trì Q.7]. (xt. Ngũ Trược).

MÊNH TRƯỢC

 

M

3117

MÊNH VẬN

…..

Số mệnh của con người. Phật giáo vốn

không nói đến “Mệnh vận”(Vận mệnh, số

mệnh)mà chỉ nói về nghiệp quá khứ(Túc

nghiệp). Tức là do nhân đã tạo tác ở quá

khứ mà đưa đến quả được hưởng hay phải

chịu ở hiện tại, cái mắt xích nối liền(nhân

duyên)giữa nhân và quả này được gọi là

“nghiệp”. Từ quá khứ đến hiện tại cho mãi

đến vị lai đều chịu 1 sức nghiệp chi phối,

mỗi người tùy theo sức nghiệp của mình

mà lưu chuyển, không thể cưỡng lại được.

Hơn nữa, nghiệp của các nhân đôi khi tuy

nhỏ, nhưng cũng có thể bị sức ép mà rơi

vào dòng nghiệp tương đối lớn hơn. Thuyết

này gần giống với “mệnh vận” nhưng cũng

có chỗ khác nhau, tức nếu cá nhân có ý chí

mạnh mẽ thì có thể nhờ vào ý chí ấy mà

xoay chuyển dòng nghiệp của chính mình,

mà nếu chuyển được thì thoát khỏi quả

báo của nghiệp. Đây chính là tinh thần cơ

bản của Phật giáo xác nhận con người có ý

chí tự do.

(xt. Nghiệp).

MIÊN

..

Phạm: Middha.

Cũng gọi là Thụy miên.

Ngủ mê, thân tâm hôn ám trầm trọng,

thuộc tâm sở pháp, 1 trong 75 pháp của Câu

xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức.

[X. luận Thành duy thức Q.7; Đại thừa

nghĩa chương Q.2].

MIÊN ĐƠN

Vật để trải hoặc đắp khi nằm nghỉ, 1

trong các loại ngọa cụ do đức Phật chế định.

Tổ đình sự uyển quyển 8 (Vạn tục 113,

121 hạ) nói: “Khi đức Phật ở tại vườn Cấp

cô độc, có 1 vị tỉ khưu để mình trần nằm

ngủ, không dùng mền, ngọa cụ giữ gìn thân

thể, mọi người đều chê cười. Phật dạy: “Phải

nên đắp ngọa cụ”. Tức là miên đơn dùng

trong nhà Thiền vậy”.

MIÊN NGỌA KÊ

Bốn câu kệ phải niệm tụng trước khi ngủ.

Tì ni nhật dụng thiết yếu (Vạn tục 106,

68 thượng) chép: “Trước khi ngủ, xoay mặt

về hướng Tây, chắp tay quán tưởng, niệm

danh hiệu Phật 10 tiếng, hoặc niệm trăm,

nghìn, vạn tiếng rồi tụng bài kệ:

Khi sắp ngủ nghỉ

Nguyện cho chúng sinh

Thân được an ổn

Tâm không động loạn”.

MIÊN NGỌA THỜI TÁC PHÁP

Phương pháp nằm ngủ của hành giả

Chân ngôn thực hành mỗi đêm trong thời

gian tu pháp để tránh sự biếng nhác.

Cứ theo phẩm Trì chân ngôn pháp trong

kinh Tô tất địa quyển thượng, thì lúc ngủ,

không được nằm trên giường lớn quá hay

nhỏ quá, cũng không được nằm chung

giường với người khác, phải thanh tịnh, trầm

tư mặc tưởng, không nằm ngửa, không nằm

sấp, mà nằm nghiêng bên hông phải dáng

như sư tử vương, không được mở mắt.

Ngoài ra, có thuyết nói nửa đêm trải cỏ

tranh, dùng để kết giới 4 phía. Nếu tu pháp

Tăng ích thì nằm 2 chân xếp chồng lên

nhau, nằm nghiêng bên hông phải, đầu

hướng về Nam, mặt xoay hướng Đông, dùng

tay làm gối. Tu pháp Tức tai, đầu hướng

Đông, mặt xoay hướng Bắc. Tu pháp Hàng

phục, đầu hướng Tây, mặt xoay về hướng

Nam, quán tưởng thân vô thường, vô ngã,

khổ, không, bất tịnh, miệng tụng chú: “Án

(oô,qui mệnh) phạ nhật la (vajra,kim cương)

MIÊN NGỌA THỜI TÁC PHÁP

 

M

3118

xa để (zanti,tịch tĩnh) hồng (hùô), tụng

xong, bắt đầu ngủ.

Nếu hành giả Chân ngôn làm theo tác

pháp này, thì tất cả ác mộng đều tiêu trừ,

mau thành tựu pháp tu.

MIÊN TẠNG

…..

Phòng ngủ trong Phương trượng của

Thiền viện Nhật bản.

Theo thông lệ, trong Phương trượng chia

ra: Gian giữa, gian sau(gian giữa thứ 2) là

trung tâm; hai bên trái phải mỗi bên cũng

có 2 gian, hợp làm 6 gian tạo thành Phương

trượng(căn nhà mỗi bề 1 trượng vuông vức).

Vách sau của gian giữa thứ 2 kê 1 cái tủ,

trên mặt tủ lập bàn thờ Phật, sau bàn thờ

Phật có 1 căn nhỏ làm chỗ ngủ nghỉ, đó là

Miên tạng.

MIÊN THỤY ĐỐI TRỊ PHÁP

Cũng gọi Thụy miên đối trị pháp.

Phương pháp trừ diệt ngủ gục và ngủ li

bì.

Đang khi tụng niệm hoặc quán tưởng,

nếu hành giả cảm thấy buồn ngủ, hoặc đã

ngủ gục, sợ mất chính niệm, thì có thể đứng

dậy đi dạo để thư giãn tinh thần, hoặc rửa

mặt bằng nước lạnh, hoặc lại tụng niệm chân

ngôn Phật nhãn, hoặc tụng chú Bi sinh nhãn.

Khi tinh thần đã tỉnh táo như thường, thì

lại tiếp tục tọa thiền, trì tụng hoặc quán

tưởng.

[X. kinh Trưởng lão thượng tôn thụy

miên trong Trung a hàm].

MIẾN ĐIÊN PHẬT GIÁO

Miến điện (Burma) là 1 nước ở vùng

Đông nam châu Á, phía Đông bắc, giáp các

tỉnh Tây khang, Vân nam của Trung quốc,

phía Tây giáp Ấn độ Banghladesh, phía

Đông giáp Thái lan, Lào, phía Nam giáp vịnh

Bengal. TiếngPàli của danh từ Miến điện

là Maramma (Hán âm: Ma la ma), là chuyển

lầm từ chữ PhạmBrahma (Hán dịch: Phạm

ma, Phạm thiên). Theo âm Miến điện

Maramma-desa, có nghĩa là đất nước của

Phạm thiên. Chủng tộc nhập cư sớm nhất

là chủng tộcTalaing(Đắc lăng), kế đến là

các chủng tộc Burman(Miến) và chủng tộc

Shan(Đàn).

Cứ theo Đảo sử của Tích lan thì vào thế

kỉ III trước Tây lịch, vua A dục của Ấn độ

phái các ngài Tu na (Pàli:Soịa) và Uất đa

la (Pàli:Uttara) đến nước Kim địa (Pàli:

Suvaịịa-bhùmi) truyền giáo, có thuyết cho

rằng Kim địa tức là dải đất Đả đoan ở hạ

Miến điện hiện nay. Nhà chú thích Phật âm

(Pàli: Buddhaghowa) sống vào giữa thế kỷ

thứ V được Miến điện nhiều lần xác định

ngài xuất thân từ vùng Đả đoan. Tương

truyền, 2 thương gia cúng dường thức ăn

đầu tiên cho đức Phật lúc Ngài mới thành

đạo, chính là người Miến điện và cũng theo

truyền thuyết thì có lần bản thân đức Phật

đã đến Bồ cam (Pagan) truyền pháp v.v…

tất cả những việc này còn phải chờ sự khảo

chứng.

Căn cứ vào những di vật đào được, có

thể suy đoán rằng thượng Miến điện thuộc

hệ thống văn hóa Bắc Ấn độ, còn hạ Miến

điện thì hấp thu văn hóa từ Nam Ấn độ. Về

tông giáo được truyền vào Miến điện thì đầu

tiên là Bà la môn giáo Ấn độ, kế đến là Phật

giáo. Theo các văn hiến quan trọng đào được

cho thấy, thì mới đầu Phật giáo Thượng tọa

bộ được du nhập, từ thế kỉ X về sau, Phật

giáo Đại thừa và Mật giáo mới dần dần được

truyền vào. Vào thế kỉ XI trước đó, tại Miến

điện đã có phái Đại thừa A lợi tăng (Ari)

hiện diện, tăng chúng phái này mặc áo pháp

màu lam, để tóc, sinh hoạt phóng túng, cho

rằng nếu làm điều ác thì chỉ cần niệm tụng

chú cứu hộ là có thể thoát khỏi sự báo ứng

MIÊN THỤY ĐỐI TRỊ PHÁP

 

M

3119

nhân quả. Phái này lại chia làm 2 chi là: Trụ

lâm(ở trong rừng) và Trụ thôn(ở trong làng

xóm). So với phái Tính lực của Ấn độ thì

phái này cực đoan hơn, có thuyết cho rằng

phái này là sự hỗn hợp giữa Lạt ma Mật

giáo đọa lạc và Phật giáo Đại thừa. Trước

thời vua A nô luật đà (Pàli: Anuruddha),

phái này có thế lực mạnh nhất trong các

giáo phái ở vùng Bồ cam; trung tâm điểm

của phái này là Sa ma để (Samati). Sau khi

Vương triều Bồ cam (1044-1287) nổi lên,

các phái Phật giáo Miến điện thời kì đầu và

phái A lợi tăng lần lượt suy vong.

Năm 1044, vua A nô luật đà thống nhất

toàn quốc, đặt thủ đô ở Bồ cam. Năm 1057,

chinh phục Đả đoan, thỉnh về các tỉ khưu,

3 tạng kinh điển, xá lợi Phật, các bảo vật, lại

ban sắc chỉ cho Cao tăng A la hán (Arhan)

lãnh đạo cuộc cải cách tăng đoàn, kính tin

Phật giáo Thượng tọa bộ, còn các phái đã có

trước kia như Thượng tọa bộ, Phật giáo Đại

thừa, Mật giáo và Bà la môn giáo dần dần

tiêu diệt. Ít lâu sau, vua cho xây ngôi tháp

Phật Thụy đức cung (Shwe Dagon) ở Bồ

cam, trải qua 2 đời vua mới hoàn thành.

Vua nước Tích lan là Tì xá da bà ha đệ nhất

(Vijayabàhu I) từng sai sứ đến Miến điện,

xin ban Tam tạng, thỉnh chư tăng, bỗng

chốc, Miến điện trở thành trung tâm của

Phật giáo Nam truyền. Vào thời kì toàn thịnh

của Phật giáo Bồ cam, ở miền thượng Miến

điện có 1 vạn 3 nghìn tòa tháp và Tăng viện.

Về sau, Phật giáo Tích lan hưng thịnh, phái

Đại tự có thế lực mạnh, cho nên có nhiều vị

tăng đến Tích lan tham học. Trong đó, có

sư Xa ba đa thụ giới ở Đại tự, ở lại tu học 10

năm (1170-1180) mới cùng với 4 vị tỉ khưu

trở về nước.

Vào thế kỉ XII, Tăng đoàn Miến điện

chia thành Tích lan tông phái (Sìhalasaôgha)

và Miến điện tông phái

(Maramma-saôgha,phái này vốn đã có từ

trước). Ít lâu sau, phái Tích lan lại chia ra 3

tăng đoàn là: Thi bà lợi, Đa ma lăng đà và A

nan đà. Có điều đáng quí là tuy chia rẽ,

nhưng các phái đều nỗ lực hoằng dương Phật

pháp, cho nên Phật giáo nói chung vẫn rất

hưng thịnh.

Năm 1277, quân Mông cổ xâm chiếm

phía nam, vương triều Bồ cam sụp đổ, 10

năm sau chính quyền rơi vào tay dân tộc

Đàn và từ đó Miến điện không còn là 1

vương quốc thống nhất cho mãi đến giữa

thế kỉ XVI. Trong khoảng hơn 200 năm,

bất luận là vương triều A ngõa (Ava) ở

phương bắc hay vương triều Tì cổ (Pegu) ở

phía nam, đều coi trọng sự phát triển Phật

giáo, Danh nghĩa minh đăng (Abhidhà=

nappadipikà), Thanh vận tinh nghĩa

(Saddasàratthajàlinì) và Ca chiên diên

văn pháp chú là những tác phẩm thuộc thời

kì này. Giữa thế kỉ XV, phía nam có 6 tông

phái và hơn 1 vạn 5 nghìn tỉ khưu. Về sau,

qua cuộc cải cách của vua Đạt ma tất đề

(Dhammazedi, 1472-1492), tăng đoàn

Miến điện lại được thống nhất.

Người lãnh đạo dân tộc Đàn nổi lên vẫn

là người Miến điện, kiến lập vương triều

Đông cố (Toungoo, 1531-1752). Hai bộ luật

điển Đạt ma tha kiêu (Dhammathakyaw),

Câu tăng thù (Kosaungchok), luận Ma

ni châu, luận Pháp vương thất sư, A tì đạt

ma tụng, luật Trang nghiêm sớ, luận Dự

MIẾN ĐIÊN PHẬT GIÁO

Tháp Phật xây vào cuối Vương triều Bồ Cam

 

M

3120

tăng v.v… đều được biên soạn vào thời kì

này. Đồng thời còn hoàn thành việc xây

dựng các ngôi tháp Phật như: Tháp Ma ha

ma ni (Mahàmani), tháp Du xá ma ni tu

la (Yasamanisula), tháp Gia đa kì

(Ngatakyi) v.v… Còn Cao tăng ở thời kì

này thì có các ngài: Tì đà la tì na bà tư

(Badaravanavàsì), Nhã lợi an lăng già la

(Ariyàlaíkara), Tối thắng pháp,

(Aggadhammàlaíkara), Trí nguyện

(Ĩaịavara) v.v…

Vào thế kỉ thứ XVIII, nội bộ Phật giáo

phát sinh cuộc tranh luận về cách mặc áo

ca sa mà hình thành 2 phái đối lập: Phái

Thiên đản (Pàli:Ekaôsika,chủ trương

mặc ca sa để trật 1 bên vai) và phái Thông

kiên (Pàli: Pàrupana,chủ trương mặc trùm

kín cả 2 vai), mãi 100 năm sau phái Thông

kiên mới thắng thế. Bấy giờ, vương triều

Đông cố đã diệt vong và vương triều Cống

bảng (Konbaung, 1752-1885) nổi lên thay

thế. Trong khoảng hơn 100 năm, Phật giáo

vẫn được nhà vua bảo hộ và các kinh điển

tiếngPàli lần lượt được dịch ra chữ Miến

điện. Lúc này, các thế lực phương Tây cũng

nhân việc Miến điện mở cửa giao thương

mà không ngừng xâm nhập. Năm 1886,

Miến điện bị người Anh đô hộ, mãi đến

năm 1947 mới tuyên bố độc lập. Trong

khoảng hơn 60 năm thống trị, người Anh

không can thiệp vào tôn giáo, nhờ thế, “Hội

Thanh niên Phật giáo Miến điện” được

thành lập (1906), hô hào đòi độc lập cho

Miến điện, từ đó về sau có rất nhiều vị

tăng tham dự cuộcvận động này.

Hiện nay tăng đoàn Phật giáo Miến điện

có 3 phái chủ yếu là: Phái Đa đạt ma

(Thudhamma), phái Thụy cảnh

(Shwegyin) và phái Đạt bà la (Dvara). Về

phương diện giáo học thì 3 tạng Thánh điển

mà 3 phái này tôn thờ đều giống nhau,

nhưng về giới luật, đặc biệt về những vật

dụng được giữ, cách đắp ca sa và phép tắc

sinh hoạt hàng ngày thì có vài điểm khác

nhau. Hai phái trước là các tông phái truyền

thống, tổ chức rất rộng, số chúng tăng tương

đối đông, còn phái Đạt bà la thì mới được

thành lập vào cuối thế kỉ XIX do cải cách

phái cựu Đa đạt ma mà thành; về mặt giới

luật, phái này chủ trương nghiêm khắc, thực

tiễn, tăng chúng rất ít.

Phật giáo Miến điện chỉ có tỉ khưu, sa

di, tín sĩ nam, tín sĩ nữ và số ít tỉ khưu ni,

không có sa di ni và chính học ni. Tập tục

phổ thông của Miến điện là thiếu niên 14,

15 tuổi phải vào chùa xuất gia trong 1 thời

gian ngắn. Trong các nước Phật giáo, chế độ

thi cử ở Miến điện là nghiêm ngặt nhất.

Người dự thi thông qua được Luật tạng, gọi

là Trì luật giả (Vinayadhara), người thông

qua toàn bộ 3 tạng thì được gọi là Tam tạng

sư (Tipiỉakadhara), là vinh dự cao nhất.

Hiện nay, Phật giáo Miến điện chiếm 1 địa

vị rất quan trọng trong Phật giáo Nam

truyền.

[X. Burmese Buddhism ( J. George Scott);

ThePàli Literature of Burme, London, 1909

(Mabel Bode); History of Burma, London,

1925 ( G. E. Harvey); Hinduism and Buddhism,

London, 1921, Vol. III, P. 47ff ( Sir

Ch. Eliot)].

MIẾN KÌ VIÊN

Phạm: Vaidhanya.

Pàli: Vedhaĩĩa.

Khu vườn cây Am bà ở nước Ca tì la vệ.

Theo kinh Thanh tịnh (Pàli: Pàsàdikasuttanta)

trong Trường bộ kinh 29, thì khi

đức Thích tôn dừng lại ở khu vườn này, là

lúc ông Ni càn đà nhã đề tử (Pàli: Nigaịỉha

Nataputta), Tổ sư của Kì na giáo nhập diệt

ở Ba ngõa (Pàli: Pàvà), nhân đó mà giáo

đoàn Kì na chia làm 2 phái, đưa đến sự kiện

đối kháng nhau.

[X. kinh Trường a hàm Q.12].

MIẾN KÌ VIÊN

 

M

3121

MIỄN ĐINH TIỀN

Cũng gọi Thanh nhàn tiền.

Tiền thuế do giới tăng sĩ và đạo sĩ nộp

cho nhà nước để được miễn dịch vào thời

Nam Tống, Trung quốc.

Miễn đinh nghĩa là miễn trừ đinh dịch.

Phàm con trai đến 20 tuổi(tuổi đinh)phải

thi hành nghĩa vụ quân dịch, nhưng tăng sĩ,

đạo sĩ được phép nộp tiền hàng năm để thay

thế. Từ đời Đường trở đi, chư tăng, đạo sĩ

vốn được hưởng đặc quyền miễn nộp cả tô

lẫn thuế. Nhưng vào năm Thiệu hưng 15

(1145) đời vua Cao tông nhà Tống, quan

dân phản đối việc này, nên từ đó tăng sĩ,

đạo sĩ đều phải nộp thuế để lấy tiền khai

khẩn tài nguyên mới. Thuế qui định Luật

tăng mỗi năm nộp 5 quan, Thiền tăng, Đạo

sĩ mỗi năm nộp 2 quan, Trụ trì, Trưởng lão,

Pháp sư, Tử y, Tri sự v.v… lần lượt gia tăng,

đến 15 quan là cao nhất.

Tờ chứng minh thư mà nhà nước cấp

cho những tăng sĩ đã nộp tiền miễn đinh,

gọi là Miễn đinh sao, hoặc Miễn đinh do.

Những vị tăng du phương tạm trú các nơi,

phải mang theo Miễn đinh sao, nếu không

xuất trình giấy này sẽ không được phép ở

lại.

[X. điều Thiệu hưng thập ngũ niên trong

Phật tổ thống kỉ Q.17; Phật tổ lịch đại thông

tải Q.20; Tống hội yếu cảo Q.66; Kiến viêm

dĩ lai hệ niên yếu lục Q.153].

MIỄN NHÂN SỰ

……..

Lược bớt những lễ nghi chúc mừng hoặc

thăm hỏi của đại chúng trong Thiền lâm,

gọi là Miễn nhân sự.

Tấm bảng dùng để dán tờ yết thị “Miễn

nhân sự” hầu thông báo cho đại chúng biết,

gọi là “Miễn nhân sự bảng”. Nếu vị Trụ trì

làm thành bài tụng để báo cho đại chúng

biết việc miễn nhân sự, thì gọi là Miễn nhân

sự tụng.

Điều Đông niên nhân sự trong Thiền

uyển thanh qui quyển 2 (Vạn 111, 444 hạ)

chép: “Trước tết 1 ngày, nếu Đường đầu có

Miễn nhân sự thì nên dán thông cáo trước

Tăng đường, đến tối, Khố ti tổ chức uống

trà trong Tăng đường”.

[X. điều Khố ti tứ tiết đặc vị Thủ tọa đại

chúng thang trong Sắc tu Bách trượng thanh

qui Q.7].

MIỄN TĂNG

… ..

Những vị tăng vì bận rộn công vụ hoặc

vì bệnh hoạn, được miễn tọa đường gọi là

Miễn tăng.

Trong Thiền lâm, trước khi thướng

đường hành lễ, chúng tăng phải tọa thiền 1

thời gian ngắn trong Tăng đường để thu

nhiếp tâm ý, gọi là Tọa đường. Nhưng vì

công việc nên các chức vụ như: Phạn đầu

(trông nom việc ăn uống), Trà đầu(phụ trách

việc trà nước), Tịnh đầu(quét dọn nhà vệ

sinh) v.v…hoặc những vị tăng bị bệnh, thì

đặc biệt được miễn tọa đường.

[X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng

khí tiên loại 7].

MIỄN VIỄN NGHINH PHÊ

Miễn viễn nghinh, nghĩa là miễn cho

đại chúng khỏi phải ra xa để đón rước; Phê

chỉ cho mẩu giấy nhỏ trong đó có ghi việc

cần thiết vắn tắt. Miễn viễn nghinh phê

nghĩa là bức thư vắn tắt báo cho vị Trụ trì

chùa nào đó biết trước khỏi phải cử đại

chúng ra xa để đón rước, khi có vị tăng

chuyên sứ đến.

Theo điều Nhập viện trong Sắc tu Bách

trượng thanh qui quyển 3, khi vị chuyên

sứ định đến 1 chùa nào đó, phải gửi thư

báo trước vị Trụ trì biết và yêu cầu miễn

MIỄN VIỄN NGHINH PHÊ

 

M

3122

cho đại chúng khỏi phải ra xa đón rước.

MIẾT ĐỊA

…..

Đồng nghĩa: Nhất miết, Miết nhiên.

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Nghĩa là mau chóng. Miết là thoắt, liếc

qua, xem qua; địa là trợ từ.

Đại tuệ Phổ giác Thiền sư ngữ lục quyển

25 (Đại 47, 920 trung), nói: “Công án của

người xưa vốn đã mịt mờ, bây giờ lại nhìn

qua(miết địa), tự mình chẳng khỏi mờ mịt”.

MIẾT MƯU HẦU CAN

Ba ba lập mưu lấy gan của vua khỉ, là 1

trong những truyện tiền thân của đức Phật.

Lúc đức Phật còn tại thế, có vị tỉ khưu ni

tên là Bạo chí theo Phật học đạo, nhưng

cuối cùng lại vi phạm giới luật, hủy báng

Phật pháp, khinh miệt chúng tăng. Các vị tỉ

khưu thắc mắc và cùng nhau bàn tán về việc

này, đức Phật biết được, Ngài bèn thuật lại

sự tích “ba ba lập mưu lấy gan vua khỉ”, để

cho các tỉ khưu thấy rõ nguyên nhân Bạo

chí phạm giới.

Vào thời quá khứ vô lượng kiếp xa xưa,

có 1 con ba ba rất thân quen với con vua

khỉ ở trong rừng. Vua khỉ có đầy đủ trí tuệ

và thông hiểu nghĩa lí, nên ba ba thường

đến cùng vua khỉ bàn luận nghĩa kinh.

Nhưng vợ ba ba đa nghi, hay ghen, không

muốn chồng mình thường ra khỏi nhà, nên

lập kế hại vua khỉ.

Một hôm, vợ ba ba giả vờ bệnh nặng,

phải dùng gan khỉ làm thuốc mới cứu sống

được. Do vợ bày mưu nên ba ba mời vua

khỉ đến chỗ ở của mình, nói dối để đãi tiệc.

Vì vua khỉ không lội nước được nên ba ba

phải cõng qua sông, khi ra giữa dòng, ba ba

nói rõ sự thật, vua khỉ nói rằng gan của mình

treo trên ngọn cây và bảo ba ba quay trở lại

đất liền để lấy gan. Khi đến đất liền, khỉ bèn

nhảy thẳng lên cây, từ đó về sau 2 bên không

qua lại với nhau nữa.

Trong mẩu truyện trên, vợ ba ba thủa

xưa, nay chính là tỉ khưu ni Bạo chí phạm

giới; ba ba là Đề bà đạt đa phạm trọng tội

ngũ nghịch và thường chống đối đức Phật,

còn vua khỉ là tiền thân của Phật.

[X. Sinh kinh Q.1].

MIẾU

..

Cũng gọi Linh miếu, Tháp miếu, Tổ miếu.

Nơi thờ tự Phật tổ, Thánh hiền, Thần

linh v.v…

Bộ Hưng tạo 3 trong Pháp uyển châu

lâm quyển 37 (Đại 53, 580 thượng) nói: “Âm

Phạm chính xác là Tốt đổ ba, Hán dịch:

Miếu, tức linh miếu, là nơi thờ phụng lễ

kính”.

Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại

9, 8 hạ) nói: “Sau khi Phật diệt độ (…) có

người xây tháp bằng đá hoặc làm bằng chiên

đàn, trầm thủy (…) hoặc ở giữa đồng trống,

đắp đất làm miếu Phật, cho đến trẻ con

chơi đùa, vun cát làm thành đống làm tháp

Phật v.v…,những người làm như thế, đều

đã thành Phật đạo”.

Các nhà Nho Trung quốc, vì cảm nhớ

tình thân và công lao của các bậc cổ thánh

tiên hiền nên cũng lập miếu thờ phụng, như

Thái miếu là nơi thờ cúng tổ tiên nhà vua,

Văn miếu(Tiên sư miếu)là nơi thờ cúng đức

Khổng tử, Vũ miếu là nơi thờ tự các vị võ

tướng như Quan vũ v.v…

[X. kinh Quán đính Q.6; Tuệ lâm âm

nghĩa Q.55; Huyền ứng âm nghĩa Q.5; Thi

thanh miếu tự tiên (Bội văn Vận phủ sở

dẫn)]. (xt. Tháp).

MIẾU SẢN HƯNG HỌC

………..

Phong trào chủ trương chiếm dụng chùa

và tài sản của các chùa viện trên toàn cõi

MIẾT MƯU HẦU CAN

 

M

3123

Trung hoa để làm trường học, được phát

động vào cuối đời Thanh đến đầu thời Dân

quốc trở đi.

Do sự thiếu hiểu biết của 1 số phần tử

trí thức và quan chức nhà nước đối với Phật

giáo, cùng với những kẻ cường hào, ác bá dã

tâm, thấy của chùa thì thèm muốn, bèn

mượn tiếng chấn hưng việc học để chiếm

đoạt tài sản và nhà cửa của các chùa viện,

tăng ni bị cưỡng ép hoàn tục, Phật giáo bị

bách hại nặng nề.

“Miếu sản” chỉ cho tất cả tài sản của

các tự miếu, như ruộng chùa, nhà chùa và

các pháp vật phụ thuộc khác. Năm Quang

tự 24 (1898), vì không có kinh phí giáo dục

nên quan Tổng đốc tỉnh Hồ quảng là

Trương chi động dâng tờ biểu “Khuyến học

thiên” tâu vua, cực lực chủ trương biến chùa

miếu làm trường học và sử dụng tài sản

của các tự viện trên toàn quốc để làm kinh

phí chấn hưng việc học. Tờ biểu này được

vua Đức tông phê chuẩn, cho nên trong

hạn 100 ngày là thời gian Duy tân đã thi

hành chính sách “Miếu sản hưng học” mở

đầu cho phong trào. Sau khi Duy tân thất

bại, tuy Từ hi Thái hậu xuống lệnh cấm

thi hành Miếu sản hưng học, nhưng các tự

viện vẫn còn bị uy hiếp, bọn thổ hào, thân

sĩ bất lương ở các tỉnh đua nhau mượn tiếng

hưng học chiếm đoạt ruộng chùa, còn quân

đội, cảnh sát và các cơ quan đoàn thể ở địa

phương thì chiếm cứ tự miếu và vơ vét tài

sản của chùa.

Do cấp lãnh đạo Phật giáo lúc bấy giờ

kém cỏi nên địa vị của Phật giáo bị hạ thấp

quá mức, đến nỗi không còn bảo vệ được

quyền lợi của Phật giáo. Nhưng giữa Phật

giáo và lịch sử văn hóa vốn có mối quan hệ

gắn bó lâu đời và được nể trọng, điều này

khiến cho các bậc danh sĩ và học giả nổi

tiếng trong nước không thể không lên tiếng.

Bởi vậy, năm Quang tự 31 (1905), ông

Chương thái viêm đã đăng bài “Cáo Phật

tử thư”(Thư ngỏ gửi các vị Phật tử), trong

đó, một mặt ông kêu gọi chư tăng hãy nhận

thức rõ thời đại, phải tự mở các trường học

để góp phần vào việc phát huy nền văn

hóa và giáo dục của nước nhà, mặt khác

ông khuyến cáo các nhân sĩ trí thức không

nên hành động theo cảm tính mà phạm

sai lầm quá đáng đối với Phật giáo, trái lại,

phải giúp cho Phật giáo phát triển. Đồng

thời, Tịnh độ Chân tông của Nhật bản liên

tiếp xây dựng các chùa Bản nguyện tại

Thượng hải, Nam kinh, Hàng châu, Tô

châu v.v… Vị tăng người Nhật bản là Thủy

dã Mai hiểu nhân cơ hội ấy, khuyến dụ

hơn 30 tự miếu ở Hàng châu gia nhập Chân

tông, hễ gặp trường hợp chiếm cứ miếu sản

thì liền xin Lãnh sự Nhật bản đứng ra che

chở, điều này khiến cho quan hệ ngoại giao

giữa Trung quốc và Nhật bản trở nên căng

thẳng. Kết quả là Chân tông Nhật bản hủy

bỏ sự che chở đối với các tự viện Trung

quốc, vì chính phủ nhà Thanh đã ra lệnh

bảo hộ Phật giáo. Từ đó, các huyện thị

thành lập hội Giáo dục tăng, tự phát triển

giáo dục, xây dựng trường học để bảo vệ

tài sản của chùa viện.

Dân quốc năm đầu (1912), Viên thế

khải ban bố điều lệ “Quản lí tự miếu” gồm

31 điều, ý muốn thu hết tài sản của các

chùa viện Phật giáo trên toàn quốc xung

vào công quĩ để làm các việc lợi ích chung.

Cùng năm ấy, các ngài Kí thiền(Kính an)

và Đạo hưng trụ ở chùa Lưu vân tại Thượng

hải; đứng ra vận động triệu tập Đại hội

thành lập Tổng hội Phật giáo Trung hoa

và hoạch định kế sách bảo vệ miếu sản.

Năm Dân quốc thứ 10 (1921), chính phủ

sửa đổi bản điều lệ, rút lại còn 24 điều,

nhưng mục đích thì đại khái vẫn giống

nhau. Năm Dân quốc 16 (1927), Phùng

ngọc tường mượn cớ đả đảo mê tín, đến

chiếm các chùa Bạch mã, Thiếu lâm, Tướng

quốc v.v.. ở tỉnh Hà nam, đồng thời xua

MIẾU SẢN HƯNG HỌC

 

M

3124

đuổi 30 vạn tăng ni, buộc phải hoàn tục.

Ở các tỉnh Chiết giang, Giang tô, Hồ bắc,

Hồ nam cũng thế. Năm Dân quốc 17 (1928),

Bộ trưởng Nội chính là Tiết đốc bật đề nghị

đổi chùa tăng làm trường học. Năm Dân

quốc 18 (1929), “Điều lệnh quản lí tự miếu”

gồm 21 điều được ban bố, liền bị các ngài

Thái hư, Viên anh, Đế nhàn và cư sĩ Vương

nhất đình triệu tập Đại hội phản đối, nên

“Điều lệnh quản lí tự miếu” bị hủy bỏ, nhưng

chính phủ lại công bố “Điều lệnhgiám đốc

tự miếu” gồm 13 điều để thay thế. Nhưng

không ngăn chặn được phong trào cướp đoạt

tài sản của chùa, các tỉnh vẫn dựa vào Điều

lệnh cũ, tích cực tiến hành chính sách chiếm

dụng chùa viện.

Năm Dân quốc 18 (1929), Tổng hội Phật

giáo Trung hoa đổi tên gọi, cải tổ cơ cấu,

thành lập Hội Phật giáo Trung hoa, tôn Đại

sư Thái hư làm Trị sự trưởng. Cuối năm

Dân quốc 19 (1930) giáo sư Đại học Trung

ương là Cáp sảng thu, 1 lần nữa, lại đưa ra

phương án “miếu sản hưng học” mà ông ta

đã đề xuất năm Dân quốc 17 (1928), chủ

trương “đả đảo tăng phiệt, giải tán tăng

chúng, phân chia miếu sản, chấn hưng giáo

dục”. Tín đồ Phật giáo toàn quốc liền triệu

tập hội nghị ở Thượng hải để tìm biện pháp

đối phó, ngài Thái hư bèn soạn “Thướng

Quốc dân hội nghị đại biểu chư công ý kiến

thư”(Thư góp ý kiến gửi đến quí vị đại biểu hội

nghị Quốc dân) gửi cho chính phủ, nhờ thế

mới dẹp được phương án của Cáp sảng thu,

đồng thời, chính phủ Quốc dân công bố

huấn lệnh bảo hộ tự sản, từ đó phong trào

“miếu sản hưng học” mới cáo chung.

Biến pháp(nhà nước đổi lại các thứ chế độ)

đã đẻ ra chế độ “miếu sản hưng học”, đem

lại cho Phật giáo vô hạn khốn khổ, nhưng

cũng mang đến cho tăng đoàn Phật giáo cơ

hội tự giác, tự cứu. Các tỉnh huyện thành

lập những hội giáo dục tăng, dùng tài sản

của các chùa để phát triển giáo dục, các nhà

lãnh đạo Phật giáo ở các địa phương cũng ý

thức rõ rằng nếu không xây dựng trường

học để mở mang giáo dục thì không thể bảo

vệ được tài sản của chùa. Ngài Thủy dã Mai

hiểu mở trường học tăng ở Trường sa, ngài

Văn hi mở trường Phổ thông ở chùa Thiên

ninh tại Dương châu. Các ngài Kí thiền,

Tùng phong, Hoa sơn ở Chiết giang và ngài

Giác tiên ở Bắc bình đều thiết lập học đường,

trở thành những nhân vật lãnh đạo công

cuộc mở mang học vấn cho chư tăng trong

1 thời.

[X. Trung quốc Phật giáo cận đại sử

(Đông sơ)].

MINH

Phạm:Vidyà.

Pàli:Vijjà.

Hán âm: Phí đà, Bật đà.

Sự thấy biết sáng tỏ, thấu suốt. Chỉ cho

trí tuệ của bậc Thánh, có năng lực phá trừ

tối tăm, ngu muội mà tỏ ngộ chân lí.

Cứ theo Phật địa kinh luận thì Minh hay

phá trừ sự tối tăm, vì thế lấy tuệ làm tự tính.

Vì minh trái với vô minh nên lấy thiện căn

vô si làm tự tính.

Cứ theo kinh Tam chuyển pháp luân

thuộc kinh điển Phật giáo nguyên thủy, thì

tu 8 Thánh đạo, hiểu lí 4 đế, sẽ thành tựu

nhãn(mắt), trí, minh, giác(đều là những chữ

chỉ cho trí tuệ), đạt được Niết bàn.

Luận Đại tì bà sa quyển 102 cho rằng

tuệ hữu lậu thiện vốn có khả năng thông

suốt, hiểu rõ, nhưng không thể nào quyết

nghi, phân biệt và hiện quán được 4 Thánh

đế, vì thế không được gọi là minh, mà chỉ

có Thánh tuệ vô lậu mới gọi là minh. Sở dĩ

như thế là vì giữa bậc Thánh Hữu học và

Vô học có khác nhau. Đối với bậc Thánh

Vô học có năng lực thù thắng thì Túc trụ

thông, Sinh tử thông và Lậu tận thông trong

6 thần thông có thể phá trừ sự ngu tối trong

MINH

 

M

3125

3 đời quá khứ, vị lai và hiện tại, đây gọi là

Tam minh của Vô học. Trong đó, Lậu tận

thông là chân minh thắng nghĩa; còn Túc

trụ thông và Sinh tử thông cũng gọi là

Minh, vì 2 thông này thuận theo Chân

minh vô lậu(Lậu tận minh), do đó có chút

ảnh hưởng của tướng minh, nên tạm gọi là

Minh.

Chữ PhạmVidyàlà do ngữ cănVid(tri,

biết) mà ra, vì thế Minh cũng chỉ cho tri

thức, học vấn. Ở Ấn độ, tất cả học vấn đều

thuộc trong Ngũ minh như Thanh minh,

Nhân minh v.v… Ngoài ra, các Chân ngôn

đà la ni có năng lực phá trừ si ám, tiêu diệt

chướng nạn, nên cũng được gọi là Minh.

Mật giáo gọi chung ấn khế và chân ngôn là

Ấn minh.

Theo luận Đại tì bà sa quyển 2 thì thế

gian có các luận chú như: Chi minh, Sự

minh, Thú minh, Khổng tước minh, Chú

long xà minh, Hỏa minh, Thủy minh, Mê

loạn minh v.v…

Đức Phật là bậc đã trọn đủ 3 minh và

hạnh nghiệp của thân khẩu, cho nên ngài

được tôn xưng là Minh hạnh túc trong 10

tôn hiệu của Ngài. Hàng Bồ tát Sơ địa trở

lên, do quán xét thực tướng các pháp trong

3 đời mà tỏ ngộ tự tâm, cho nên trong 5 thứ

Bồ đề thì Bồ đề minh tâm là Bồ đề mà hàng

Bồ tát Sơ địa trở lên tỏ ngộ.

Theo phẩm Thập minh trong kinh Hoa

nghiêm quyển 28 (bản 60 quyển), thì hàng

Bồ tát Thập địa có đủ 10 loại trí minh như

sau:

1. Tha tâm trí minh.

2. Thiên nhãn trí minh.

3. Túc mệnh trí minh.

4. Vị lai tế trí minh.

5. Thiên nhĩ trí minh.

6. Thần lực trí minh.

7. Phân biệt ngôn âm trí minh.

8. Sắc thân trang nghiêm trí minh.

9. Chân thực trí minh.

10. Diệt định trí minh.

Nhưng kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển)

dịch là Thần thông, vì thế mười trí minh

cũng gọi là mười thông.

[X. kinh La ma trong Trung a hàm Q.56;

kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc); luận

Câu xá Q.27; luận Tập dị môn túc Q.3; Đại

thừa nghĩa chương Q.20 phần đầu].

MINH

Đối lại: Hiển.

Tối tăm, sâu kín, không thể thấy nghe

được. Trái lại, Hiển tức hiện rõ, có thể thấy

nghe được.

Mắt thịt của người phàm không thể thấy

được chư Phật, Bồ tát, nhưng trong tối tăm,

Phật và Bồ tát vẫn thường thấy chúng ta.

Đây gọi là Minh kiến(thấy trong tối tăm).

Chư thiên, thiện thần và mắt người trần

tục không thể thấy được, gọi là Minh chúng.

Chư Phật và Bồ tát dùng nhiều phương

tiện quyền xảo âm thầm làm lợi ích chúng

sinh, gọi là Minh quyền; thường kín đáo

gia hộ cho những ai có lòng tin chân thật,

gọi là Minh hộ; âm thầm thêm sức, giúp

đỡ, chỉ dẫn chúng sinh, gọi là Minh trợ,

Minh hựu, Minh ứng hoặc Minh gia. Chư

Phật, Bồ tát trừng phạt ngầm những kẻ làm

ác, gọi là Minh phạt; những lợi ích được

chư Phật, Bồ tát ban cho một cách kín đáo,

gọi là Minh lợi.

MINH BA (? -?)

Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm

tế, sống vào đời Thanh, người Vũ thanh,

tỉnh Hà bắc, họ Quách.

Năm 7 tuổi, sư được cha mẹ đưa đến

chùa Thiên tiên xin xuất gia. Lớn lên, sư

đến Thiên tân tham học ngài Đại bác Hành

càn, y chỉ 3 năm mới được ấn khả. Sau, sư

dựng am tranh ẩn tu ở Tây sơn 10 năm

MINH BA

 

M

3126

mới ra khai đường thuyết pháp, xiển dương

tông phong.

Sư có ngữ lục lưu hành ở đời.

[X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư

Vân)].

MINH BẢN (1263-1323)

Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm

tế, sống vào đời Nguyên, người huyện Tiền

đường, tỉnh Chiết giang, họ Tôn, hiệu Trung

phong, Huyễn trụ đạo nhân.

Sư thông minh, mẫn tiệp, năm 15 tuổi

đã có chí xuất gia. Năm Chí nguyên 22

(1286), sư tham yết ngài Cao phong Nguyên

diệu ở viện Sư tử, núi Thiên mục. Một hôm

tụng kinh Kim cương, sư bỗng nhiên mở tỏ.

Năm Chí nguyên 24 (1287), lúc ấy đã 24

tuổi, sư xin ngài Nguyên diệu cho xuống tóc,

năm sau, sư thụ giới Cụ túc. Sau khi ngài

Nguyên diệu thị tịch, sư ẩn tu ở am Huyễn

trụ tại Biện sơn thuộc Hồ châu. Sư cũng

từng ở tại các vùng Ngô giang, Lô châu, núi

Lục an v.v…

Năm Diên hựu thứ 5 (1318), theo lời

thỉnh cầu của đồ chúng, sư trở về núi Thiên

mục, xiển dương Thiền phong, tăng tục các

nơi đều qui ngưỡng và tôn xưng sư là Giang

Nam Cổ Phật(Phật xưa ở vùng Giang nam).

Vua Nhân tông dùng lễ triệu thỉnh, nhưng

sư từ chối, vua ban hiệu cho sư là “Phật Từ

Viên Chiếu Quảng Tuệ Thiền Sư” và đổi

viện Sư tử thành chùa Sư tử chính tông.

Năm Chí trị thứ 3 (1323) sư tịch, thọ 61

tuổi. Năm Thiên lịch thứ 2 (1329), vua ban

thụy hiệu là “Trí Giác Thiền Sư”, hiệu tháp

là Pháp vân. Năm Nguyên thống thứ 2

(1334), lại được truy tặng thụy hiệu là “Phổ

Ứng Quốc Sư”.

Đệ tử nối pháp gồm có: Thiên như Duy

tắc, Thiên nham Nguyên trường, Vô chiếu

Huyền giám, Cửu phong thọ (Trung quốc),

Cổ tin Ấn nguyên, Phục am Tông kỉ, Vô

ẩn Nguyên hối (Nhật bản).

Sư có các tác phẩm: Quảng lục 30 quyển

(được vua ban sắc cho nhập Tạng), Tạp lục 3

quyển.

[X. Phật từ Viên chiếu Quảng tuệ thiền

sư Trung phong hòa thượng hành lục; Phật

tổ lịch đại thông tải Q.36; Thích thị kê cổ

lược tục tập Q.1; Ngũ đăng nghiêm thống

Q.21].

MINH BÁO KÍ

Tác phẩm, 3 quyển(có thuyết nói 2 quyển),

do ông Đường lâm soạn vào đời Đường, được

thu vào Vạn tục tạng tập 150.

Nội dung sách này nói về những chuyện

nhân quả báo ứng. Đầu quyển là lời tựa của

tác giả, trình bày về lý do soạn thuật, đặc

biệt nhấn mạnh hễ có sự sống là có thức, có

thức thì có hành động, đã có hành động thì

tùy theo thiện ác mà nhận lấy quả báo, đó là

lí tự nhiên của sự vật, không còn nghi ngờ.

Trong lời tựa, tác giả cũng nhắc đến các ông:

Tạ phu đời Tấn, Phó cao, Trương diễn đời

Tống, Lục quả đời Tề v.v… đều có soạn

“Quan thế âm ứng nhiệm kí” và Tiêu tử

lương đời Tề soạn “Tuyên nghiệm kí”,

Vương diệm viết “Minh tường kí” v.v… đều

là những tác phẩm nói rõ những chuyện

nhân quả báo ứng có thật.

[X. Kim tích vật ngữ tập nghiên cứu

(Phiến kì Chính nghĩa)].

MINH CHÂU A DỤC VƯƠNG SƠN CHÍ

Tác phẩm, 10 quyển, do ông Quách tử

chương soạn vào đời Minh, được thu vào

Trung quốc Phật tự sử chí vậng san tập 1.

Nội dung sách này nói về nhân vật, thắng

cảnh, Phật sự, văn hóa, nghệ thuật của chùa

và núi A dục vương ở huyện Ngân, tỉnh

Chiết giang. Về hình thức, tác giả dựa theo

cách sắp đặt trong Phổ đà sơn chí mà lập 10

MINH CHÂU A DỤC VƯƠNG SƠN CHÍ

 

M

3127

môn, mỗi môn 1 quyển, được trình bày theo

các câu kệ 4 chữ như: Địa dư dung kết, Xá

lợi duyên khởi, Tháp miếu qui chế, Vương

thần sùng sự, Thần minh hiệu linh, Thụy

ứng nan tư, Phúc điền thường trụ, Cao tăng

truyền pháp, Đề xương tông thừa, Ngọc kỉ

xã vịnh.

Chùa A dục vương được sáng lập vào

niên hiệu Nghĩa hi năm đầu (405) đời Tấn.

Chùa hiện còn 1 tòa tháp Xá lợi, bên trong

thờ 1 viên xá lợi thật của đức Phật Thích ca

được truyền từ Ấn độ đến Trung quốc. Viên

xá lợi này thường phóng ra ánh sáng.

MINH CHÂU NHẠC LÂM TỰ CHÍ

Tác phẩm, 6 quyển, do ông Đới minh

tông soạn vào đời Thanh, được thu vào

Trung quốc Phật tự sử chí vậng san tập 1.

Nội dung sách này nói về nhân vật, danh

thắng, văn hóa của chùa Nhạc lâm ở huyện

Phụng hóa, tỉnh Chiết giang. Toàn tác phẩm

chia làm 10 môn: Tự đồ, Phạm vũ, Danh

thắng, Cổ tích, Pháp sản, Pháp hệ, Nghệ văn,

Thi phú, Danh thích và Tháp minh.

Chùa Nhạc lâm ở huyện Phụng hóa, tỉnh

Chiết giang, được sáng lập vào khoảng năm

Đại trung (847-859) đời vua Tuyên tông nhà

Đường. Có 1 vị tăng du phương đến đây tá

túc, thường mang cái đãy bằng vải đi xin ăn,

người đời gọi sư là Hòa thượng Hoan hỉ, sư

tự gọi là Trường đinh tử. Sau, sư ngồi ngay

thẳng trên phiến đá lớn ở cuối hành lang

phía đông mà tịch, chúng tăng trong chùa

đều lấy làm lạ. Từ đó, chùa này nổi tiếng là

đạo tràng Di lặc, là 1 trong 3 Thánh địa lớn

của Phật giáo Trung quốc ở Minh châu.

(xt. Bố Đại Hòa Thượng).

MINH CHÚ

Cũng gọi Thần chú, Cấm chú, Chân

ngôn, Đà la ni.

Chỉ cho những lời bí mật linh diệu, được

trì niệm khi tu hành Mật pháp.

(xt. Chân Ngôn).

MINH CHUNG

Thỉnh chuông, Dóng chuông.

Chung(chuông) có Đại chung và Tiểu

chung. Đại chung lại chia ra Thần chung

(chuông buổi sớm), Trai chung(chuông thụ trai)

và Hôn chung(chuông chiều tối). Thần chung

và Hôn chung dóng 108 tiếng, Trai chung

dóng 18 tiếng. Còn Tiểu chung thì có: Phật

điện chung, Pháp đường chung, Tăng đường

chung, dùng để đánh khi lên chính điện,

vào nhà pháp, nhà tăng.

Điều Cảnh chúng trong Thiền uyển

thanh qui quyển 6 (Vạn tục 111, 455 thượng)

nói: “Đến tối, dóng 3 tiếng chuông trước

Thiền đường báo hiệu hết giờ tham thiền

buổi tối”.

Bài kệ niệm thầm khi dóng chuông, gọi

là Minh chung kệ, Văn chung kệ. Ngoài ra,

Thiền tông có Minh chung Phật sự, thường

được gọi là Chung cúng dường, tức là lễ Khai

chuông.

[X. Hư đường lục Q.10; điều Nhật phần

hành trì trong Hành trì quĩ phạm Q.1]. (xt.

Chung).

MINH CHÚNG

Chỉ cho các chúng Phạm thiên, Đế thích,

quỉ thần, vua Diêm ma v.v… vì những loại

tồn tại này ẩn khuất, mắt người thường

không thể thấy được, cho nên gọi là Minh

chúng.

Các chúng này thường ngầm hộ trì

những người làm việc thiện. Người tu hành

niệm Phật A di đà, hiện đời này được 10

điều lợi ích, 1 trong đó là “Minh chúng hộ

trì ích”.

[X. Hán quang loại tụ Q.2].

MINH CHÚNG

 

M

3128

MINH CƠ

Nhờ thiện căn tu tập ở đời trước, có thể

cảm được sự linh nghiệm của Phật và Bồ tát

ở đời này một cách kín đáo, cho nên gọi là

Minh cơ(cơ ngầm).

MINH DỤC ( ? ?)

Danh tăng Trung quốc, thuộc tông Pháp

tướng, sống vào đời Minh, người đất Ngô,

tự là Cao nguyên.

Khoảng năm Vạn lịch, theo lời thỉnh cầu

của danh Nho Vương khẳng đường, sư giảng

bộ luận Thành duy thức, khi giảng giải, sư

viện dẫn rộng rãi, dùng lời dễ hiểu mà diễn

đạt được ý nghĩa sâu xa. Giảng xong, sư biên

tập lại thành bộ “Thành duy thức luận tục

thuyên” 10 quyển, được lưu hành rất phổ biến.

Về sau, sư tịch ở Mân trung.

Sư còn có tác phẩm: Tướng tông bát yếu

giải 8 quyển.

MINH DƯƠNG HỘI

Pháp hội bố thí cúng dường cho chúng

sinh ở Minh giới(ngã quĩ ở cõi âm) và ở Dương

giới(các vị tiên Bà la môn), vì thế gọi là Minh

dương hội.

MINH ĐẠO CÚNG

Cũng gọi Diêm la vương cúng.

Pháp tu cúng dường vua Diêm la và quyến

thuộc, để cầu dứt trừ tai ương, bệnh hoạn.

Về nghi thức thực hành pháp tu này đã

được ghi trong sách: Diêm la vương cúng

hành pháp thứ đệ 1 quyển.

MINH ĐẠO TẬP THUYẾT

Tác phẩm, 5 quyển, (có thuyết nói 1

quyển), do ông Lí thuần phủ(hiệu là Bình

sơn cư sĩ) soạn vào đời Kim, Trung quốc.

Nội dung tác phẩm này nhằm phê bình

và bác bỏ luận điểm bài Phật trong sách “Chư

Nho minh đạo tập” được viết ra vào đời

Tống. Chư Nho minh đạo tập(gọi tắt: Minh

đạo tập)gồm 12 quyển, 217 thiên, là bộ sách

tập đại thành các luận thuyết bài xích Phật

giáo của Nho gia đời Tống. Trong đó có các

danh Nho như: Chu đôn di, Tư mã quang,

Trương tải, Trình di, Trình hạo, Trương cửu

thành, Dương thời, Trương thức, Tạ hiển

đạo, Lưu an thế v.v…

Trong sách này, tuy tác giả Lí thuần phủ

thường nêu lên những điểm đồng và dị giữa

Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, nhưng phần

nhiều tác giả đã căn cứ vào Phật học làm

nền tảng để lập luận, cho nên, đối với lịch

sử tư tưởng của Phật giáo đời Tống, bộ sách

này có ý nghĩa rất quan trọng.

Ngoài ra, Phật tổ lịch đại thông tải quyển

20 có chép lại bài luận văn 19 thiên trong

sách này nói về các ông Da luật Sở tài, Tư

mã quang, Trương tải và lời Bạt của tác giả

Lí thuần phủ. Lại nữa, luận Tam giáo bình

tâm của Lưu mật đời Nguyên và Phật pháp

kim thang lục của Đồ long đời Minh, khi

viện dẫn những luận điểm bài bác Phật giáo

của các Nho gia đời Tống, chủ yếu đều

chuyển dụng kiến giải của sách này.

[X. Cư sĩ truyện Q.35; Hàn uyển anh

hoa trung châu tập Q.4; Qui tiềm chí Q.1,

9, 10 (Lưu kì); Nguyên sử nghệ văn chí].

MINH ĐẮC ĐỊNH

Thiền định do hàng Bồ tát Noãn vị trong

4 gia hạnh(4 thiện căn) chứng được.

Thiền định này là bước đầu của giai đoạn

tu định tuệ, có khả năng quán xét 4 đối cảnh:

Danh, nghĩa, tự tính và sai biệt, đều do tự

tâm biến hiện, đều là có giả.

Luận Thành duy thức quyển 9 (Đại 31,

MINH ĐẮC ĐỊNH

 

M

3129

49 trung) nói: “Nương vào Minh đắc định

mà phát khởi tầm tư, quán vô sở thủ, lập

làm Noãn vị. Nghĩa là trong giai vị này,

bắt đầu quán xét 4 pháp sở thủ là danh,

nghĩa, tự tính và sai biệt, do nơi tự tâm

biến hiện, chỉ là giả lập chứ chẳng phải có

thật. Đầu tiên được hành tướng trước Tuệ

nhật(mặt trời tuệ), cho nên đặt tên là Minh

đắc(được sáng), cũng từ đó đạt được tướng

trước Đạo hỏa, vì thế gọi là Noãn(ấm,

làm cho ấm)”.

MINH ĐẾ

Cũng gọi Minh tính, Minh sơ, Tự tính

đế, Tự tính.

Chỉ cho trạng thái tối tăm khi vũ trụ

chưa hình thành, là nguồn gốc của muôn

vật, đế thứ 1 trong 25 đế do học phái Số

luận trong 6 phái Triết học của Ấn độ cổ

đại lập ra.

Vì đế này là nguyên nhân căn bản làm

cho các pháp sinh diệt biến dị, cho nên cũng

gọi là Minh tính(tính tối tăm), Tự tính.

[X. luận Kim thất thập Q.thượng; Bách

luận sớ Q.thượng; Thành duy thức luận

thuật kí Q.1phần cuối]. (xt. Nhị Thập Ngũ

Đế).

MINH ĐỒ

Cũng gọi Minh độ, Minh phủ, Minh giới,

U đồ, Hoàng tuyền.

Chỉ cho thế giới tối tăm mờ mịt mà con

người sau khi chết sẽ đi đến.

Cứ theo kinh Tịnh độ tam muội và kinh

Thập vương, thì trong cõi Minh đồ, có vua

Diêm ma và rất nhiều quan lại hoặc có 10 vị

vua như vua Tần quảng v.v… trừng phạt các

tội nhân.

Tín ngưỡng Minh phủ của Thái sơn Phủ

quân ở Trung quốc đời xưa cũng tương tự

như thuyết Minh đồ này.

[X. Vu lan bồn kinh sớ Q.thượng (Tông

mật); Pháp uyển châu lâm Q.6, 7].

MINH ĐỒ ĐIỂU

Cũng gọi Đỗ quyên.

Loài chim có tiếng kêu thê lương, buồn

thảm, khiến người lữ khách chạnh lòng

thương nhớ quê hương.

MINH ĐƯỜNG

Chỉ cho khoảng trống ở 2 bên minh

lâu.

Trên mái trước của tăng đường làm 1 cái

lầu nhỏ để lấy ánh sáng và thoáng khí, gọi là

Minh lâu.

[X. môn Điện đường trong Thiền lâm

tượng khí tiên]. (xt. Minh Lâu).

MINH GIA

I. Minh Gia.

Cũng gọi Minh ứng, Minh trợ.

Chư Phật, Bồ tát thường âm thầm gia

hộ cho những người chí thành tu đạo và

làm các việc tốt lành.

Sự cảm ứng của Phật và Bồ tát phần

nhiều là minh gia, chứ ít khi có hiển gia(gia

hộ một cách rõ ràng).

Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7 nói: “Nếu

thường tự ngộ thì ắt được minh gia”.

[X. Pháp hoa đại sớ sao huyền đàm Q.3;

Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện

Q.10].

II. Minh Gia.

Hiến cúng tiền bạc vào việc làm chùa,

tô tượng, đúc chuông, in kinh sách ấn tống

để cầu phúc. Tiền bạc hiến cúng ấy gọi là

Minh gia kim, Minh gia tiền, Minh gia

ngân.

[X. Khảo tín lục Q.3 (Huyền trí)]. (xt.

Minh).

MINH GIA

 

M

3130

MINH GIÁC THIỀN SƯ NGỮ LỤC

Cũng gọi Tuyết đậu Minh giác thiền sư

ngữ lục.

Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Tuyết đậu

Trùng hiển soạn vào đời Tống, các vị Duy

cái trúc v.v… biên tập, được thu vào Đại

chính tạng tập 47.

Nội dung bộ lục này bao gồm:

Quyển 1: Thướng đường ngữ, Tiểu tham

khi ở Thúy phong Thiền tự tại Động đình,

Tô châu và ở Tư thánh Thiền tự tại Tuyết

đậu, Minh châu.

Quyển 2: Cử cổ, Khám biện, Ca tụng.

Quyển 3: Niêm cổ bách tắc.

Quyển 4: Bộc tuyền tập, gồm Thướng

đường thị chúng, Châu tán.

Quyển 5, 6: Tổ anh tập, gồm thơ văn

của ngài Trùng hiển.

MINH GIÁO

I. Minh Giáo.

Tổ chức tông giáo bí mật được triển khai

từ Ma ni giáo, do ông Trương giác làm giáo

chủ.

Tông giáo này thờ kính Ma ni làm thần

ánh sáng và sùng bái mặt trời, mặt trăng.

Giáo đồ chuộng y phục màu trắng, đề cao

ăn chay, không uống rượu, khi chết chôn

cất không mặc quần áo, coi trọng sự đoàn

kết giúp đỡ lẫn nhau, chủ trương thiên hạ 1

nhà. Đồng thời tin rằng trên đời, lực lượng

ánh sáng cuối cùng nhất định sẽ chiến thắng

các thế lực đen tối.

Vào đời Nam Tống và Bắc Tống, tông

giáo này lưu hành ở các vùng Hoài nam,

Lưỡng chiết, Phúc kiến v.v…

II. Minh Giáo(1852-1932).

Cao tăng Trung quốc thời cận đại, người

huyện Vĩnh phong, tỉnh Hồ nam, họ Tiêu,

pháp hiệu Đạo hương.

Sư thông minh dĩnh ngộ từ thủa nhỏ,

tướng mạo kì vĩ, phong cách hơn người, năm

17 tuổi xuất gia, 20 tuổi thụ giới Cụ túc ở

chùa Chúc thánh tại Nam nhạc và lưu lại

đây trong 8 năm chuyên tâm niệm Phật; sư

cũng tập viết chữ lệ, chữ triện để thuận theo

thế duyên.

Năm 28 tuổi, sư du phương tham vấn,

tình cờ gặp vị tăng người Nhật tên là Đạt

ma Sơn thôn thỉnh sư sang Nhật bản, từ

đó dấu chân sư in khắp nước Nhật, sáng

lập hơn 100 Liên xã(đoàn thể niệm Phật),

rất được triều đình và dân gian kính trọng.

Sau khi trở về Trung quốc, sư lần lượt trụ

trì các chùa Lộc sơn, Thượng lâm và Khai

phúc, đồng thời giảng kinh thuyết pháp ở

các nơi.

Năm Dân quốc 21 (1932) sư tịch, thọ 78

tuổi.

Sư có các tác phẩm: Cảnh thế gia ngôn

lục, Thướng đường kí lục, Giảng kinh kí lục,

Giới đàn giáo thụ pháp ngữ, Tham phương

du kí, Nhật bản du lịch kí, Liên xã khai thị

lục, Trà tì pháp ngữ, Thất kì niệm Phật khai

thị lục, Linh dị kí, Tùy duyên thuyết pháp

ngữ lục…

MINH GIÁO ĐẠI SƯ

I. Minh Giáo Đại Sư.

Cao tăng người Tây vực, sống vào đời

Đường, tên Lợi thiệp, vốn thuộc dòng dõi Bà

la môn, sau theo ngài Huyền trang xuất gia.

Khoảng năm Khai nguyên (713-741),

trong cuộc tranh luận về sự hơn kém giữa

Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, sư đã hàng

phục được các đối thủ Nho gia và Đạo gia,

nên được vua phong cho hiệu Minh Giáo

Đại Sư và xây chùa Minh giáo sắc sư trụ trì.

[X. Tống cao tăng truyện Q.17].

II. Minh Giáo Đại Sư.

Cao tăng người Ca thấp di la, Ấn độ,

tên Thiên tức tai, sống vào đời Tống.

MINH GIÁO ĐẠI SƯ

 

M

3131

Năm Thái bình Hưng quốc thứ 5 (980),

sư đến Biện kinh, năm thứ 7 (982), sư cùng

với các ngài Thí hộ, Pháp thiên vào ở trong

viện Dịch kinh, chuyên phiên dịch kinh

điển. Sau, vua lần lượt phong hiệu cho sư là

Minh Giáo Đại Sư, ngài Pháp thiên là Truyền

Giáo Đại Sư và ngài Thí hộ là Hiển Giáo

Đại Sư.

[X. Đại trung tường phù pháp bảo lục

Q.3-8; Phật tổ thống kỉ Q.43].

III. Minh Giáo Đại Sư.

Cao tăng Trung quốc, tên là Khế tung,

sống vào đời Tống, người Đàm tân, Đằng

châu (huyện Đằng, tỉnh Quảng tây).

Năm Gia hựu thứ 7 (1062), các tác phẩm

Truyền pháp chính tông kí và Phụ giáo thiên

của sư được vua Nhân tông nhà Tống sắc

cho nhập Tạng, đồng thời phong cho sư hiệu

là Minh Giáo Đại Sư.

[X. Đàm tân Minh giáo đại sư hành

nghiệp kí]. (xt. Khế Tung).

MINH GIỚI

Cũng gọi Minh đạo, Minh độ.

Danh từ gọi chung cho 3 đường ác là địa

ngục, ngã quĩ và súc sinh, hoặc chỉ riêng cho

địa ngục. Dân gian cho rằng Minh giới là

nơi do vua Diêm ma và quyến thuộc cai

quản.

[X. Diệm la vương cúng hành pháp thứ

đệ; Quang minh kinh văn cú Q.3].

MINH HẠNH TÚC

Phạm: Vidyà-caraịa-saôpanna.

Pàli:Vijjà-caraịa-sampanna.

Hán âm: Tì xỉ già la na tam bát na.

Cũng gọi Minh thiện hạnh, Minh hạnh

thành, Minh hạnh viên mãn, Minh hạnh.

Minh và Hạnh trọn đủ, là 1 trong 10

danh hiệu của Phật.

Theo kinh Đại bát niết bàn quyển 18

(bản Bắc) thì Minh là Vô thượng chính đẳng

chính giác; Hạnh túc là giới, định và tuệ;

đức Phật nhờ có đầy đủ giới, định, tuệ mà

được Vô thượng chính đẳng chính giác, cho

nên gọi là Minh hạnh túc .

Còn theo luận Đại trí độ quyển 2 thì

Minh là Túc mệnh minh, Thiên nhãn minh

và Lậu tận minh; còn Hạnh tức là thân

nghiệp và khẩu nghiệp; vì đức Phật thành

tựu đầy đủ 3 minh, 2 nghiệp, cho nên gọi là

Minh hạnh túc.

[X. kinh Trường a hàm Q.3]. (xt. Thập

Hiệu).

MINH HIỂN

Minh là tối tăm, sâu kín, không thể thấy

nghe được.

Hiển là hiển hiện rõ ràng, có thể thấy

nghe được.

[X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.6 thượng].

MINH HIỂN LƯỠNG GIỚI

Tức là Minh giới và Hiển giới.

Minh giới: Chỉ cho thế giới sau khi chết

sẽ sinh đến.

Hiển giới: Chỉ cho thế giới Sa bà.

MINH HỘ

Phạm:Paritràịa.

Pàli:Paritta,Parittà.

Hán dịch: Chú, Ủng hộ.

Vốn chỉ cho thần chú ủng hộ người tu

hành đạo Phật, về sau chỉ chung cho các

kinh nói về loại thần chú này.

Kinh Tì sa môn thiên vương do ngài Pháp

thiên dịch vào đời Tống (Đại 21, 217 thượng)

nói: “Lành thay Thế tôn! Có kinh A tra nẵng

chi có thể làm Minh hộ(thần chú hộ trì)”.

Cứ theo đây, nếu 4 chúng thụ trì kinh A tra

nẵng chi hộ (Pàli:Àỉànàỉiya-rakkha) thì

MINH HỘ

 

M

3132

không bị quỉ thần não hại.

Kinh Minh hộ có nhiều chủng loại; Vấn

nạn 2, đoạn 4, trong kinh Di lan vương vấn

(Pàli:Milinda-paĩha) liệt kê 6 loại:

1. Bảo kinh (Pàli:Ratana-sutta),

2. Uẩn minh hộ (Pàli: Khandhaparitta).

3. Khổng tước minh hộ (Pàli:Moraparitta).

4. Chàngđính minhhộ(Pàli:Dhajaggaparitta).

5. A tra nẵng chi minh hộ (Pàli:

Àỉànàỉiya-paritta).

6. Ương quật ma la minh hộ (Pàli:

Aígulimàla-paritta).

Phẩm 13 trong luận Thanh tịnh đạo

(Pàli:Visudhi-magga) chỉ nêu 5 loại trên

mà lược bỏ Ương quật ma la minh hộ thứ 6.

Còn Tiểu tụng (Pàli:Khuddaka-pàỉha)

trong Tiểu bộ kinh (Pàli: Khuddakanikàya)

thì nêu 3 kinh Minh hộ là kinh

Cát tường (Pàli: (Maígala-sutta), kinh

Bảo và kinh Từ bi (Pàli: Metta-sutta).

Các kinh Minh hộ ghi trên vốn nằm

trong Tăng chi bộ kinh (Pàli:Aíguttaranikàya),

Trung bộ kinh (Pàli:Majjhimanikàya)

hoặc là những bài kinh ngắn trong

Kinh tập (Pàli:Sutta-nipàta) thuộcTiểu

bộ kinh. Kinh A tra nẵng chi, kinh Từ bi,

kinh Đại cát tường trong Cam châu nhĩ

thuộc Đại tạng Tây tạng đều là những kinh

Minh hộ.

Ngoài ra, về sự lưu truyền các kinh Minh

hộ thì tại các nước Tích lan, Miến điện v.v…

xưa nay rất phổ biến; những kinh này lấy

việc tiêu trừ tật bệnh, tai họa của cá nhân

hoặc của quốc gia làm mục đích, cho nên

rất được tôn trọng và đọc tụng.

[X. Hồ nguyệt toàn tập Q.thượng; Tây

tạng ngữ văn pháp (Tự bản Uyển nhã); Tây

tạng Đại tạng kinh Cam châu nhĩ mục lục;

A History ofPàli Literature, vol. II, (B. C.

Law); ThePàli Literature of Burma (Mabel

Bode); The History of Buddhist Thought

(E.J. Thomas)].

MINH HUÂN

Cũng gọi Nội huân.

Thiện tâm âm thầm huân tập(xông ướp)

trong thân thể chân như của bản giác khiến

cho tâm bồ đề nảy sinh.

Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết

quyển 4 phần 3 (Đại 46, 268 thượng) nói:

“Nếu chẳng phải do sức nội huân thì làm

thế nào chứng ngộ được? Cho nên biết chứng

ngộ là nhờ ở sức chân như; bởi thế lấy Minh

huân làm ngoại hộ vậy”.

[X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ

phần đầu].

MINH HUÊ (1173-1232)

Cũng gọi Minh tuệ.

Cao tăng Nhật bản, là Tổ sư trung hưng

tông Hoa nghiêm, tên Cao biện, người Kỉ y

(huyện Hòa ca sơn).

Sư thờ ngài Văn giác ở núi Cao hùng

làm thầy, học Hoa nghiêm, Mật giáo nơi

các bậc danh tăng và khổ tu trên ngọn Bạch

thượng ở Kỉ y. Về sau, sư tuyên giảng Hoa

nghiêm ở núi Cao hùng. Sư lại theo ngài

Vinh tây thuộc tông Lâm tế của Nhật bản

học Thiền. Sau Thượng hoàng Điểu vũ sắc

ban núi Mẫu vĩ, xây chùa Cao sơn làm đạo

tràng nhằm thực hiện việc phục hưng tông

Hoa nghiêm. Vì được triều đình và Bắc điều

Thái thời qui y nên sư được mọi người rất

tôn kính, tin theo. Khi Tịnh độ giáo của

ngài Pháp nhiên khai tông, sư từng soạn

Tồi tà luân(bánh xe phá tà) để phê phán và

bác bỏ.

Niên hiệu Trinh vĩnh năm đầu (1232)

sư tịch, thọ 60 tuổi.

Sư có các tác phẩm: Hoa nghiêm duy tâm

nghĩa thích 2 quyển; Tồi tà luân trang

MINH HUÊ

 

M

3133

nghiêm kí 1 quyển, Niết bàn giảng thức, Xá

lợi giảng thức, Tọa thiền thứ đệ…

[X. Nguyên hanh thích thư Q.5; Bản triều

cao tăng truyện Q.14].

MINH ÍCH

Cũng gọi Minh lợi.

Lợi ích do Phật và Bồ tát ngầm gia bị mà

phàm phu không thể biết được.

Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6 thượng

(Đại 33, 748 trung) nói: “Tuy không hiển

hiện linh ứng, nhưng được pháp thân ban

cho sự lợi ích một cách âm thần kín đáo, dù

không thấy không nghe nhưng vẫn cảm biết

được, vì thế gọi là Minh ích”.

MINH KHÁI (? – ?)

Danh tăng Trung quốc, sống vào đời

Đường.

Vào năm Vũ đức thứ 4 (621) đời vua Cao

tổ nhà Đường, Đạo sĩ Phó dịch dâng biểu

trình bày kế sách ích quốc lợi dân, chủ trương

giảm bớt chùa tháp, tăng ni. Bấy giờ ngài

Minh khái trụ trì chùa Chấn hưởng ở Miên

châu(nay là huyện Miên dương, tỉnh Tứ xuyên)

liền dâng biểu “Quyết đối Phó dịch phế Phật

pháp tăng sự”(Quyết chống đối việc Phó dịch

phế bỏ Phật pháp tăng). Ngài phân biệt sự khác

nhau giữa Nho gia và Đạo gia và cho rằng

Nho gia hơn hẳn Đạo gia, rồi xếp Nho gia,

Đạo gia vào hàng Cửu lưu thập gia.

Ngoài ra, khi phê phán Đạo giáo, ngài

Minh khái đặc biệt chú trọng vào Thiên sư

đạo của Phó dịch, cho nên tờ biểu văn của

ngài là tư liệu quan trọng để nghiên cứu về

Thiên sư đạo ở đầu đời Đường.

MINH KHOÁNG

I. Minh Khoáng(? -623).

Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Tùy,

người Lạc dương, họ Mạnh.

Sư thông minh, tài trí, chân thật, tiết

tháo, chuyên nghiên cứu luận Đại trí độ và

luật Ma ha tăng kì. Sư ở chùa Tịnh độ trong

nhiều năm, số học chúng thường tới vài trăm

người.

Năm Vũ đức thứ 6 (623) sư tịch.

II. Minh Khoáng (? – ?).

Danh tăng Trung quốc, sống vào đời

Đường, người Hoàng nham, Thai châu

(Hoàng nham, Chiết giang).

Ban đầu, sư đến Đông nam hỏi đạo,

năm 20 tuổi trụ ở ấp Diệm, sau khi thụ

giới Cụ túc, sư vào chùa Quốc thanh, núi

Thiên thai, theo ngài Kinh khê Trạm nhiên

tu học gíáo pháp Thiên thai, miệt mài hơn

10 năm. Lúc bấy giờ, Mật giáo do các ngài

Bất không và Nhất hạnh hoằng dương

rộng rãi, nên sư cũng chuyển sang học Mật

giáo.

Sư có các trứ tác: Bát nhã tâm kinh sớ

quyển 1, Phạm võng sớ 3 quyển, Kim ti luận

khoa văn, Thiên thai bát giáo đại ý, Pháp

hoa kinh Quan âm phẩm khoa văn, Pháp

hoa kinh đại ý …

[X. Phật tổ thống kỉ Q.10, 25; Đông vực

truyền đăng lục Q.thượng].

MINH KHỔNG CÁT TIÊT

Hai phương pháp cắt may áo ca sa.

Theo điều Minh khổng trong Thích thị

yếu lãm quyển thượng, Minh khổng nghĩa

là khi may ca sa sắp hoàn thành, thì để lại

một cái lỗ nhỏ, chứ không may kín, giống

như cái lỗ hổng ở bờ ruộng để cho nước

chảy vào, gọi là Minh khổng.

Cát tiệt nghĩa là cắt tấm vải thành từng

mảnh nhỏ, sau đó ráp lại, giống như thửa

ruộng vuông vức, cuối cùng may thành ca

sa, gọi là Cát tiệt y.

Luật Tứ phần quyển 40 (Đại 22, 855

trung), nói: “Đệ tử không nhiễm trước của

MINH KHỔNG CÁT TIÊT

 

M

3134

các đức Như lai đã mặc áo như thế, giống ta

ngày nay, dùng dao cắt vải thành những

mảnh nhỏ để may áo sa môn, sẽ không bị

bọn giặc cướp bóc”.

MINH KÌ

Thần ở cõi âm, như 10 vua cõi âm là:

Tần quảng, Sơ giang, Diêm la, Thái sơn v.v…

được nói trong kinh Thập vương. Và 5 sứ

giả của vua Diêm la là: Sinh, Lão, Bệnh,

Tử và Hình phạt, được nói trong kinh Diêm

la vương ngũ thiên sứ, đều là những thần ở

cõi âm.

[X. Đại đường tây vực kí Q.2].

MINH LÂM (1614- ?)

Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm

tế, sống vào cuối đời Minh, người Thành

đô, tỉnh Tứ xuyên, họ Chu, hiệu là Tú

dã.

Năm 8 tuổi, sư lễ ngài Tinh thiên ở chùa

Cửu long làm thầy. Năm Sùng trinh thứ 6

(1633), lúc ấy 20 tuổi, sư đi tham học các

nơi, năm sau sư đến Kim lăng học tập 4

năm. Năm Sùng trinh 11 (1638), sư lần lượt

đến tham lễngàiHán nguyệt Pháp tạng ở

Cô tô, ngài Tuyết kiệu Viên tín ở Kính sơn

và ngài Mật vân Viên ngộ ở núi Thiên đồng.

Năm Sùng trinh thứ 12 (1639), sư thụ giới

Cụ túc, năm sau đến Kinh châu lánh nạn,

rồi vào tỉnh Hồ bắc, ở tại chùa Vĩnh an,

huyện Kiến thủy, chích máu viết các kinh

Pháp hoa, Phạm võng.

Năm Thuận trị thứ 6 (1649), sư xuống

Giang nam, tham yết ngài Kì nhiên Siêu trí

ở núi Vân đài tại Nam chương. Năm Khang

hi 19 (1680), sư tiếp nối trụ trì chùa Hoàng

long ở Nhương châu.

Sư có tác phẩm: Ngữ lục 3 quyển.

[X. Tú dã lâm thiền sư ngữ lục phụ hành

diêu].

MINH LÂU

Lầu cao xây trước nhà Tăng để lấy ánh

sáng và thông gió.

Kiến trúc nhà Tăng thường rộng và sâu,

phía trước lại có nhà ngoài che chắn, nên

nhà Tăng rất tối tăm, vì thế phải xây thêm

lầu cao mở cửa sổ để thông gíó và lấy ánh

sáng ở giữa khoảng nhà Tăng và nhà ngoài,

gọi là Minh lâu, còn chỗ trống ở 2 bên phía

trước Minh lâu thì gọi là Minh đường.

[X. môn Điện đường trong Thiền lâm

tượng khí tiên].

MINH LỢI

Cũng gọi Minh ích, Minh ứng.

Sự lợi ích mà chư Phật, Bồ tát âm thầm

gia bị cho.

Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7 hạ (Đại

33, 771 thượng) nói: “Sự truyền bá kinh

luận ở cõi này, về công đức ấy, xem văn thì

chỉ thấy nói đến minh lợi(lợi ích ngầm) chứ

không thấy nói đến hiển ích(lợi ích rõ

ràng)”.

MINH LUẬN

Cũng gọi Vi đà luận, Phệ đà luận.

Kinh điển của Bà la môn giáo ở Ấn độ

đời xưa.

Vi đà, Phạm: Veda, Hán dịch là Minh.

Minh nghĩa là Trí. Bà la môn giáo lập 4 Minh

luận, còn Phật giáo thì lập 5 Minh luận.

[X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1

phần cuối; Thắng man bảo quật Q.trung

phần đầu]. (xt. Phệ Đà).

MINH NHẤT

Trong trạng thái hỗn mang, không thể

phân biệt đây kia, gọi là Minh nhất(1 trạng

MINH NHẤT

 

M

3135

thái mờ tối). Cũng tức là chủ thể và đối tượng

hợp nhất, không còn phân biệt.

Ma ha chỉ quán quyển 1 hạ, (Đại 46, 9

hạ) nói: Trí vô duyên duyên theo cảnh vô

tướng, cảnh vô tướng cùng với trí vô duyên

thầm hợp làm một, gọi là Cảnh trí minh

nhất”.

MINH PHÁP SƯ

Cũng gọi Đại minh pháp sư, Quang pháp

sư.

Cao tăng Trung quốc, thuộc tông Tam

luận, sống vào đời Tùy Đường.

Sư từng tu học ở Dương đô (Nam kinh)

dưới tòa ngài Pháp lãng (507-561) chùa

Hưng hoàng, sau khi sư vào Mao sơn(huyện

Cú dung, tỉnh Giang tô) hoằng dương Trung

luận, trọn đời không ra khỏi núi. Có thuyết

cho rằng Thiền sư Pháp dung, Tổ khai sáng

tông Ngưu đầu, cũng từng theo Pháp sư

Minh học Tam luận. Lại có thuyết cho rằng

Pháp sư Quang mà Thiền sư theo học

không phải là Pháp sư Đại minh, học giả

Tam luận.

[X. chương Ngưu đầu Pháp dung trong

Tục cao tăng truyện Q.20].

MINH PHẬT LUẬN

Cũng gọi Thần bất diệt luận.

Tác phẩm, 1 quyển, do cư sĩ Tông bỉnh

soạn vào đời Lưu Tống thuộc Nam triều,

được thu vào Hoằng minh tập quyển 2 trong

Đại chính tạng tập 52.

Nội dung sách này nói rõ về thần thức

luân hồi bất diệt, thần thức ấy tức là pháp

thân thường trụ; nếu diệt trừ dục tình, còn

lại thần thức thanh tịnh vốn có, thì liền trở

về pháp thân mà thành Phật. Điều này cho

thấy tư tưởng của tác giả Tông bỉnh là dung

hợp pháp thân, Phật tính của Phật giáo với

quan niệm thần, tính của Đạo gia.

(xt. Tông Bỉnh, Thần Diệt Bất Diệt Luận

Tranh).

MINH PHỦ ĐIÊN

Cũng gọi Thập vương điện.

Cung điện của 10 vị vua ở cõi âm.

Các chùa ở Trung quốc, Đại hàn và Nhật

bản thường thiết lập thêm Minh phủ điện,

nhưng ở Nhật bản thì điện này được gọi là

Diêm ma đường.

MINH PHỤC (1590-1642)

Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Tào

động, sống vào đời Minh, người huyện Cối

kê, tỉnh Chiết giang, họ Vương, tự Nhĩ mật,

hiệu Tán y.

Sư bẩm tính sáng suốt, ngay thẳng, năm

22 tuổi, y vào Đại sư Trinh bạch chùa Khai

nguyên xuất gia, học thông tính tông, tướng

tông. Năm 27 tuổi, lúc đang ở trong thuyền,

tình cờ nghe tiếng thanh la(1 loại nhạc khí),

sư hoát nhiên tỉnh ngộ. Sau sư thờ ngài Trạm

nhiên Viên trừng, chùa Hiển thánh, núi Vân

môn ở Việt châu làm thầy, năm Thiên khải

thứ 3 (1623) được phó pháp. Sư từng tham

yết ngài Vô dị Nguyên lai ở chùa Thiên giới

tại Kim lăng,

biện luận về ý

chỉ “vật bất

thiên”. Về sau,

sư trùng hưng

chùa Quốc

khánh ở Đông

sơn thuộc tỉnh

Chiết giang.

Năm Sùng trinh

thứ 9 (1636), sư

dời đến chùa Di

đà ở Mai dã.

Năm Sùng trinh 15 (1642) sư tịch, thọ

53 tuổi.

MINH PHỤC

Minh Phục

 

M

3136

[X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.2;

Kế đăng lục Q.1; Ngũ đăng nghiêm thống

Q.25; Tục đăng chính thống Q.39; Ngũ đăng

toàn thứ Q.63].

MINH PHƯƠNG (1593-1648)

Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Tào

động, sống vào đời Minh, người phủ Gia

hưng, tỉnh Chiết giang, họ Trần, tự Thạch

vũ, người đời gọi là Thạch vũ Minh phương

Thiền sư.

Năm 22 tuổi, sư y chỉ vào ngài Tây trúc

tông ở chùa Song tháp, núi Nam cao tại Hàng

châu xuất gia. NămVạn lịch 43 (1615), sư

tham yết ngài Trạm nhiên Viên trừng ở chùa

Thạch Phật tại Gia hưng, khổ tu 7 năm mới

được ấn chứng. Về sau, sư lần lượt trụ ở các

chùa: Tượng sơn, Thiên hoa ở Thiệu hưng,

Hiển thánh ở núi Vân môn, Quang hiếu ở

núi Bảo thọ tại Hàng châu, Tây thiền, Tuyết

phong ở Di sơn tại Phúc châu, Linh sơn tại

Đinh châu, Phổ minh ở phủ Kiến ninh, tỉnh

Phúc kiến, Linh

phong ở Khảo

đình, Ngộ không

ở núi Long môn

thuộc Hàng châu,

Quảng phúc ở

Đông tháp tại

phủ Gia hưng,

Phật nhật ở núi

Cao đình tại

Hàng châu và sau

cùng là chùa Lan

ngạc sơn ở phủ

Thiệu hưng.

Năm Thuận trị thứ 4 (1647) đời Thanh,

một hôm sư bỗng nói với đồ chúng (Vạn

tục 144, 473 thượng): “Thế giới chẳng yên,

chi bằng ta đi về”.

Năm Thuận trị thứ 5 (1648) sư tịch, thọ

56 tuổi, pháp lạp 35.

Sư có tác phẩm: Thạch vũ thiền sư pháp

đàm 20 quyển.

[X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.2;

Tục đăng chính thống Q.39; Tăng đính Phật

tổ đạo ảnh Q.3 (Hư vân)].

MINH QUAN

Những quan thuộc hạ ở cõi u minh, phụ

tá cho vua Diêm ma, phán xét tội lỗi của các

tội nhân ở địa ngục và quyết định hình phạt

thích đáng. Đó là các vị như là Thái sơn

phủ quân.

MINH QUYỀN

I. Minh Quyền.

Chỉ cho những phương tiện quyền xảo

được chư Phật, Bồ tát ứng dụng để giáo hóa

chúng sinh

[X. Bài tựa kinh Duy ma].

II. Minh Quyền.

Chỉ cho Pháp thân và Ứng thân của Phật.

Lí và trí thầm hợp với nhau gọi là Minh,

tức là Pháp thân Phật; phương tiện độ sinh

là Quyền, tức là Ứng thân Phật.

MINH SA DƯ VẬN

Tác phẩm, 1 pho, do ông Thỉ xuy Khánh

huy (1879-1939) người Nhật biên soạn.

Toàn sách có chính thiên và thiên ngoại.

Chính thiên: Biên chép hơn một trăm

mấy mươi bản kinh xưa của Phật giáo đã bị

thất lạc trong số mấy nghìn văn kiện cổ bản

đào được ở Đôn hoàng, do ông A. Stein sưu

tập và tàng trữ tại viện Bảo tàng nước Anh.

Thiên ngoại:Thu gom những bức Mặc

bảo(bút tích của cổ nhân) quí hiếm và hơn

40 quyển sách viết tay khác.

Ngoài ra, để giải thích rõ sách này, ông

Khánh huy còn soạn thêm 1 thiên “Minh

sa dư vận giải thuyết”.

MINH SA DƯ VẬN

Minh Phương

 

M

3137

MINH SỨ

Sứ giả của Minh quan, tức chỉ cho ngục

tốt(lính của Diêm vương).

Cứ theo luận Đại trí độ quyển 16, trong

địa ngục, thân hình của ngục tốt mang những

loại đầu chim thú đáng sợ như đầu trâu,

ngựa, dê, hươu, nai, cáo, chồn, chó, hổ, chó

sói, sư tử, chim ưng, chim ó v.v… thường

quát mắng, nạt nộ và trừng phạt các người

chết tùy theo tội nghiệp của họ.

[X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.17]. (xt.

Ngục Tốt).

MINH TẠNG

Gọi đủ: Minh bản Đại tạng kinh.

Cũng gọi: Minh bản.

Đại tạng kinh được khắc bản vào đời

Minh. Gồm 5 bản như sau:

1. Hồng vũ Nam tạng(cũng gọi Sơ khắc

Nam tạng): Tạng kinh do vâng mệnh vua

Thái tổ nhà Minh được khắc vào khoảng

năm Hồng vũ thứ 5 đến niên hiệu Vĩnh lạc

năm đầu (1372-1403), có thuyết nói đến năm

Hồng vũ 31 (1398), gồm 1.612 bộ hoặc 1.625

bộ Kinh Luật Luận. Bản in mẫu còn được

cất giữ ở chùa Báo ân tại Nam kinh. Đại

tạng kinh được tàng trữ ở chùa Khoái hữu

tại thôn Quốc chi, quận Phong phố, huyện

Sơn khẩu, Nhật bản, phần nhiều thuộc Tạng

kinh này.

2. Vĩnh lạc Nam tạng(thường gọi Nam

tạng): Tạng kinh được khắc in từ năm Vĩnh

lạc thứ 10 đến năm 15 (1412-1417) tại Nam

kinh, là bản khắc lại của Hồng vũ Nam

tạng, nhưng có hơi thay đổi; gồm 6.331

quyển, 1.625 bộ Kinh Luật Luận. Bản in

kiểu bản xếp, mỗi tờ 30 dòng, mỗi dòng

17 chữ.

3. Bắc tạng(cũng gọi Vĩnh lạc Bắc tạng):

Tạng kinh do vua Thành tổ ban lệnh khắc

vào năm Vĩnh lạc 18 đến năm Chính thống

thứ 5 (1420-1440) vào đời vua Anh tông,

gồm 1.615 bộ Kinh Luật Luận, kiểu bản xếp,

1 tờ 25 dòng, mỗi dòng 15 đến 17 chữ. Về

sau, vâng mệnh mẫu hậu của vua Thần tông

khắc thêm 36 bộ nữa như Hoa nghiêm

huyền đàm hội huyền kí v.v… đưa vào Đại

tạng, cho nên Bắc tạng tổng cộng có 678

hòm, 6.771 quyển. Hai tạng Nam Bắc trên

đây ít được lưu truyền.

4. Vũ lâm tạng: Tạng kinh khắc vào

khoảng năm Gia tĩnh (1522-1566) đời vua

Thế tông, ở huyện Vũ lâm, tỉnh Chiết giang,

là tạng kinh đầu tiên đổi từ chiết bản(bản

xếp) thành bản phương sách(bản đóng gáy).

5. Lăng nghiêm tự bản(cũng gọi Vạn

lịch bản, Mật tạng bản, Gia hưng bản, Minh

bản, Kính sơn bản): Tạng kinh do các ngài

Mật tạng Đạo khai, Chân khả, Đức thanh,

Huyễn dư v.v… phát nguyện khắc bản ở núi

Ngũ đài vào năm Vạn lịch 14 (1586), sau

được dời đến Kính sơn(huyện Dư hàng, tỉnh

Chiết giang), cuối cùng tập trung các bản khắc

về in ở chùa Lăng nghiêm, huyện Gia hưng,

tỉnh Chiết giang và hoàn thành vào khoảng

cuối năm Vạn lịch (1620). Tổng cộng có 210

hòm, kiểu bản phương sách in 1 tờ 20 dòng

(1 mặt 10 dòng) mỗi dòng 20 chữ, xem rất

tiện, loại bản này,

ngày nay còn lại

cũng rất nhiều.

Đầu đời Thanh

khắc bổ sung “Tục

tạng” 237 bộ, sau

lại khắc “Hựu tục

tạng” 189 bộ nữa.

Bản Đại tạng chùa

Lăng nghiêm này

lưu truyền rộng

rãi nhất trong các

bản Đại tạng đời

Minh.

[X. Đại minh tam thánh giáo mục lục;

MINH TẠNG

Đại Tạng Kinh bản Phương sách

 

M

3138

Đại thanh tam tạng thánh giáo mục lục;

Thích thị kê cổ lược tục tập Q.3; Anh văn

Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục; Minh

sử nghệ văn chí thứ 74]. (xt. Trung Văn Đại

Tạng Kinh).

MINH TĂNG THIÊU (? – ?)

Cũng gọi Minh trưng quân.

Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào

đời Ngụy Tấn thuộc Nam Bắc triều, người

Bình nguyên(thuộc tỉnh Sơn đông), tự Thừa

liệt.

Ông là người học rộng nghe nhiều, tính

tình cao khiết, nổi tiếng thanh liêm. Ông

từng ở Lao sơn, tụ tập đồ chúng dạy học,

sau ở ẩn tại Nhiếp sơn(núi Thê hà), Kim

lăng ròng rã hơn 20 năm, trong thời gian

này ông ở chùa Định lâm và thờ ngài Tăng

viễn làm thầy. Có lần vua Cao đế nhà Nam

Tề nhờ ngài Tăng viễn giới thiệu để vua

được gặp, nhưng ông nhất định không chịu.

Đến vua Vũ đế cũng đã 7 lần mời ông vào

cung, ông đều từ chối, không bao lâu thì

ông qua đời.

Lúc Tăng thiệu còn sống, có lần ngài Pháp

độ đến Nhiếp sơn giảng kinh Vô lượng thọ,

ông đã hiến cúng ngôi nhà của ông cho ngài

Pháp độ. Sau khi ông mất, vào khoảng năm

Vĩnh minh (483-493), ngài Pháp độ sửa ngôi

nhà ấy thành chùa, đặt tên là Thê hà tinh

xá, tức là chùa Thê hà sau này.

Ông có tác phẩm: Chính nhị giáo luận.

MINH TÂM

Tâm thầm khế hợp với Như lai tạng

thanh tịnh sẵn có.

Thiền giới thiên ghi: “Mười giới, 3 tụ

không phân biệt thể tài, đều trở về nơi Tam

bảo như đã thệ nguyện. Khi chân thật trở

về rồi, thì thầm hợp với nguồn tâm(minh

tâm), giới tâm không đâu khác, chỉ là con

người ấy thầm hợp nguồn tâm(minh tâm)

thôi, tất cả đều bình đẳng”.

MINH THÁI TỔ

Vị vua sáng lập triều Minh, Trung quốc,

người Hào châu(nay là huyện Phượng dương,

tỉnh An huy), họ Chu, tên Nguyên chương,

tự Quốc thụy, miếu hiệu Thái tổ, thụy hiệu

Cao hoàng đế.

Năm 17 tuổi, cha mẹ qua đời, ông vào

chùa Hoàng giác xuất gia làm tăng được 7

năm. Đến cuối đời Nguyên, loạn lạc nổi lên,

ông bỏ chùa, đi theo ông Quách tử hưng

làm thân binh, dần dần thăng đến Đại tướng.

Sau khi Quách tử hưng mất, ông kế nghiệp

thống lãnh quân sĩ tiêu diệt quần hùng, xưng

Đế tại Kim lăng, đổi quốc hiệu là Minh, niên

hiệu là Hồng vũ. Sau đó, ông đánh đuổi nhà

Nguyên, thống nhất Trung quốc. Trong thời

gian đầu, triều chính rất tốt đẹp, nhưng về

già ông trở nên hà khắc đa nghi, giết cả công

thần hào tộc đến hơn vài mươi vạn người.

Ông ở ngôi được 31 năm thì qua đời, hưởng

thọ 71 tuổi.

Vì mới đầu, vua từng làm tăng tu tập

Phật pháp, nên sau khi lên ngôi, ông nhận

thấy kỉ cương của chúng tăng vào cuối đời

Nguyên đã quá lỏng lẻo, không hiểu Thánh

ý, nên ông mời

các bậc Cao

tăng, cùng

nhau lập ra

chế độ, biên

soạn, sửa đổi

thanh qui, sám

nghi, chú sớ để

làm mực thước

cho thiên hạ

noi theo. Đồng

thời đặt ra chế

độ giáo dục

chúng tăng,

MINH THÁI TỔ

Minh Thái Tổ

 

M

3139

chia chùa viện Phật làm 3 loại: Thiền, Giảng

và Giáo.

Năm Hồng vũ thứ 4 (1371), vua thỉnh

cử 8 vị tăng gồm các ngài Tổ xiển, Khắc

cần v.v… làm sứ thần đưa tiễn sứ Nhật bản

về nước. Vua có ảnh hưởng rất lớn đối với

Phật giáo Trung quốc.

[X. Minh sử Q.1, 2, 3; Minh thái tổ thực

lục Q.68].

MINH THÔNG

Danh từ tán thán chân lí.

Minh là vắng lặng, lìa các tướng; Thông

là dung thông tất cả không trở ngại.

[X. Giới bản sớ Q.1 thượng; Tứ phần

luật sớ hành tông kí Q.1 thượng].

MINH TỊCH

Danh từ hình dung lí chân không.

Minh là vắng lặng, không thấy 1 vật; Tịch

là dứt bặt các tướng.

MINH TUYẾT (1584-1641)

Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Tào

động, sống vào cuối đời Minh, người huyện

Đồng thành, tỉnh An huy, họ Dương, hiệu

Thụy bạch.

Sư xuất gia ở am Tụ long, núi Cửu hoa,

thụ giới Cụ túc ở

chùa Vân thê.

Sau, sư tham yết

các bậc thầy như:

Trạm nhiên Viên

trừng, Bác sơn,

Hoàng bá, Mật

vân Viên ngộ v.v…

Năm Thiên Khải

thứ 6 ( 1626) sư

được ngài Viên

trừng ấn khả. Về

sau, sư lần lượt trụ ở Biện sơn, chùa Hộ

quốc, núi Không đồng ở Giang tây. Sau, sư

dời đến núi Bách trượng ở Nam xương tỉnh

Giang tây, sửa đổi toàn bộ thanh qui, người

đời gọi sư là Đại trí(Bách trượng Hoài hải)

tái thế.

Năm Sùng trinh thứ 14 (1641) sư tịch,

thọ 58 tuổi. Ông Dư đại thành soạn bài minh

trên tháp thờ sư.

Sư để lại tác phẩm: Thụy bạch thiền sư

ngữ lục 18 quyển.

MINH TƯ

Sư suy nghĩ thâm trầm, người khác không

thể lường được. Tức chỉ cho sự tư duy mầu

nhiệm bất khả tư nghị của Phật và Bồ tát, là

chỗ mà hạng phàm phu không thể nào biết

được.

MINH TƯ

Tu tạo phúc đức cho người đã chết, gọi

là Minh tư. Như vào ngày người thân qua

đời, nên thỉnh các sư tụng kinh, thuyết

pháp, làm các việc thiện như bố thí, phóng

sinh v.v… để hồi hướng, cầu nguyện cho

vong linh được siêu thoát…

MINH TƯỜNG KÍ

Truyện kí, do ông Vương diễm soạn vào

đời Nam Tề.

Sách này sưu tập những sự tích Phật giáo,

ghi chép về sự linh nghiệm của bồ tát Quan

thế âm và nói về những vấn đề luân hồi

chuyển sinh, địa ngục v.v… Qua sách này,

người ta có thể biết một cách đại khái về

tình hình tín ngưỡng Phật giáo ở thời đại

Lục triều.

Bộ truyện kí này không được lưu truyền

đầy đủ, chỉ có một phần nội dung thấy tản

mạn trong các bộ Pháp uyển châu lâm, Thái

MINH TƯỜNG KÍ

Minh Tuyết

 

M

3140

bình quảng kí v.v… Đến đời Dân quốc, ông

Lỗ tấn mới thu tập những đoạn rời rạc còn

lại và ghi vào sách “Cổ tiểu thuyết câu trầm”.

MINH TƯỚNG

Bình minh ló rạng, bầu trời dần dần hiện

rõ.

Luật điển qui định, bắt đầu từ lúc sáng

sớm(minh tướng) đến giữa ngày, là thời gian

tỉ khưu nhập chúng khất thực, thụ trai. Còn

trước lúc minh tướng xuất hiện và sau giữa

ngày(sau giờ ngọ) gọi là Phi thời, không được

đi khất thực và thụ thực, nếu trong khoảng

thời gian này mà thụ thực thì gọi là Phi

thời thực.

Ngoài ra, trong khi nhập định, sám hối,

tự thệ đắc giới… mà cảm được ánh sáng trắng

chiếu rọi, giống như minh tướng, gọi là Hảo

tướng, đó là điềm lành hiện ra do sức cảm

ứng của bậc Thánh.

MINH VÃNG

Đi trong tối tăm, nghĩa là lặng lẽ đi đến

nơi khác hoặc thế giới khác, tức là chết.

Theo thuyết luân hồi chuyển sinh của

Phật giáo, sự tan hoại của thể xác chỉ là sự

kết thúc sinh mệnh trong đời này, rồi đợi 1

nhân duyên khác hòa hợp để lại bắt đầu

mệnh sống của 1 thời kì khác, cho nên “tử

vong” là bao hàm ý nghĩa “thú vãng”(đi tới)

chứ không như kiến giải thông thường của

người đời cho rằng chết là hết.

[X. Thành duy thức luận xu yếuQ.thượng,

phần đầu]. (xt. Tử).

MINH VƯƠNG

Phạm:Vidyà-ràja.

Cũng gọi Trì minh vương, Phẫn nộ tôn,

Uy nộ vương.

Minh nghĩa là ánh sáng trí tuệ phá trừ

bóng tối ngu si, tức chỉ Chân ngôn đà la ni.

Tiếng PhạmVidyà-raja, về mặt văn

pháp, là danh từ nam tính, còn danh từ nữ

tính làVidyà-ràjĩì, thì gọi là Minh phi,

như Hư không tạng minh phi, Vô năng

thắng minh phi v.v…

Minh vương còn có 2 nghĩa:

1. Vua của Chân ngôn đà la ni, như Phật

đính nhất tự chân ngôn là Minh vương của

Phật bộ.

2. Chỉ cho các Minh vương phổ thông

trong các vị tôn của Mật giáo, như Hàng

tam thế minh vương.

Minh vương Hàng tam thế là luân thân

giáo lệnh của Như lai, hiện tướng phẫn nộ

để giáo hóa, hàng phục những chúng sinh

cứng cỏi, ương ngạnh khó dạy, về mặt văn

pháp, là chân ngôn thuộc nam tính, có đầy

đủ uy lực phá dẹp các chướng nạn, vì thế

gọi là Minh vương. Còn như Phật nhãn

minh phi v.v… thì hiện tướng người nữ để

nhiếp thủ những chúng sinh ngoan ngoãn,

tức biểu thị chân ngôn nữ tính, có đầy đủ

công đức nhu hòa, cho nên gọi là Minh

phi. Ngoài ra, về mặt văn pháp, chân ngôn

có 2 tính nam, nữ, cho nên Minh chủ cũng

có 2 vị thần nam và nữ, nhờ thế mới có đủ

công năng thể hiện 2 môn Chiết phục và

Nhiếp thủ.

Trong Mật giáo, các vị tôn vâng lãnh giáo

lệnh của đức Như lai, thị hiện hình tướng

phẫn nộ để giáo hóa, hàng phục những

chúng sinh ương ngạnh khó dạy, hầu thu

nhiếp họ, thì ngoài Minh vương Hàng tam

thế ra, còn có các vị Minh vương khác như:

Mã đầu, Bất động, Ái nhiễm, Quân đồ lợi,

Đại uy đức, Đại luân, Bộ trịch, Kim cương

dạ xoa, Vô năng thắng và Đại nguyên soái.

Trong đó, 5 vị Minh vương: Bất động, Hàng

tam thế, Quân đồ lợi, Đại uy đức và Kim

cương dạ xoa, gọi là Ngũ đại minh vương;

nếu thêm Mã đầu, Đại luân và Bộ trịch vào

thì gọi là Bát đại minh vương. Lại nữa, trong

MINH VƯƠNG

 

M

3141

số các Minh vương, như Minh vương Mã

đầu cũng là tên của Bồ tát; còn như Kim

cương dạ xoa, Nguyên soái và Bất động thì

phần nhiều là chỉ cho Dạ xoa.

Ngoài ra, kinh Tô bà hô đồng tử thỉnh

vấn quyển hạ, có nêu 8 vị Minh phi của

Liên hoa bộ, đó là: Minh phi Mục tình, Minh

phi Diệu bạch, Minh phi Cư bạch, Minh

phi Quan thế, Minh phi Độc kế, Minh phi

Kim nhan, Minh phi Danh lợi xưng và Minh

phi Bật lị câu chi.

[X. kinh Đại nhật quyển 1; kinh Tô tất

địa yết la Q.trung; kinh Nhuy hi da

Q.thượng; kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất

tự đính luân vương Q.1, 5; kinh Đại tì lô giá

na Phật thuyết yếu lược niệm tụng; Lí thú

thích Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.5].

MÔ BÁI

Chắp tay quì lạy biểu thị sự tôn kính.

Tức là giơ 2 tay lên rồi quì lạy sát đất.

Đây là nghi thức chủ yếu trong sự lễ

kính của tông giáo. Một số ít dân tộc ở

vùng Tây bắc Trung quốc đời xưa phần

nhiều thực hành nghi thức lễ lạy này đối

với bậc tôn trưởng của họ. Ngày nay, Mô

bái chỉ chung cho sự sùng kính, lễ bái các

thần linh.

MÔ (MẠC) TƯỢNG

…..

Cũng gọi Môn tượng, Chúng manh,

Quần manh, Bình tượng.

Xẩm sờ voi. Tức là mỗi một người mù

chỉ sờ biết 1 bộ phận của con voi, rồi ai

cũng cho mình biết rõ con voi; ví dụ hàng

ngoại đạo, dị học, chẳng biết nghĩa chân

thực của các pháp, mà cứ cùng nhau tranh

chấp thị phi; cũng dụ cho những người học

Phật chỉ một mặt chấp nê vào câu văn trong

kinh luận mà không biết nghĩa đích thực

của Phật pháp.

Phẩm Long điểu trong kinh Trường a

hàm quyển 19 kể rằng, xưa kia vua Kính

diện sai người hầu cận dắt 1 con voi đến,

bảo những người mù sờ vào. Người sờ vòi

voi, cho rằng voi giống càng xe; người sờ

ngà voi, bảo voi giống cái chày; người sờ tai

voi, nói voi giống cái vỉ; người sờ đầu voi,

cho rằng voi như cái đỉnh; người sờ lưng

voi, bảo rằng voi giống như gò đống; người

sờ vào bụng voi, nói voi giống như bức vách;

người sờ vào chân, cho rằng voi giống như

cây cột v.v… rồi cùng tranh cãi với nhau, ai

cũng cho mình là nhận biết đúng! Nhà vua

thấy vậy, cười lớn và đọc kệ rằng (Đại 1, 129

thượng):

“Bọn người mù tụ tập,

Cùng tranh cãi nơi đây;

Thân voi vốn một thể,

Chấp tướng sinh phải quấy”.

Kinh Đại bát niết bàn quyển 32 (Đại

12, 556 thượng) nói: “Thiện nam tử!

Những người mù kia không nói đúng hình

thể của voi, cũng chẳng phải không nói

đúng. Vì nếu chấp những tướng ấy thì

chẳng tướng nào là voi, nhưng ngoài toàn

thể tướng ấy ra thì cũng không có voi nào

khác! Thiện nam tử! Vua dụ cho Như lai

chính biến tri, Thần dụ cho kinh Phương

đẳng đại niết bàn, voi dụ Phật tính,

những người mù dụ tất cả chúng sinh vô

minh”.

Thí dụ này từ xưa đã rất nổi tiếng,

thường được sử dụng làm tên tác phẩm,

như Lăng nghiêm kinh mô tượng kí của

ngài Châu hoành đời Minh, Đương ma mạn

đồ la môn tượng của ngài Trí viên người

Nhật. Nhưng đó đều là lời khiêm nhường

của tác giả, đồng nghĩa với “Quản kiến”

(thấy trong ống).

[X. kinh Đại lâu thán Q.3; kinh Nghĩa

túc Q.thượng; kinh Lục độ tập Q.8; kinh

Bồ tát xử thai Q.3; Đại bát niết bàn kinh

tập giải Q.62].

MÔ BÁI

 

M

3142

MỘ

Mồ mả. Nơi chôn cất di hài người chết

hoặc an trí di cốt sau khi hỏa táng.

Người xưa rất tôn trọng mồ mả, đối với

họ, mồ mả có ý nghĩa thật sâu xa “thận chung

truy viễn, tự vong nhi tồn”, nghĩa là cẩn thận

đối với người đã khuất, ghi nhớ ơn sâu của

tổ tiên, thờ phụng lúc chết cũng như khi

còn sống. Thông thường trong khuôn viên

các chùa viện hoặc ngoài nghĩa địa, người ta

xây cất mồ mả, mỗi khi đến ngày giỗ, họ

hàng thân tộc mang hương hoa phẩm vật

đến dâng cúng. Về tên gọi thì tùy quốc độ

và xứ sở mà có khác. Chẳng hạn Ấn độ gọi

là Thi đà lâm (Sitavana) hoặc Thi ma xa

na (Phạm:Zimàsyyàna), Trung quốc và

Nhật bản thì gọi là Phần mộ, Oanh thành,

Trủng, Mộ…

Về phong tục, ở phía bắc thành Vương

xá cũ và phía nam thành Vương xá mới của

nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, có Thi đà

lâm(Hàn lâm: rừng lạnh) là nơi vứt bỏ thi

thể của những tội nhân, còn di hài của các

Đế vương hoặc quí tộc thì được xây tháp để

an trí ở các nơi khác, các bậc Cao tăng cũng

được dựng tháp thờ.

Tại Trung quốc, trong các sách xưa như:

Sử kí, Hậu Hán thư đều có nói về mộ. Thông

thường, đặt di hài vào quan tài đưa xuống

huyệt rồi lấp đất lên trên, làm thành hình

cái nón, tùy theo hình dáng hoặc lớn hay

nhỏ mà có lăng mộ, phần mộ, khâu mộ,

trủng mộ khác nhau; gần mộ có trồng cây,

làm bia, hoặc chôn chung với quan tài, hoặc

dựng bên cạnh mộ, nếu bia mộ của quan

thì gọi là mộ biểu, của dân thường thì gọi là

mộ kiệt.

Sau khi Phật giáo truyền đến Trung quốc

thì có phong tục xây tháp trên mộ, gọi là

Phần tháp, Trủng tháp, Nhạn tháp. Như Lạc

dương già lam kí quyển 4 ghi: “Sau khi vua

Minh đế nhà Hậu Hán băng hà, trên lăng

có xây kì hoàn(chùa). Tuy nhiên, việc xây

chùa trên lăng vua Minh đế có thật hay

không thì không được rõ”.

Ngoài ra, tháng 8 năm Nghĩa hi thứ 10

(416) đời vua An đế nhà Đông Tấn, ngài

Tuệ viễn thị tịch, quan Thái thú Tầm dương

là Nguyễnkhản xây mộ ở ngọn phía tây Lô

sơn và thi nhân Tạ linh vận soạn văn bia

ghi lại công đức của sư. Rồi đến ngài Huyền

trang đời Đường, sau khi viên tịch, cũng

được xây tháp cúng dường. Và từ giữa đời

Đường về sau, đối với các bậc sa môn cao

tăng thị tịch thì được vua phong thụy hiệu

hoặc ban tên tháp, như “Qui châu chi tháp”

của Thiền sư Thanh nguyên Hành tư, “Tối

thắng luân chi tháp” của Thiền sư Nam

nhạc Hoài nhượng, “Linh chiếu chi tháp”

của Thiền sư

Tào khê Tuệ

năng v.v… Ngoài

ra, cũng có khi vị

tăng chưa tịch

mà đã xây tháp

trước, gọi là Thọ

tháp, Thọ lăng,

cũng có trường

hợp xây tháp để

thờ linh cốt của

nhiều người, gọi

là Phổ đồng tháp,

Hải hội tháp.

[X. kinh Ô điểu dụ trong Trung a hàm

Q.13; kinh Bất không quyên sách thần biến

chân ngôn Q.28; luận Đại trí độ Q.22;

truyện Trí nghiêm trong Cao tăng truyện

Q.3]. (xt. Tháp).

MỘ CHÍ

Bài văn nói về sự tích lúc sinh tiền của

người quá cố được khắc trên bia mộ, gọi là

Mộ chí. Về mặt Kim thạch học và Khảo cổ

MỘ CHÍ

Quần thể mộ tháp

ở chùa HUyền Trung tinh Sơn Tây

 

M

3143

học thì Mộ chí là văn khắc tiểu sử người

qua đời lên đá hoặc vàng rồi chôn chung

với quan tài.

MỘ DUYÊN SỚ

Văn sớ khuyến hóa tín đồ cúng dường

tài vật để thực hiện các Phật sự như tạo

tượng, đúc chuông, xây dựng chùa tháp,

in ấn kinh điển, hoặc làm các việc phúc

thiện như đắp đường, xây cầu, lập bệnh

viện, giúp đỡ những người bệnh hoạn,

nghèo khổ, v.v…

[X. điều Mộ duyên sớ trong Văn thể

minh biện].

MỘ HÓA

Cũng gọi Cầu hóa, Phụng gia, Khuyến

tài.

Khuyến hóa tín đồ cúng dường tiền của

để làm chùa, tạo tượng, xây tháp, sửa sang

đồ thờ tự v.v…

Vì sự mộ hóa cũng để khuyên người đời

kết duyên lành với Phật pháp, nên cũng gọi

là Mộ duyên, Khuyến duyên, Hóa duyên.

MỘ PHÁCH THÁI TỬ

Cũng gọi Mộc phách thái tử.

Tên của đức Phật Thích ca mâu ni khi

còn tu hạnh Bồ tát ở đời quá khứ.

Thủa xưa, ở nước Ba la nại có vị Thái tử

tên là Mộ phách, dung mạo đoan chính,

thông minh rất mực, không ai sánh bằng.

Năm 13 tuổi, bỗng nhiên Thái tử không

nói, giống như người câm, cha mẹ lo âu,

mời các Phạm chí đoán xem thế nào, họ

cho đó là việc chẳng lành, phải chôn sống

Thái tử. Quốc vương và Hoàng hậu rất đau

lòng nhưng vẫn nghe theo lời các Phạm

chí, sai người đưa Thái tử vào rừng để chôn.

Khi Thái tử đứng bên miệng hố bỗng nhiên

nói thành lời, quan Đại thần sai người về

bẩm báo với Quốc vương, Quốc vương và

nhân dân đều vui mừng, nhưng lấy làm kì

lạ, bèn đến gặp Thái tử. Thái tử cúi đầu lễ

bái Quốc vương và nói cho mọi người biết

rằng, xưa kia mình từng làm vua nước Ba

la nại, tên là Tu niệm, ròng rã 25 năm, tự

thân vâng làm 10 điều thiện, dùng tâm từ

bi giáo hóa nhân dân, được nhân dân

ngưỡng vọng. Nhưng vì mỗi khi xuất du,

sai rất nhiều người theo hầu, nên sau khi

chết rơi vào địa ngục, chịu báo rất khổ.

Đời này tuy muốn nói nhưng sợ lại phạm

lỗi, cho nên giữ im lặng. Nói xong, Thái tử

phát tâm làm sa môn đi khất thực để giữ

hạnh vô dục, cuối cùng được Quốc vương

chấp thuận và Thái tử xuất gia.

Sau đó, Quốc vương về thành, dùng

chính đạo trị nước, thiên hạ thái bình, nhân

dân no ấm, hòa vui, vận nước hưng thịnh.

[X. kinhThái tử Mộ phách trong Lục độ

tập kinh Q.4].

MỘC DIÊU

Phạm:Bfhaspati.

Cũng gọi Tuế tinh, Nhiếp đề.

Vị tôn ngồi ở phía nam trong viện Ngoại

kim cương bộ trên Hiện đồ mạn đồ la Thai

tạng giới Mật giáo. Là 1 trong Thất diệu, 1

trong Cửu diệu.

Trong Thai tạng hiện đồ mạn đồ la thì

hình tượng của vị tôn này ngồi tréo chân,

bàn tay phải ngửa lên, co ngón giữa, ngón

vô danh mà bấm vào ngón

cái, còn tay trái nắm lại thành

quyền để ở ngang ngực.

Trong Thai tạng cựu đồ dạng

(Mạn đồ la kiểu cũ)thì vị tôn

này ngồi xếp bằng trên tòa

hình tròn, bàn tay phải ngửa

lên, tay trái cầm gậy, trên đầu

gậy có bán nguyệt.

MỘC DIÊU

Mộc Diệu

 

M

3144

Ngoài ra, theo Phạm thiên hỏa la cửu

diệu, thì Mộc diệu là hình người già đang

đứng, đội mũ đầu lợn, tay trái cầm cành cây.

Hình Tam muội da là ngôi sao miệng bình,

chủng tử là chữ (bf).

[X. kinh Tú diệu; Đại nhật kinh sớ Q.4].

MỘC DỤC

…..

Cũng gọi Mộc tháo, Tháo dục, Tẩy dục.

Tắm rửa cho thân thể sạch sẽ.

Từ xưa đến nay, người Ấn độ tin rằng

tắm gội ở sông Hằng sẽ gột rửa được sự nhớp

nhúa, tiêu trừ các tội chướng. Trái lại, đức

Phật đã phê phán quan niệm này trong kinh

Tự thuyết (Pàli:Udàna, I, 9) như sau: “Mọi

người dù có tắm gội ở đây(sông Già da) thì

cũng không thể nhờ nước mà được thanh

tịnh; nếu người nào chân thực, có pháp,

thì được thanh tịnh, người ấy chính là Bà

la môn”.

Về việc tắm gội thì giáo đoàn đã có qui

chế chặt chẽ, khiến mọi người không buông

thả. Nhà tắm đầu tiên được thiết lập là để

giữ gìn sức khỏe cho các vị tăng bị bệnh.

Tùy thời có thể tắm bằng nước lạnh, nước

nóng, nước thơm v.v…

Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 11 (bản

40 quyển), thì tắm bằng nước thơm có 10

công đức:

1. Trừ được gió độc.

2. Trừ được li mị.

3. Tinh khí sung mãn.

4. Tăng thêm tuổi thọ.

5. Hết mệt nhọc, được khoan khoái.

6. Thân thể dịu dàng.

7. Trừ sạch nhơ nhớp.

8. Khí lực mạnh mẽ.

9. Làm cho người hăng hái.

10. Trừ hết nóng bức.

Về thời gian tắm rửa, thì ngoại trừ lúc

nóng, lúc bệnh, lúc làm việc, lúc mưa gió,

lúc đi đường v.v…, đức Phật có qui định

chung cho tỉ khưu là nửa tháng tắm 1 lần.

Còn chế độ thiền lâm ở Trung quốc, cứ

theo điều Tri dục, chương Lưỡng tự trong

Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển hạ,

thì vào mùa lạnh 5 ngày tắm 1 lần, mùa

nóng thì mỗi ngày mỗi tắm. Trước khi vào

nhà tắm, chúng tăng phải lễ bái tượng bồ

tát Bạt đà bà la (Phạm:Bhadrapàla) trong

Tăng đường, đó là căn cứ theo nhân duyên

vào nhà tắm mà ngộ đạo của ngài Bạt đà

bà la được ghi trong kinh Đại Phật đính

Thủ lăng nghiêm quyển 5. Các Thiền viện

ở Trung quốc và Nhật bản đều có qui định

phải giữ im lặng ở 3 nơi là Tăng đường,

Tây tịnh(hoặc Đông ti, tức nhà xí)và Dục

thất(nhà tắm). Trước khi tắm rửa, phải đọc

bài kệ (Đại 10, 71 hạ): “Tắm gội thân thể,

nguyện cho chúng sinh, thân tâm không

nhơ, trong ngoài đều sạch”.

[X. kinh Hoa nghiêm Q.14 (bản 80

quyển); kinh Ôn thất tẩy dục chúng tăng;

luật Ma ha tăng kì Q.18; luật Thập tụng

Q.16, 41; Đại đường tây vực kí Q.4, Nam

hải kí qui nội pháp truyện Q.3; Thiền uyển

thanh qui Q.10; Thiền lâm bị dụng thanh

qui Q.7].

MỘC DỤC TÁC PHÁP

………..

Pháp tu của Mật giáo được thực hành

trong khi tắm rửa để thanh tịnh thân tâm,

tiêu trừ bệnh tật, ngăn dứt chướng nạn.

Theo pháp tu này, thì khi tắm gội, phải

quán tưởng trên đỉnh đầu có chữ (raô),

2 bên hông có chữ (hùô), có ngọn lửa

bao quanh, tay trái nắm lại thành Kim

cương quyền, tay phải kết ấn Kim cương

quyền, ngón cái dựng thẳng, đồng thời tụng

chân ngôn “Án củ rô đà nẵng hồng nhược”

gia trì ở 5 chỗ. Kế đến, gia trì Quân đồ lợi

tiểu tâm ấn chú vào nước trong thùng tắm,

quán tưởng chủng tử của thủy đại và ao

Hoan hỉ trên cõi trời, rồi múc nước tắm

MỘC DỤC TÁC PHÁP

 

M

3145

trong thùng, dùng ấn và chân ngôn Át già

chú nguyện vào đó, 7 biến rồi hướng về 4

phía của đạo tràng rảy khắp để cúng dường

Bản tôn, quán tưởng tắm gội thân vô cấu

của bậc Thánh. Gia trì vào nước nóng để

làm cho thanh tịnh, cũng thực hành như

thế. Khi tắm gội thì đọc bài kệ (Đại 10, 71

hạ): “Tắm gội thân thể, nguyện cho chúng

sinh, thân tâm không nhơ, trong ngoài đều

sạch”.

MỘC ĐẦU

Đầu bằng gỗ, ví dụ người phạm giới

hoặc người không biết mảy may dung

thông sự lí.

Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1009

thượng) nói: “Người phạm giới không khác

súc sinh, giống như cái đầu bằng gỗ”.

MỘC ĐIÊU

Tượng Phật được chạm trổ bằng gỗ.

Gỗ dùng để tạc tượng Phật có nhiều loại,

trong đó gỗ chiên đàn là loại quí nhất, kế

đến là gỗ chương, gỗ giẻ; cây cối cũng là thứ

gỗ khó kiếm, ít bị mối mọt đục được; kế

đến nữa là cây nam, cây sam v.v… Ở Ấn độ

tư xưa đã thịnh hành việc tạc tượng Phật

bằng gỗ. Còn ở Trung quốc thì tượng gỗ

được khắc sớm

nhất là tượng thờ

ở chùa Linh bảo

phía bắc núi Cối

kê do ông Đới quì

tạc vào đời Đông

Tấn. Ở Nhật bản

thì tượng Tam

tôn thờ ở chùa

Tỉ tằng tại Cát

dã là tượng đầu

tiên được khắc

bằng gỗ.

Có 2 cách tạc tượng gỗ: Khắc cả 1 khối

gỗ nguyên vẹn thành pho tượng; hoặc khắc

từng bộ phận một, sau đó ráp nối lại với

nhau mà thành tượng.

[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.28; Tập

thần châu Tam bảo cảm thông lục Q.trung;

Lạc dương Thệ nguyện tự duyên khởi].

MỘC HOẠN TỬ

Cũng gọi Vô hoạn tử.

Tên khoa học: Koelreuteria paniculata.

Cây hoạn tử, thân cao hơn 1 trượng,

đầu mùa hạ nở hoa nhỏ màu vàng và kết

trái; khi trái chín thì nứt làm ba, bên trong

có hạt giống như hạt châu, màu đen và

cứng chắc. Xưa nay Ấn độ thường dùng

loại hạt này xâu làm chuỗi tràng để xứng

niệm danh hiệu Phật, nên kinh Mộc hoạn

tử dạy: “Nếu muốn diệt trừ phiền não

chướng và nghiệp báo chướng thì phải xâu

108 hạt mộc hoạn, thường mang theo bên

mình”. Tại Trung quốc, vào đầu đời Đường,

hạt mộc hoạn cũng đã được dùng để xâu

chuỗi niệm Phật.

Điều Vô hoạn tử trong Bản thảo cương

mục có nêu ra 7 tên gọi khác nhau của hạt

mộc hoạn, đó là: Hoàn, mộc hoạn tử, cấm

lâu, phì châu tử, du châu tử, bồ đề tử và

quỉ kiến sầu. Còn theo lời chú thích trong

kinh Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm

bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi

tâm đà la ni thì A lị sắt ca sài tức là mộc

hoạn tử; mà A lị sắt ca sài, có lẽ là dịch âm

của chữ Phạm Ariwỉakàkwa, nhưng tên

khoa học của Ariwỉaka là: Sapindus

detergens, khác với cây Koelreuteria

paniculatanói ở trên.

[X. Công đức thiên tượng pháp trong

kinh Đà la ni tập Q.10; truyện Đạo xước

trong Tục cao tăng truyện Q.2; Tuệ lâm âm

nghĩa Q.37; điều Vô hoạn tử trong Tăng

quảng bản thảo cương mục Q.35].

MỘC HOẠN TỬ

Tượng Phật gỗ khắc vào thế kỉ VII

ở Nhật Bản

 

M

3146

MỘC KHƯ BAO CHIẾT NA

Phạm: Mukha-proĩchana.

Hán dịch: Thức diện cân.

Tức là khăn lau mặt, 1 trong 13 vật dụng

của tỉ khưu.

[X. Hữu bộ ni đà na mục đắc ca Q.3].

MỘC LAN SẮC

Màu đỏ sẫm, 1 trong 3 màu hợp pháp

dùng để nhuộm áo ca sa của các vị tỉ

khưu.

Người Ấn độ gọi mộc lan sắc là càn đà

sắc(đỏ nhiều đen ít).

Cứ theo luật Ma ha tăng kì quyển 18,

thì màu mộc lan, màu xanh và màu đen gọi

chung là 3 thứ hoại sắc. Nghiền nát các trái

cây a lê lặc, tì hê lặc, a ma lặc v.v…, rồi trộn

lẫn với nhau và hòa vào nước thì thành màu

mộc lan.

Còn theo Tứ phần luật san phồn bổ

khuyết hành sự sao quyển hạ phần 1, thì vỏ

cây mộc lan giống như vỏ quế, hơi có mùi

thơm, màu đỏ sậm nhưng tươi sáng; nếu

dùng màu này nhuộm Pháp y(ca sa) thì gọi

là Mộc lan y. Đến đời sau, các vị trì luật

phần nhiều mặc ca sa màu mộc lan, nên gọi

là Luật y.

[X. luật Tứ phần Q.16; luật Thập tụng

Q.15; Hữu bộ tì nại da Q.39; luật Ma ha

tăng kì Q.28; luật Ngũ phần Q.9; Bản thảo

cương mục Q.37].

MỘC LOAN TỬ

Hạt cây mộc loan, là 1 trong các loại

mộc hoạn tử, dùng để xâu tràng hạt niệm

Phật.

[X. Tục cao tăng truyện Q.20]. (xt. Mộc

Hoạn Tử).

MỘT LUẬT TĂNG

Vị luật tăng giống như tượng gỗ, chỉ cho

những người chỉ biết 1 mặt trì luật giữ giới

mà không biết cơ dụng linh hoạt.

MỘC MÃ

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Ngựa gỗ. Ngựa gỗ không có tác dụng suy

tư, tính toán. Thiền tông dùng từ ngữ này

ví dụ trạng thái tương đương giải thoát vô

tâm vô niệm.

Kinh Niết bàn quyển 18 (bản Nam) (Đại

12, 729 thượng) nói: “Bò gỗ, ngựa gỗ, đàn

ông gỗ, đàn bà gỗ, đứa trẻ trông thấy cũng

tưởng là đàn ông, đàn bà, liền nín khóc”.

Thiền tông còn có câu “Mộc mã du xuân

tuấn bất ki”(Ngựa gỗ dạo chơi xuân không có

dây buộc); dạo chơi xuân biểu thị sự hoạt

động, tức chỉ cho sức diệu dụng của sự vô

tâm.

[X. tắc 3 Thung dung lục].

MỘC NGƯ

Xưa gọi là Ngư cổ, Ngư bản.

Pháp khí hình con cá làm bằng gỗ, bên

trong rỗng, gõ phát ra tiếng, tức là loại mõ

gỗ được dùng trong các chùa hiện nay.

Mộc ngư dùng khi tụng kinh thì tròn,

khắc thành hình rồng 2 đầu 1 thân, 2 đầu

hướng vào nhau, cùng ngậm 1 hạt châu; còn

mộc ngư được sử dụng để báo hiệu khi triệu

tập đại chúng thì gọi là Ngư bang ( ),

có hình con cá dài, thông thường được treo

ở hành lang nhà trai, nhà kho, khi thụ trai

thì đánh. Sở dĩ tạo hình cá là do sự tích

Trương hoa đời Tấn dùng cái dùi bằng gỗ

cây vông có khắc hình cá để đánh trống đá;

hoặc có thuyết cho rằng vì loài cá ngày đêm

đều mở mắt, cho nên làm mộc ngư để gõ,

MỘC NGƯ

 

M

3147

hầu cảnh giác người tu hành không được

biếng nhác. Đời

sau thì đổi hình cá

khắc hình rồng, là

do thuyết cá hóa

rồng, tượng trưng

ý nghĩa từ phàm

phu trở thành bậc

Thánh.

[X. môn Bái khí trong Thiền lâm tượng

khí tiên; điều Pháp khí môn Mộc ngư trong

Tăng tu giáo uyển thanh qui Q.hạ].

MỘC PHẬT

Tượng Phật được khắc bằng gỗ.

Ở Ấn độ, thời đức Phật còn tại thế, vua

Ưu điền đã mời thợ giỏi khắc tượng đức Phật

bằng gỗ chiên đàn, đó là pho tượng Phật

bằng gỗ đầu tiên trong lịch sử.

Thời cận đại, nhiều tượng Phật bằng gỗ

được khắc vào thời xưa cũng đã được phát

hiện ở các nước vùng Trung á như : Cưu tư

(Kizil), Cao xương (Chotscho) v.v…

(xt. Mộc Điêu, Phật Tượng).

MỘC THÔN THÁI HIỀN (1881-1930)

Học giả Phật giáo Nhật bản, người huyện

Nham thủ.

Ông tốt nghiệp khoa Triết học Ấn độ

trường Đại học

Đông kinh. Đầu

tiên ông làm

Giảng sư, sau ông

thăng chức Giáo

sư tại trường Đại

học Đông kinh.

Ông hợp tác với

học giả Cao nam

thuận thứ lang

cùng soạn bộ Ấn

độ Triết học

Tông giáo sử; sau nhờ bộ “Ấn độ lục phái

triết học” mà ông được viện Học sĩ khen

thưởng.

Ông có các tác phẩm: A tì đạt ma luận

chi nghiên cứu, Nguyên thủy Phật giáo tư

tưởng luận và các sách về Phật học nhập

môn, toàn bộ 6 tập.

MỘC THỰC

Chỉ cho thức ăn bằng rau quả.

Những người tu hành Phật đạo, ẩn dật

trong chốn núi rừng, xa lìa ngũ dục thế

gian, không ăn những thức ăn nấu nướng,

chuyên hành khổ hạnh để mong cầu thành

tựu bồ đề.

Truyện Trí phong trong Tống cao tăng

truyện quyển 8 (Đại 50, 759 hạ) nói: “Cấm

túc 10 năm, ăn rau quả(mộc thực)uống

nước suối”.

MỘC THƯỢNG TỌA

Chỉ cho cây gậy.

Cứ theo Sơn đường tứ khảo thì có lần

ngài Giáp sơn hỏi ngài Phật ấn: “Hòa thượng

xà lê cùng đến với ai?” Đáp: “Mộc thượng

tọa!”(cây gậy).

MỘC XÀ

I. Mộc Xà.

Chỉ cho Ba la đề mộc xoa(Biệt giải thoát).

Triều dã quần chép 12 vị luật sư tuyên

sắc: “Phải siêng năng tu tập, giữ gìn giới pháp

(mộc xà)”.

II. Mộc Xà.

Chỉ cho thanh Trúc bề(thầy cầm khi

hướng dẫn người học để cảnh giác) có khắc hình

con rắn.

Cảnh đức truyền đăng lục 17 chép, Thiền

sư Sơ sơn Quang nhân đang cầm mộc xà, có

vị tăng hỏi (Đại 51, 339 hạ): “Trong tay sư

MỘC XÀ

Mộc Thôn Thái Hiền

Mộc ngư

 

M

3148

là cái gì? Sư đưa lên và nói: “Tào gia nữ”.

Tào gia nữ là gọi tắt của Tào khê gia, tức chỉ

cho Thiền tông. Có thuyết cho rằng Tào gia

nữ là thần Thổ địa hình rắn.

MỘC XOA ĐỀ BÀ

Phạm: Mokwadeva.

Hán dịch: Giải thoát thiên.

I.Mộc Xoa Đề Bà.

Từ ngữ do chư tăng Tiểu thừa dùng để

tôn xưng Tam tạng Huyền trang khi ngài

đang ở Ấn độ. Mộc xoa đề bà, nghĩa là người

đã đạt được sự giải thoát tối thắng.

[X. Đại đường tây vực kí Q.12].

II.Mộc Xoa Đề Bà.

Danh tăng Việt nam, người Giao châu

(Bắc Việt nam ngày nay).

Sư từng sang Ấn độ cầu pháp, trải qua

các nước, đến chùa Đại giác, rồi chiêm bái

khắp các Thánh tích và thị tịch tại đây. Lúc

đó sư mới hơn 20 tuổi.

[X. Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng

truyện Q.thượng].

MỖI NHẬT CHÚC TÁN

Mỗi ngày, vào thời cơm, cháo, tụng 3

biến chú Vô lượng thọ ở điện Phật, để cầu

cho vua được an khang và nước nhà thịnh

vượng.

[X. điều Mỗi nhật chúc tán trong Sắc tu

Bách trượng thanh qui Q.1].

MỖI NHẬT TAM THỜI PHÚNG KINH

Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản.

Cử hành nghi thức tụng kinh vào 3 thời:

Sáng(trước hoặc sau khi ăn cháo), trưa(trước

hoặc sau khi thụ trai) và chiều(trước khi dùng

bữa tối hoặc sau khi kết thúc giờ tham thiền)

mỗi ngày trong Thiền lâm.

Trong Cổ thanh qui của Trung quốc,

hoàn toàn không thấy có qui định rõ ràng

về Tam thời phúng kinh; các Thiền viện ở

đời Đường tuy có tác pháp tụng 1 biến chú

Đại bi sau bữa cháo buổi sáng và trong các

bộ Thanh qui đời Nguyên về sau, tuy có nghi

thức tụng kinh sau khi dùng cháo và thụ

trai… nhưng tất cả đều không thấy qui định

rõ ràng về Tam thời phúng kinh. Còn ở Nhật

bản, từ sau khi bộ “Oánh sơn thanh qui”

được ấn hành (khoảng 1661-1681) đến nay,

thì các tự viện thuộc tông Lâm tế và tông

Hoàng bá nói chung, đều có thực hành nghi

thức này.

MÔN

I. Môn.

Phạm:Dvàra.

Cổng chùa(thường gọi cửa Tam quan).

Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 8, thì

Bồ tát tại gia khi đến ngoài cổng chùa, phải

lễ sát đất và tâm niệm: “Đây là nơi ở của các

bậc thiện nhân” rồi mới được tiến vào trong

chùa.

Các già lam, tinh xá cổ xưa đều có kết

giới, 4 phía xây tường bao quanh, phải qua

cổng chính mới vào giới nội, như Đại tháp

Sơn kì ở Ấn độ, 4 mặt đều có cổng. Còn

kiến trúc chùa viện kiểu Trung quốc thì

thường mở cổng ở hướng chính Nam.

[X. kinh Tu hành bản khởi Q. hạ; phẩm

Thí dụ kinh Pháp hoa].

II. Môn.

Thuật ngữ dùng để phân biệt pháp

tướng và nghĩa lí, như: Bình đẳng môn

và Sai biệt môn, Hữu môn, Không môn,

Diệc hữu diệc không môn và Phi hữu phi

không môn (4 môn), Thánh đạo môn và

Tịnh độ môn (2 môn) v.v… Vì sự giáo

hóa của Phật giáo là thích ứng với đối

tượng, tuy có nhiều sai biệt nhưng đều

là cửa đưa người vào đạo Bồ đề, cho nên

gọi là Pháp môn.

MỖI NHẬT CHÚC TÁN

 

M

3149

III. Môn.

Nương vào 1 pháp môn mà lập tông

chỉ của 1 tông phái, gọi là Tông môn; đồ

đệ của tông môn gọi là Môn đồ, Môn đệ,

hoặc dùng cànhlá làmví dụ thì gọi là Môn

diệp, Môn mạt.

MÔN ĐẦU

Gọi đủ: Môn đầu hành giả.

Chức vụ của vị tăng chuyên trách việc

đóng mở, trông coi và quét tước cổng chùa

trong Thiền lâm.

Thông thường, tầng trên của cổng chùa

thờ tượng 16 vị La hán, tầng giữa thờ

tượng bồ tát Quan âm, có trưởng giả

Nguyệt cái hoặc đồng tử Thiện tài đứng

hầu bên cạnh.

[X. La hồ dã lục Q.hạ].

MÔN ĐÌNH

Trong Thiền lâm có 3 nghĩa:

1. Chỉ cho tùng lâm, đạo tràng tu tập

của Thiền tông hoặc là am, cốc, trụ xứ của

Thiền sư.

2. Chỉ cho pháp phương tiện, tức giai

đoạn đầu tiên đưa người học vào chỗ sâu

xa. Môn đình là cơ pháp phương tiện do các

bậc thầy lập bày để dắt dẫn người học, cho

nên lời môn đình là lời phương tiện tạm

thời, tức là Đệ nhị nghĩa môn. Trái lại, Đệ

nhất nghĩa môn là thể nhập chân lí, dứt bặt

nói năng.

3. Chỉ cho tông phong hay tông chỉ của

Thiền tông.

Chương Vân môn Văn yểu trong Cảnh

đức truyền đăng lục quyển 19 (Đại 51, 356

hạ) nói: “Xưa kia, cổ nhân lập ra môn đình

để giáo hóa, vậy hãy thử nhìn đông trông

tây xem đó là đạo lí gì? Ông muốn hiểu

không?”

[X. tắc 88, Bích nham lục].

MÔN ĐỒ

Cũng gọi Môn bối, Môn diệp.

Hàng hậu học của 1 tông phái hoặc đệ

tử của 1 bậc thầy đã dạy dỗ.

Theo kinh Đại thừa kim cương kế châu

bồ tát tu hành phần, thì bậc thầy có đầy đủ

đức nghiệp, mọi người đều theo về, môn đồ

vân tập đến, tất cả đều được chỉ dạy.

Ngoài ra, ở Nhật bản, Tịnh độ Chân tông

được gọi là Môn đồ tông.

[X. kinh Phạm ma du; Hữu bộ tì nại da

Q.23; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3].

MÔN HỎA

Ở Trung quốc từ xưa đến nay, vào những

dịp đội mũ(con trai đến tuổi trưởng thành),

cưới hỏi, ma chay, cúng tế v.v… đều đốt lửa

ở sân hoặc trước cửa gọi là Đình liệu hay

Môn liệu. Phật giáo Nhật bản cũng phỏng

theo phong tục này, nên trong hội Vu lan

bồn hay lễ tống táng thường đốt đống trấu

hoặc cây gai ở trước cửa gọi là Môn hỏa.

Dân gian thì đốt lửa vào buổi chiều hôm

trước ngày lễ Vu lan ở trước cửa để đón rước

linh hồn tổ tiên về, gọi là Nghinh hỏa. Rồi

lúc kết thúc hội Vu lan, cũng đốt lửa để tiễn

đưa vong linh, gọi là Tống hỏa. Như đêm

16 tháng 8 tại Kinh đô (Kyoto) Nhật bản,

có đốt ngọn lửa hình chữ.. (đại), là lửa tiễn

đưa đại qui mô.

[X. Chu lễ; Thi tiểu nhã đình liệu; Nhan

thị gia huấn; Hòa Hán tam tài đồ hội].

MÔN KINH

Tụng kinh trước cửa nhà.

Có 2 nghĩa:

1. Đứng trước cửa nhà tụng kinh khi

quan tài được khiêng ra cửa để đưa đi chôn.

2. Vị tăng vân thủy(hành cước)đứng

MÔN KINH

 

M

3150

trước cửa nhà của thí chủ tụng kinh khi tiếp

nhận vật cúng dường.

MÔN LUẬT

Tác phẩm, 1 quyển, do ông Trương

dung (444-497) soạn vào khoảng năm Vĩnh

minh (483-493) đời NamTề, được thu vào

Hoằng minh tập quyển 6 trong Đại tạng

tập 52.

Nội dung tác phẩm này mang tính chất

1 bài gia huấn. Tác giả là người thuộc 1

dòng họ danh tiếng ở quận Ngô, vì thương

cảm sự đối lập giữa Phật giáo và Đạo giáo

nên ông soạn sách này nêu lên chủ trương

của ông là “Phật Đạo gồm tu”, “Phật Đạo

hợp nhất” để khuyên bảo người trong thân

tộc.

MÔN MÔN KIẾN PHẬT

Tu tập bất cứ 1 pháp môn nào đều có

thể thấy Phật.

Trong Bát chu tán (Đại 47, 448 thượng)

có nói: “Sở dĩ đặt ra nhiều phương tiện,

nhiều giáo môn, là vì chúng ta là hạng

phàm phu đảo điên tà kiến; nếu y theo

chính pháp tu hành, thì tu bất cứ 1 pháp

môn nào cũng đều có thể thấy Phật, được

vãng sinh Tịnh độ”.

MÔN PHÁI

I. Môn phái.

Hệ thống dòng phái của 1 tông hay 1

phái nào đó, phần nhiều chỉ cho các chi phái

của Thiền tông.

II. Môn Phái.

Pàli:Dvàranikàya.

Hán âm: Đạt bà la ni kha da.

Cũng gọi Đạt bà la phái.

Một chi phái trong Phật giáo Thượng tọa

bộ ở Miến điện, do Pháp sư Áo ba(vốn tên

là Ngô áo can tát, 1817-1905) sáng lập vào

năm 1855 ở vùng Hưng thực tháp.

Phái này chủ trương dùng giáo nghĩa 3

môn(thân môn, ngữ môn, ý môn) để thay cho

giáo nghĩa 3 hành(thân hành, ngữ hành, ý

hành) và nương vào đó mà qui y Tam bảo

Phật, Pháp, Tăng. Phái này cũng chủ trương

chỉ thừa nhận uy quyền của giới luật chứ

không thừa nhận quyền uy của thế tục. Vị

thủ lãnh tối cao gọi là Ma ha na da ca(Đại

đạo sư), kế đó chia ra A nỗ na da ca(Phó đạo

sư), Trụ trì chùa Trung tâm, Già na(Hội

nghị tỉ khưu) v.v… Giới luật rất nghiêm, như

cấm ngặt không được tiếp xúc hoặc ăn cơm

chung với tỉ khưu thuộc phái khác, không

được che ô(dù), cấm chỉ cầm giữ tiền bạc và

xem nghe múa hát, v.v… Sau khi sư Áo ba

qua đời, phái này chia thành 2 phái là phái

Hưng thực tháp và phái Anh gia bố. Đến

năm 1944 mới lại thống nhất.

Phái này có hệ thống truyền thừa giữa

thầy và trò rất chặt chẽ. Những vị tiêu biểu

chủ yếu gồm có: Áo can tát, Mã lạp, Khoa

lạp tháp ôn tháp v.v…

MÔN SƯ

Chỉ cho vị thầy chứng minh lúc thiện

nam, tín nữ tại gia qui y Tam bảo(Môn tức

là pháp môn Tam bảo chân chính, thanh tịnh

cứu giúp thế gian).

Pháp uyển châu lâm quyển 84 (Đại 53,

905 hạ) nói: “Lúc đó có vị sa môn ở Lương

châu là Thích Tuệ sùng làm môn sư cho

quan Thượng thư đời Ngụy là ông Hàn vạn

đức”.

MÔN THỦ

I. Môn Thủ.

Cũng gọi Môn chủ.

Chỉ cho vị thượng thủ của 1 môn phái,

cũng tức là vị trụ trì 1 ngôi chùa.

MÔN THỦ

 

M

3151

II. Môn Thủ.

Phía trước cổng chùa.

Tắc 4, Bích nham lục (Đại 48, 144

thượng) ghi: “Đức sơn bèn ra cổng chùa, ý

muốn nhổ sạch gốc, nên tự nói: Không được

qua loa”.

MÔN TÍCH

Cũng gọi Ngự môn tích.

Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản.

Vốn chỉ cho pháp tích(Tổ tích)của 1 môn

phái, nghĩa là vị chủ tăng của 1 tự viện thống

lãnh môn đồ tu tập 1 pháp môn, về sau

chuyển dụng để chỉ cho những chùa viện dành

riêng cho những vị tăng xuất thân từ hoàng

gia hay quí tộc cư trú. Thiên hoàng Vũ đa

xuất gia ở chùa Nhân hòa vào năm Xương

thái thứ 2 (899), chùa Nhân hòa bèn được

gọi là Ngự môn tích. Từ đó về sau, Môn tích

được dùng để gọi các chùa. Những vị trụ trì

cũng được gọi là Môn tích hoặc Môn chủ.

Thông thường, Môn tích được chia loại

như sau:

1. Cung môn tích: Chùa viện dành cho

các vị thân vương xuất gia cư trú.

2. Nhiếp gia môn tích: Chùa viện dành

cho các vị tăng xuất gia là con em của các

quan Đại thần nhiếp chính cư trú.

3. Thanh hoa môn tích: Chùa viện

dành cho các vị tăng xuất gia thuộc gia đình

quí tộc, hào phú cư trú.

4. Chuẩn môn tích(cũng gọi Hiếp môn

tích): Những chùa viện được lập theo tiêu

chuẩn Môn tích.

Vào đầu năm Minh trị (1868), tất cả các

tên gọi trên đều bị xóa bỏ, về sau chỉ dùng

tên chùa riêng.

MÔNG CỔ NGUYÊN LƯU

… … … ..

Erdeni yin Tobci.

Tác phẩm, 8 quyển, do ông Tản cương

Tái quận (Sagan Secen) soạn vào năm 1662.

Đây là 1 bộ sử thoại của dân tộc Mông

cổ, trong đó, tư tưởng Phật giáo xuyên suốt

toàn sách. Nội dung quyển 1 trình bày lịch

sử từ khi khai thiên lập địa đến khi hoằng

dương Phật giáo ở Ấn độ, là tư liệu trọng

yếu về phương diện lịch sử tư tưởng của Phật

giáo. Quyển 2 nói về quá trình Phật giáo

truyền vào Tây tạng và sự hưng phế của nó.

Quyển 3 nói về sử thoại dựng nước, từ khi

Thành cát tư hãn lên ngôi đến ngày sáng

lập đế quốc Mông cổ. Quyển 4 nói về sự

hưng vong của triều Nguyên. Quyển 5 nói

về sự tích của Khả hãn Đạt diên phục hưng

Phật giáo. Quyển 6, 7 nói về người cháu

củaKhả hãn Đạt diên là A cốt đả và về

tình hình phục hưng Phật giáo ở Nội Mông

và Ngoại Mông của ông. Quyển 8 nói về

quá trình

xây dựng

chùa viện

và phiên

dịch kinh

điển Phật

giáo ở nội

và ngoại

Mông cổ.

Cuối cùng

kết luận với

lời tán thán

Phật giáo.

Nguyên bản sách này vốn đã thất lạc từ

lâu, xưa nay chỉ có các bản dịch chữ Hán và

chữ Mãn châu, nhưng gần đây đã tìm thấy

mấy bản tiếng Mông cổ.

MÔNG CỔ PHẬT ĐIỂN

Từ gọi chung các Thánh điển Phật giáo

đã được dịch ra tiếng Mông cổ.

Từ khi qui y Phật giáo từ thế kỉ XIII đến

nay, ngoài việc phiên dịch kinh điển Phật

giáo từ tạng kinh của Tây tạng ra tiếng Mông

MÔNG CỔ PHẬT ĐIỂN

Mông Cổ Nguyên Lưu

 

M

3152

cổ, các nhà Phật học Mông cổ còn dịch được

1 số kinh Phật ngoài tạng kinh Tây tạng;

hơn nữa cũng đã soạn các bản chú thích

hoặc trứ thuật bằng tiếng Mông cổ, vì thế

mà kinh điển Phật giáo tiếng Mông cổ khá

đầy đủ.

Kinh điển Phật giáo Mông cổ lấy Đại

tạng kinh Tây tạng làm gốc; tạng kinh Tây

tạng được chia làm Cam châu nhĩ(Chính

tạng)và Đan châu nhĩ(Tục tạng). Còn Đại

tạng kinh Mông cổ, có thể căn cứ vào thời

gian thành lập mà chia làm 3 thời kì: Thời

thứ 1 (1271-1368) phiên dịch Cam châu

nhĩ, thời kì này lấy những kinh điển mà

Cổ phái (Tạng:Rĩin-ma-pa) y cứ làm

chính. Thời kì thứ 2 (1368-1627), hiệu đính

những bản dịch của tạng Cam châu nhĩ và

phiên dịch được 1 phần tạng Đan châu nhĩ.

Hai thời kì này lấy dịch cũ làm chính. Thời

kì thứ 3 (1616-1911) thay đổi cách phiên

dịch và sử dụng bản gỗ để ấn hành, thời kì

này hoàn thành các bộ sách chỉ dẫn cách

dùng văn cũng như phương pháp phiên

dịch và các loại từ điển như: Đồng văn vận

thống, Đại tạng toàn chú, Mông văn đối

chiếu phiên dịch danh nghĩa tập v.v…

phương pháp và dịch ngữ phiên dịch thống

nhất, có sự khảo chứng toàn diện. Những

kinh điển được phiên dịch ở thời kì này

gọi là dịch mới.

Nội dung kinh điển Phật giáo Mông cổ

đại khái cũng giống với Đại tạng kinh Tây

tạng, tuy nhiên, cũng có những điểm khác

nhau, hoặc thêm bớt. Đại tạng kinh Mông

cổ, đặc biệt là bản dịch cũ đời Nguyên, đã

phản ánh rõ những nét văn hóa phức tạp

của dân tộc này. Ngoài ra, những ngữ vựng

của các nước vùng Trung á, Cận đông, Âu

châu như Syria, Hi lạp v.v…, được sử dụng

trong bản dịch, đã trở thành 1 trong những

đặc tính của Đại tạng kinh tiếng Mông cổ.

[X. Les Mongols et papauté, Rev. de

l’Orient chrétien 1923, par P. Peltiot;

Histoire des Mongols, 4 tomes, 1834-1835,

par d’ Ohsson; Lạt ma giáo sử (Kiều bản

Quang bảo dịch và xuất bản)]. (xt. Tây Tạng

Đại Tạng Kinh).

MÔNG CỔ PHẬT GIÁO

Phật giáo được truyền đến Mông cổ vào

thời vua Hiến tông (ở ngôi 1251-1259) triều

nhà Nguyên và trở thành tín ngưỡng phổ

biến bắt đầu vào thời Hốt tất liệt.

Vào năm Chí nguyên 22 (1285), vua Thế

tổ nhà Nguyên là Hốt tất liệt ban lệnh cho

ngài Bát tư ba xem xét đối chiếu 2 tạng kinh

Hán và Tạng soạn thành bộ “Chí nguyên

Pháp bảo Khám đồng tổng lục”. Vua Thành

tông nhà Nguyên rất tin Phật nên có ngài

Tất lan nạp thức lí xuất gia thay vua và vâng

mệnh phiên dịch kinh Phạm ra tiếng Mông

cổ. Năm Chí đại thứ 3 (1310) đời vua Vũ

tông, vị Cao tăng người Tây tạng là ngài Pháp

quang đến Mông cổ bổ sung và hiệu đính

những chữ Mông cổ mới, lại có các học giả

Trung quốc, Hồi cốt dịch tạng kinh Tây tạng

ra tiếng Mông cổ. Do đó, các triều vua nối

tiếp như Nhân tông, Anh tông, Tấn tông,

Minh tông, Văn tông và Thuận đế đều sùng

tín Phật giáo Tây tạng. Sau, vua Thái tổ nhà

Minh nổi lên (1368), Thuận đế nhà Nguyên

thua trận lui về phương Bắc, thì Phật giáo

Mông cổ cũng 1 thời suy vi, trải hơn 1 trăm

mấy mươi năm sau, nhờ có Hoàng giáo Tây

tạng truyền vào, Phật giáo Mông cổ mới được

hồi phục.

Năm Vạn lịch thứ 5 (1577) đời Minh,

Khả hãn Yêm đáp của Nội Mông cổ sai sứ

đến Tây tạng thỉnh Đạt lai lạt ma đời thứ 3

đến Mông cổ, từ đó Hoàng giáo bắt đầu

thịnh hành ở Nội Mông cổ. Còn ở Ngoại

Mông cổ, thì Khả hãn A ba đại từng thỉnh

vị đại đệ tử của Đạt lai Lạt ma đời thứ 3 là

ngài Đại từ mại đạt lí hô đồ khắc đồ tuyên

dương Phật pháp ở 1 ngôi chùa bên bờ sông

MÔNG CỔ PHẬT GIÁO

 

M

3153

Khách nhĩ Khách đồ lạp, rất được người

Mông cổ sùng kính. Đến khi ngài Triết bố

tôn đan ba, Hô đồ khắc đồ (Tạng:Rjebtsun

dam-pa, 1635-1723) đời thứ 1 xuất

hiện, thì Phật giáo ở Ngoại Mông cổ lại

càng thêm rực rỡ. Năm Càn long 22 (1757)

đời Thanh, ngài Triết bố tôn đan ba (1724-

1757) đời thứ 2, sáng lập học viện Cao đẳng

tông giáo Trát ni đặc tại Khố luân, từ đó

Khố luân trở thành trung tâm chính trị tông

giáo của Ngoại Mông, cũng là Thánh địa

giáo dục của Lạt ma Mông cổ. Nói chung,

các đời Hoàng đế nhà Thanh đều rất tôn

kính các bậc Triết bố tôn đan ba, nhưng

vào năm Quang tự thứ 4 (1878), tình hình

bỗng thay đổi: Quan Đại thần Mãn châu ở

Khố luân là ông Chí cương bắt buộc ngài

Triết bố tôn đan ba (1870-1924) đời thứ 8

phải đứng dậy đón rước quan Đại thần Biện

sự, đã gây ra sự bất bình. Sau biến cố này,

quan hệ giữa nhà Thanh và Mông cổ trở

nên xấu đi, triều đình nhà Thanh trắng

trợn phá hoại thế lực của Phật giáo Mông

cổ. Khi nhà Thanh sụp đổ, Ngoại Mông

liền tuyên bố độc lập (1912). Còn Triết bố

tôn đan ba hô đồ khắc đồ ở Khố luân thì

tự xưng Hoàng đế, thành lập nước Đại

Mông cổ.

Lãnh tụ tông giáo Nội Mông đồng thời

với Triết bố tôn đan ba là Chương gia hô đồ

khắc đồ (Tạng:Lcaí-skya), đệ tử của ngài

Đạt lai Lạt ma đời thứ 5, được rước từ Tây

tạng đến. Các đời Chương gia thường phụ

giúp nhà Thanh và chính phủ Dân quốc.

Những vị này thường trú ở Đa luân, Bắc

kinh và núi Ngũ đài. Vị Chương gia đời thứ

19 thị tịch ở Đài bắc vào năm Dân quốc 46

(1958), ngài đã từng giữ các chức Ủy viên

trong Mông Tạng Ủy viên hội, Mông kì

tuyên hóa sứ, Ủy viên chính phủ Quốc dân,

Tư chính phủ Tổng thống v.v…

Thời kì thịnh nhất của Phật giáo Mông

cổ là khoảng đầu thế kỉ XX, lúc bấy giờ Lạt

ma chiếm1/3 dân số; Thánh địa là chùa

Ách đan ni châu (Erdenì Dzu), được xây

dựng vào năm 1584, cách Ulan Bator 250

dặm. Vì Phật giáo Mông cổ được du nhập

từ Tây tạng, cho nên những nghi lễ tông

giáo, hình thức tổ chức chùa viện, hệ thống

Hoạt Phật v.v… phần nhiều đều giống với

Tây tạng.

[X. Thế giới Phật giáo thông sử tập thượng

(Thánh nghiêm)].

MÔNG CỔ PHẬT GIÁO SỬ

Tạng: Hor chos-byuí.

Gọi đủ:Chen-po hor-gyi yul-du dampa#

i chos ji-ltar byuí-ba#i tshul bzadpa

rgyal-ba#i bstan-pa rin-po-che gsalbar

byed-pa#i sgron-me.

Sử, do ngài Fjigs-med nam-mkha#

soạn.

Nội dung sách này chia làm 2 thiên là

Vương thống sử và Phật giáo sử, Vương

thống sử lại chia làm 4 chương và Phật giáo

sử chia làm 3 chương. Trong đó, Phật giáo

sử là phần chủ yếu, được căn cứ vào sách sử,

kinh điển, truyện kí v.v… của Tây tạng mà

soạn thành.

Chương thứ 1 nói về lược sử Phật giáo

Mông cổ, trước hết trình bày về giáo nghĩa,

kế đến nói về việc hoằng dương Phật giáo ở

Ấn độ, sau truyền đến Trung quốc, rồi du

nhập Mông cổ.

Chương thứ 2 nói về lịch sử Hoàng giáo

của ngài Tông khách ba.

Chương thứ 3 trình bày về lược sử của

các đạo tràng và tự viện nổi tiếng của Phật

giáo.

Ngoài ra, ở cuối sách có giảng thêm về

giáo nghĩa luân hồi giải thoát và nguyên do

viết tác phẩm này.

[X. Ấn độ Phật học nghiên cứu 4, phần

1; Author of the Hor chos #byuí, JRAS,

1941, by G. N. Roerich].

MÔNG CỔ PHẬT GIÁO SỬ

 

M

3154

MÔNG CỐT VƯƠNG (1804-1868)

Mongkut.

Quốc vương Thái lan, Tổ khai sáng phái

Pháp tương ứng bộ (Dhammayuttikanikàya,

cũng dịch là Pháp tông phái), con

của vua Lạp mã đời thứ 2 thuộc vương triều

Mạn cốc.

Năm 14 tuổi, ông vâng sắc xuất gia làm

sa di, trụ ở chùa Đại xá lợi; năm 21 tuổi, thụ

giới Cụ túc ở chùa Ma ha tha đặc, học tập

Thiền định và kinh luật luận. Ông học thông

3 tạng và các thứ tiếngPàli, Phạm, Anh

văn, v.v…, đề xướng giới luật nghiêm khắc.

Năm 1829, ông sáng lập Pháp tương ứng

bộ. Năm 1836, ông trụ trì chùa Bồ vọng ni

vi. Năm 1851, ông hoàn tục lên ngôi, trở

thành Quốc vương của vương triều Mạn cốc,

đó là Lạp mã đời thứ 4 (Rama IV).

Trong thời gian ở ngôi, ông đặt ra

nhiều qui tắc để duy trì tăng đoàn Phật

giáo, khuyến cáo chúng tăng nghiêm trì

giới luật, tăng cường giáo dục tăng chúng,

hết lòng hộ trì phái Pháp tương ứng bộ,

lần lượt xây dựng các chùa Mẫu vượng ni

vực (Wat Bovoranives), chùa Hoàng miện

(Wat Mongkut), chùa Lực phạ đề (Wat

Rajaphradis), chùa Ba thông ôn (Wat

Patumwan) v.v… Năm 1853, ông lại ra

lệnh xây cất Đại tháp Phật thống

(Paỉhama Cetiya), cao hơn 120 mét, có

đường kính 240 mét, mãi đến đời vua Lạp

mã thứ VI mới hoàn thành, là tòa tháp

Phật lớn nhất ở Thái lan. Năm 1840 và

năm 1843, ông lần lượt phái chư tăng đến

Tích lan, Ấn độ thỉnh về Tam tạng tiếng

Pàli bản 40 quyển và bản 30 quyển, triệu

tập các vị cao tăng tiến hành nghiên cứu

và phiên dịch sang tiếng Thái lan. Ông lại

truyền Pháp tương ứng bộ đến Kampochia.

Ông có ảnh hưởng rất lớn đối với việc cải

cách Phật giáo Thái lan.

Ông có tác phẩm: Giới đàn quyết nghi

luận (Sìmàvicàraịa).

[X. Nam truyền Phật giáo sử chương 5

(Tịnh hải)].

MÔNG ĐỒNG TAM BÁCH ĐẢM

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Mông đồng, nghĩa là mù mờ, không

phân biệt được sự lí, phải quấy. Tam bách

đảm, nghĩa là vác trên lưng vật rất nặng.

Ví dụ nghiệp thức mênh mang, cực kì ngu

si tăm tối.

Bích nham lục tắc 25 (Đại 48, 166 trung)

nói: “Cát bụi phủ mắt, đất lấp lỗ tai, ù ù cạc

cạc(mông đồng tam bách đảm), biết đến bao

giờ? Vẫn có kẻ như thế”.

MÔNG ĐƯỜNG

Nhà liêu an dưỡng trong Thiền lâm dành

cho các chức vụ từ Đô tự trở xuống đã mãn

nhiệm, như Tri sự v.v…; hoặc dùng để chỉ

cho chúng tăng ở Mông đường.

Mông có hàm ý tĩnh dưỡng. Người trông

coi Mông đường gọi là Mông đường liêu chủ.

Thiền sư Đại giác Hoài liễn đời Nguyên ở

núi A dục vương tại Minh châu là người

đầu tiên mở ra Mông đường, các đời sau

đều làm theo.

[X. điều Thánh tiết, chương Chúc li trong

Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; điều

Đông tự Tri sự, chương Lưỡng tự trong Sắc

tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; môn Điện

đường trong Thiền lâm tượng khí tiên; Thiền

lâm bị dụng thanh qui Q.4].

MÔNG NHUẬN (1275-1342)

Cao tăng Trung quốc, sống vào đời

Nguyên, người Gia hòa (huyện Gia hưng,

tỉnh Chiết giang), họ Cố, hiệu Ngọc cương.

Năm 14 tuổi, sư lễ ngài Cổ nguyên Vĩnh

MÔNG NHUẬN

 

M

3155

thanh ở chùa Bạch liên hoa xin xuất gia và

được học Chỉ quán, luận Kim cương ti, luận

Thập bất nhị môn v.v… hiểu rõ nghĩa lí.

Sau khi ngài Vĩnh thanh thị tịch, sư theo

hầu ngài Trúc đường Truyền công, siêng

năng khắc khổ. Sau, sư đến chùa Diễn phúc

ở Nam Thiên trúc xiển dương tông phong

được 6 năm, rồi lại đến am Bạch liên trên

ngọn Phong hoàng tại Long tỉnh chuyên tu

niệm Phật tam muội. Người nghe tiếng đến

tham học ngày một đông, sư vẫn giảng nói

diệu nghĩa Chỉ quán. Sau, vâng lệnh viện

Tuyên chính, sư kế vị trụ trì chùa Linh sơn

ở hạ Thiên trúc, được 3 năm lại trở về am

Bạch liên.

Năm Chí chính thứ 2 (1342), sư thị tịch,

thọ 68 tuổi.

Đệ tử có các vị: Đại dụng Tất tài, Ấn hải

Tử thực, Tuyết lâm Diên thụy.

Sư có các tác phẩm: Tứ giáo nghi tập

chú 3 quyển, Tứ giáo nghi tập chú khoa văn

1 quyển.

[X. Tục Phật tổ thống kỉ Q.thượng; Vãng

sinh tập Q.1; Đại minh cao tăng truyện Q.1;

Thích giám kê cổ lược tập tục Q.1; Cao tăng

trích yếu Q.4].

MỘNG

Phạm: Svapna.

Pàli:Supina.

Tức là những sự tướng mà tâm và tâm

sở đã đối cảnh duyên theo lúc ban ngày, bây

giờ hiện lại rõ ràng trong giấc ngủ, giống như

thấy cảnh hiện thực, gọi là Mộng.

Theo kinh Di lan vương vấn tiếngPàli

thì có 6 nguyên nhân khiến người ta thấy

mộng trong giấc ngủ, đó là: Bệnh phong,

bệnh có nước trong túi mật, bệnh đờm,

quỉ thần cám dỗ, thói quen và điềm báo

trước.

Theo luận Đại tì bà sa quyển 37, thì

Mộng mà sau khi tỉnh dậy còn có thể ghi

nhớ, kể lại cho người khác nghe, gọi là Mộng

hoàn toàn. Còn nếu bàn về tự tính(bản chất)

của Mộng thì có các cách nói như: Ý, niệm,

ngũ thủ uẩn, tâm, tâm sở v.v… Về lí do thấy

mộng, thì luận Đại tì bà sa cũng nêu ra các

thuyết trong sách Phệ đà như 5 duyên(lo

nghĩ, thói quen, phân biệt, thay đổi ý niệm, loài

ma quỉ cám dỗ; hoặc do tha lực, thay đổi ý niệm,

đương có, phân biệt, các chứng bệnh)và 7 duyên

(thấy, nghe, nhận, mong cầu, phân biệt, đương

có, các chứng bệnh).

Trong 3 cõi thì mộng chỉ phát sinh ở

cõi Dục, không có trong cõi Sắc và cõi Vô

sắc. Nhưng trong cõi Dục thì chỉ có Phật là

không mộng, còn từ hàng Dị sinh(phàm

phu) cho đến các bậc Thánh quả Dự lưu

đều có mộng. Theo thuyết của tông Duy

thức, trong giấc ngủ say thì hoàn toàn

không có ý thức, còn lúc mơ mơ màng màng

thì vẫn có ý thức và do có tác dụng ý thức

mà có mộng. Tông Duy thức cũng dùng

Mộng để ví dụ cái không, vô, hư dối của

tính “Biến kế sở chấp” trong 3 tính Duy

thức. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng

tất cả việc thấy trong mộng đều là thật,

cho nên có tác dụng sinh quả báo. Nhưng

các sư thuộc phái Thí dụ thì phủ nhận

thuyết này. Luận Đại trí độ quyển 6 cũng

gọi mộng là việc chẳng thật, tất cả đều thuộc

về vọng kiến.

Nhưng mộng cũng có thể dự đoán việc

sẽ xảy ra trong vị lai, cho nên ở Ấn độ từ

xưa đã có thuật xem mộng rất thịnh hành.

Còn trong kinh điển Phật cũng có nhiều

bộ ghi chép về mộng, như kinh Tu hành

bản khởi quyển thượng, kinh Quá khứ hiện

tại nhân quả quyển 1 chép, khi đức Thích

tôn gá thai, phu nhân Ma da mộng thấy

Bồ tát cỡi voi trắng đi vào trong thai; kinh

Ma ha ma da quyển hạ và kinh Đại bát

niết bàn hậu phần quyển hạ thì ghi những

điềm mộng liên quan đến việc đức Phật

nhập diệt. Kinh Xá vệ quốc vương mộng

MỘNG

 

M

3156

kiến thập sự chép rằng, vua Ba tư nặc đã

dựa vào 10 việc thấy trong mộng mà dự

đoán về trạng thái xã hội trong vị lai. Kinh

Cấp cô độc trưởng giả nữ đắc độ nhân

duyên và luận Câu xá quyển 9 ghi chép 10

việc mà vua Ngật lật chỉ thấy trong mộng

cũng ám chỉ việc sau khi đức Thích tôn

nhập diệt, Phật giáo sẽ phát triển mạnh

mẽ. Kinh Bát chu tam muội quyển thượng

cũng ghi việc thấy Phật trong mộng.

Thiện kiến luật tì bà sa quyển 12 thì chia

mộng thành 4 loại:

1. Mộng do 4 đại không điều hòa, mất

quân bình, thì thấy núi lở, thấy mình bay

bổng trong hư không, hoặc bị giặc cướp, ác

thú rượt đuổi.

2. Mộng thấy trước những việc đã trải

qua.

3. Mộng thấy trời người, tùy theo việc đã

làm hoặc thiện hoặc ác mà mộng thấy trời

người nêu rõ hành vi thiện ác của chính

mình.

4. Mộng do tưởng, tưởng đến những

hành vi thiện ác đã qua mà mộng thấy các

việc thiện ác.

Sách đã dẫn còn cho rằng, trong 4 điềm

mộng nói trên, chỉ có “mộng thấy trời người”

và “mộng do tưởng” là thật, còn “mộng do

4 đại không điều hòa” và “mộng thấy trước”

là hư giả không thật, đồng thời cho rằng

không hẳn tất cả mộng đều chịu quả báo.

Kinh Đại phương đẳng đà la ni quyển 1 chép

rằng, 12 vị Mộng vương Đản đồ la là người

bảo vệ kinh Đà la ni, thường hiện ra ở trong

giấc mộng của những người thụ trì kinh này

mà gia hộ.

Theo kinh Kim quang minh tối thắng

vương quyển 2, thì bồ tát Diệu chàng ở trong

mộng, thấy quả trống vàng to lớn, rực rỡ,

chói lọi, tuyên thuyết “phẩm Sám hối”, đây

chính là sự tích “Trống vàng nói pháp”. Kinh

Xuất sinh bồ đề tâm thì nêu ra 4 loại mộng

tốt lành, đó là: Mộng thấy hoa sen, lọng che,

mặt trăng tròn và tượng Phật. Trong kinh

Phật, những điềm mộng nổi tiếng phần

nhiều thuộc về mộng dự đoán vị lai, như

kinh A nan thất mộng, ngài A nan từng

mộng thấy 7 việc chẳng lành như:

1. Lửa trong ao bốc lên ngút trời.

2. Mặt trời, mặt trăng và các tinh tú đều

lặn hết.

3. Các tỉ khưu xuất gia lặn hụp trong hố

sâu bẩn thỉu, những người tại gia bạch y bước

lên đầu mà ra khỏi hố.

4. Những đàn lợn rừng húc đổ những

cây chiên đàn trong rừng.

5. Đầu đội núi Tu di mà không thấy nặng

6. Voi lớn bỏ voi nhỏ.

7. Trên đầu sư tử có 7 sợi lông dài, nằm

chết trên mặt đất, chim thú trông thấy đều

sợ hãi, sau thấy trùng từ trong mình sư tử

bò ra ăn thịt.

Tất cả các việc mộng trên đây đều là

điềm báo trước Phật pháp suy diệt trong vị

lai. Ngoài ra, kinh Bát mộng trong kinh

Tạp bảo tạng quyển 9, kinh Đại mộng bản

sinh(kinh Thập lục mộng) trong kinh Bản

sinh v.v… đều có ghi những điềm mộng

mà về mặt thực tế rất khó lí giải, nhưng

đều có ý nghĩa tượng trưng.

Nói chung, kinh điển Phật giáo Tiểu thừa

và Đại thừa đều có quan điểm và cách giải

thích khác nhau về mộng. Kinh điển Tiểu

thừa phần nhiều xuyên qua điềm mộng mà

ám thị những sự kiện và sự chuyển biến trọng

đại, như trường hợp đức Phật trước khi gá

thai, phu nhân Ma ha ma da mộng thấy Bồ

tát cỡi voi trắng vào thai; trước khi đức Phật

nhập diệt, phu nhân Ma ha ma da mộng

thấy 5 điềm mộng rất dữ, như núi Tu di lở,

nước 4 biển cạn khô v.v… Hoặc như 10 điềm

mộng của vua Ba tư nặc, 10 điềm mộng của

vua Ngật lật chỉ, 7 điềm mộng của ngài A

nan nói trên, đều là quan điểm nguyên thủy

và tự nhiên.

Còn kinh điển Đại thừa thì phần nhiều

MỘNG

 

M

3157

giải thích về bản chất của mộng, đồng thời

bàn đến vấn đề căn bản là thực thể của mộng

có hay không, thiện hay ác…; hoặc căn cứ

vào tính chất hư vọng không thực của mộng

để ví dụ các pháp hữu vi như huyễn như

bóng. Đây là thuộc về quan điểm có tính

phê phán, tính siêu hình.

[X. kinh Tạp a hàm Q.7; kinh Đại bảo

tích Q.73, 74; luận Đại trí độ Q.6, 64]. (xt.

Thập Mộng, Mộng Kinh).

MỘNG CẢM HẢO TƯỚNG

Mộng thấy tướng tốt.

Cứ theo phẩm An lạc hạnh trong kinh

Pháp hoa, nếu người thành tựu 4 hạnh An

lạc, thì trong mộng có thể thấy được 5 tướng

tốt. Đó là:

1. Mộng thấy đức Phật thuyết pháp.

2. Mộng thấy chính mình thuyết pháp.

3. Mộng thấy tự mình nghe pháp, hiểu

suốt nghĩa lí, chứng được trí bất thoái và

được Phật thụ kí cho thành Phật ở đời vị lai.

4. Mộng thấy mình sau khi được thụ kí,

liền ở nơi rừng núi vắng vẻ tu đạo Bồ tát.

5. Mộng thấy 8 tướng thành đạo của

chính mình và chuyển Đại pháp luân.

Ngoài ra, theo kinh Xuất sinh bồ đề tâm,

nếu trong mộng mà thấy hoa sen, lọng che,

mặt trăng tròn và tượng Phật… thì cũng đều

là những tướng mộng tốt lành.

(xt. Mộng).

MỘNG ĐIÊP

Điềm mộng của vua Tần bà sa la, nước

Ma yết đà, Trung Ấn độ.

Khi đức Phật còn tại thế, vua Tần bà sa

la mộng thấy một tấm vải dạ bị xé rách làm

18 mảnh, đức Phật tiên đoán sau khi Ngài

thị tịch, giáo đoàn sẽ chia ra 18 bộ phái.

[X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1].

(xt. Tần Bà Sa La Mộng).

MỘNG HUYỄN

Tức là những vọng tưởng hiện ra trong

giấc ngủ(mộng) và những vật giả tạo do nhà

ảo thuật biến ra(huyễn).

Kinh điển Phật giáo thường dùng “mộng”

và “huyễn” để ví dụ tất cả các pháp chẳng

phải thật có, như kinh Kim cương (Đại 8,

752 thượng) nói: “Tất cả pháp hữu vi, như

mộng huyễn bào ảnh”.

Kinh Nhập lăng già quyển 4 (16, 536

thượng) nói: “Tâm kẻ phàm phu si mê chấp

trước, rơi vào tà kiến, vì không biết được đó

chỉ là vọng kiến hư dối của tự tâm (…) cho

nên ta nói tất cả pháp như huyễn như mộng,

không có thực thể”.

[X. kinh Tu hành đạo địa Q.1; kinh Phật

bản hạnh tập Q.7; kinh Nhập lăng già Q.3;

kinh Kim quang minh Q.1; luận Đại trí độ

Q.6, 95; Bách tự luận]. (xt. Mộng, Mộng

Kinh).

MỘNG HUYỄN BÀO ẢNH

Mộng: Những vọng tưởng hiện ra trong

giấc ngủ; Huyễn: Sự biến hóa của nhà ảo

thuật; Bào: Bọt nước; Ảnh: Bóng dáng,

Mộng, huyễn, bào, ảnh, lộ(hạt móc), điện

(tia chớp) đều là những tiếng dùng để ví dụ

muôn pháp trong thế gian đều hư giả không

thật, sinh diệt vô thường.

Kinh Kim cương (Đại 8, 752 trung) nói:

“Tất cả các pháp hữu vi giống như chiêm

bao, ảo thuật, bọt nước, cái bóng, hạt móc

và tia chớp, nên quán xét như thế”.

MỘNG HƯ

Những cảnh tượng hiện ra trong giấc

mộng đều hư giả, ví dụ cho các pháp không

thực có.

Thiện kiến luật tì bà sa quyển 12 (Đại

MỘNG HƯ

 

M

3158

24, 760 thượng) nói: “Khi ngủ, mộng thấy

núi lở hoặc bay bổng lên hư không; hoặc

thấy hổ(cọp), chó sói, sư tử, giặc đuổi, đây là

do 4 đại không hòa hợp mà sinh ra, hư giả

chẳng thật”.

MỘNG KINH

Chỉ cho những đoạn văn kinh hoặc

những bản kinh Phật có liên quan đến mộng.

Cách nhìn và sự giải thích về mộng trong

các kinh điển của Phật giáo Tiểu thừa và

Đại thừa đều khác nhau. Kinh điển Tiểu

thừa không phải lấy bản thân mộng làm đối

tượng, mà chỉ có ý mượn giấc mộng để ám

chỉ 1 sự kiện hoặc 1 biến chuyển trọng đại.

Còn kinh điển của Đại thừa thì nói rõ về

bản chất của mộng, đồng thời bàn đến vấn

đề mấu chốt là mộng có thực thể hay không

và nếu có thì thiện, ác khác nhau ra sao?

Cho nên, quan điểm của kinh điển Tiểu thừa

có tính nguyên thủy, tự nhiên, còn quan

điểm của kinh điển Đại thừa thì có tính phê

phán, siêu hình.

Trong kinh điển Phật giáo, bộ luận đầu

tiên bàn về bản chất và tự tính của mộng là

luận Đại tì bà sa quyển 37, trong đó có nói

(Đại 27, 193 trung): “Nếu mộng chẳng phải

thực thì trái với Khế kinh”. Như vậy, luận

này chủ trương mộng là có thật và phải chịu

trách nhiệm(nghiệp báo) về đạo đức. Cũng

quyển 37 của luận đã dẫn, nêu ra 5 thuyết

có liên quan đến tự tính(bản chất, bản thể)

của mộng:

1. Các ngài Pháp cứu, Giác thiêncăn

cứ vào thuyết của các ngài Diệu âm và Thế

hữu lấy toàn bộ tác dụng tinh thần của tâm,

tâm sở làm bản thể của mộng.

2. Lấy ý làm tự tính của mộng, tức là

tác dụng của ý thức trước khi ngủ chợt hiện

ở trong mộng.

3. Lấy niệm làm tự tính của mộng, niệm

chỉ cho kí ức.

Nghĩa là từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện

tại đến vị lai, tác dụng của kí ức liên tục

không gián đoạn, đó là tự tính của mộng,

bởi thế mới có trường hợp kí ức ở quá khứ

hiện ra trong cảnh mộng ở hiện tại và sau

khi người ngủ tỉnh dậy có thể kể lại giấc

mộng cho người khác nghe.

4. Lấy Ngũ thủ uẩn làm tự tính của

mộng. Ngũ thủ uẩn tức là sắc, thụ, tưởng,

hành, thức. Trong khi ngủ, các uẩn đắp đổi

giúp đỡ lẫn nhau để cấu thành các việc trong

mộng, vì thế lấy đó làm tự tính của mộng.

5. Lấy tất cả pháp(tức là hết thảy muôn

tượng tâm và vật)làm tự tính của mộng.

Trong kinh điển Phật giáo, có rất nhiều

kinh văn liên quan đến mộng, thường thấy

hơn cả là điềm mộng lành khi đức Phật gá

thai và mộng dữ khi đức Phật nhập diệt.

Điềm mộng đức Phật gá thai thấy được

chép trong các kinh luận:

– Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển

thượng.

– Kinh Chúng hứa ma ha đế quyển 3.

– Kinh Phổ diệu quyển 2.

– Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả

quyển 1.

– Kinh Pháp hoa trong phẩm Phổ hiền

khuyến phát.

– Kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp.

– Kinh Ma ha ma da.

– Thiện kiến luật tì bà sa quyển 12.

– Luận Câu xá quyển 9.

– Luận Dị bộ tông luân.

– Ma ha chỉ quán quyển 2 thượng.

Điềm mộng đức Phật nhập Niết bàn được

ghi trong các kinh luận:

– Kinh Đại bát niết bàn quyển hạ.

– Kinh Đại bát niết bàn quyển 40, bản

tiếng Phạm.

– Kinh Niết bàn hậu phần quyển hạ.

– Kinh Ma ha ma da quyển hạ.

– Kinh Ca diếp phó Phật bát niết bàn.

– Luận Đại trí độ quyển 3.

MỘNG KINH

 

M

3159

– Điều Câu thi na yết la quốc trong Đại

đường tây vực kí quyển 6.

– Pháp uyển châu lâm quyển 10, 12.

Ngoài ra, cũng có mộng liên quan đến

việc đức Phật xuất gia được ghi trong các

kinh điển về Phật truyện như kinh Quá khứ

hiện tại nhân quả quyển 2 v.v…

Còn Bát nhã bộ nói về mộng, thì như

phẩm Mộng hành trong kinh Đại bát nhã

quyển 451, có nêu lên quan điểm của đức

Thích tôn và các ngài Xá lợi phất, Tu bồ

đề, Di lặc… bàn về “nghiệp trong mộng”,

đây là đại biểu điển hình cho lập trường có

tính phê phán, tính suy xét đối với mộng

được biểu hiện trong kinh điển Đại thừa

và kết luận của kinh điển Đại thừa là mộng

đã tiến vào Đệ nhất nghĩa đế. Nghĩa là nếu

cho rằng hiện thực và cảnh mộng có sai

khác nhau thì tức là vọng kiến, mà triệt để

chấp nhận quan điểm “hiện thực tức mộng”

mới phù hợp với tư tưởng “Không” của Bát

nhã.

Lại nữa, kinh Đại bát nhã quyển 596 và

luận Đại trí độ quyển 6, dùng 10 thí dụ để

thuyết minh thực tướng Bát nhã, thì trong

đó có 1 dụ “như mộng”. Trong 10 thí dụ

của kinh Đại phẩm bát nhã quyển 1, nói rõ

“các pháp đều không”, cũng có 1 thí dụ về

mộng. Rồi 10 thí dụ trong kinh Duy ma,

nói về “thân người vô thường”, cùng có 1

thí dụ mộng. Ngoài ra, luận Đại trí độ quyển

7 cũng có ghi mộng của 3 dâm nữ, nhờ đó

để thuyết minh ý chỉ nhiệm mầu của “các

pháp thực như thế, đều từ niệm sinh”.

Nhưng điềm mộng trong các kinh như kinh

Đại phương đẳng đà la ni quyển 1, thuộc

Phương đẳng bộ và kinh Kim quang minh

tối thắng vương quyển 2, thuộc Bí mật bộ,

thì ý thú rất khác với điềm mộng trong kinh

Bát nhã nói trên. Trong đó, sự tích Thập

nhị mộng vương(Thập nhị thần vương, Thập

nhị đại vương) ghi trong kinh Đại phương

đẳng đà la ni, sự tích “Kim cổ thuyết pháp”

(Trống vàng nói pháp) trong kinh Kim quang

minh tối thắng vương, đều thuộc trường hợp

“Thiên nhân nhập mộng”(Trời người thấy

mộng) chứ không phải dùng mộng làm thí

dụ để hiển bày ý chỉ mầu nhiệm của “lí

Không”.

Trong các kinh Phật hiện còn, những

kinh lấy mộng làm chủ đề toàn kinh thì có:

1. Kinh A nan thất mộng, 1 quyển, cũng

gọi Thất mộng kinh, do ngài Đàm vô lan

dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại

chính tạng tập 14. Nội dung nói về việc ngài

A nan nằm mộng thấy 7 việc xấu, như thấy

những “ngọn lửa từ ao hồ bốc lên ngùn

ngụt”v.v… mà đức Phật tiên đoán đó là điềm

báo trước việc Phật pháp sẽ suy tàn trong

đời vị lai.

2. Ca chiên diên vị Ác sinh vương giải

bát mộng duyên, cũng gọi kinh Bát mộng,

do các ngài Cát ca dạ và Đàm diệu cùng

dịch vào đời Nguyên Ngụy, được thu vào

kinh Tạp bảo tạng quyển 9 trong Đại chính

tạng tập 4. Nội dung nói về việc ngài Ca

chiên diên giải thích 8 điềm mộng của Ác

sinh vương, khiến cho bạo chúa này qui y

Tam bảo.

3. Xá vệ quốc vương mộng kiến thập

sự kinh,1 quyển, cũng gọi Thập mộng kinh,

Vô hi vọng kinh, được thu vào Đại chính

tạng tập 2. Bản dịch khác là Xá vệ quốc

vương thập mộng kinh, 1 quyển, cũng được

thu vào Đại chính tạng tập 2. Nội dung nói

về 10 điềm mộng của vua Ba tư nặc.

4. Cấp cô độc trưởng giả nữ đắc độ

nhân duyên kinh, 3 quyển, do ngài Thí hộ

dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính

tạng tập 2. Có bản dịch khác là Tu ma đề

nữ kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch

vào đời Ngô, cũng được thu vào Đại chính

tạng tập 2. Nội dung nói về việc đức Phật vì

muốn giải thích về nhân duyên quá khứ của

nàng Thiện vô độc (Phạm:Sumàgadhà, Tu

ma đề), con gái của Trưởng giả Cấp cô độc,

MỘNG KINH

 

M

3160

nên Ngài thuật lại 10 điềm mộng chẳng lành

của vua Ngật lật chỉ (Phạm:Kfkin) ở đời

quá khứ cho Thiện vô độc nghe, nhờ đó mà

nàng được độ.

5. Đại mộng bản sinh kinh (Phạm:

Mahàsupina Jàtaka), cũng gọi Thập lục

mộng kinh. Nội dung nói về 10 điềm mộng

dữ của vua Ba tư nặc, cùng lời đoán mộng

của Bà la môn và sự giải thích của đức Phật.

[X. kinh Tạp a hàm Q.7; kinh Tăng nhất

a hàm Q.51, kinh Đại bảo tích Q.73, 74;

luật Ngũ phần Q.26; kinh Tu hành bản khởi

Q.thượng; luận Đại trí độ Q.64; Chỉ quán

phụ hành truyền hoằng quyết Q.2 phần 2;

Khai nguyên thích giáo lục Q.15]. (xt. Mộng).

MỘNG SONG QUỐC SƯ NGỮ LỤC

Gọi đủ: Mộng song chính giác tâm tông

Phổ tế quốc sư ngữ lục.

Cũng gọi Mộng song ngữ lục.

Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Mộng song

Sơ thạch (1275-1351) người Nhật soạn, các

sư Bản nguyên và Diệu ba biên tập, ấn hành

vào năm 1354, được thu vào Đại chính tạng

tập 80.

Nội dung chia ra như sau:

Quyển thượng: Thu chép Ngữ lục 6 hội

ở các chùa: Nam thiền, Tịnh trí, Viên giác,

Thiên long v.v…

Quyển hạ 1: Thu chép các phần Thăng

tòa, Niêm hương, Tiểu Phật sự, Phật tổ tán,

Tự tán, Kệ tụng v.v…

Quyển hạ 2: Thu chép Phổ tế quốc sư

niên phổ, Tây sơn dạ thoại, Tháp minh, Bi

minh do Tống liêm soạn, cho đến Thập di

(Lâm xuyên gia huấn, Tam hội viện di giới,

Tây phương di huấn, Mạt hậu thùy giới, Kệ

tụng, Tế văn, Sớ, Lương bài, Pháp ngữ, Phát

nguyện văn v.v…) Phần Tây sơn dạ thoại là

do ngài Xuân ốc Diệu ba biên tập, được in

riêng vào năm 1700, nội dung thu chép

những cơ duyên vấn đáp và lời giáo huấn

người học của ngài Sơ thạch ở các chùa Thiên

long và Tây phương.

MỘNG SONG SƠ THẠCH (1275-1351)

Thiền sư Nhật bản, thuộc tông Lâm tế,

người huyện Y thế, họ Nguyên, tự Mộng

song, là hậu duệ của Thiên hoàng Vũ đa.

Năm lên 9 tuổi, sư theo ngài Không a ở

chùa Bình diêm sơn học nội ngoại điển. Năm

26 tuổi, sư xuất gia, theo ngài Ngưng nhiên

ở viện Giới đàn thụ giới, sau đó, đi khắp nơi

học Hiển giáo và Mật giáo. Ít lâu sau, sư

nhận ra rằng Phật pháp vốn không phải là

Nghĩa học, nên chuyển sang tham thiền, thờ

các ngài Nhất sơn Nhất ninh, Cao phong

Hiển nhật làm thầy và được ngài Hiển nhật

ấn khả.

Năm 1325, sư nhận lời thỉnh của Thiên

hoàng Hậu đề hồ, trụ ở chùa Nam thiền tại

kinh đô (Kyoto), chùa Viên giác ở Liêm

thương, xiển dương Thiền phong. Sau khi

họ Bắc điều bị diệt vong, sư từ Liêm thương

dời về Kinh đô để tránh loạn lạc, ở đây, sư

được dòng họ Túc lợi tôn kính, giúp sức xây

dựng tháp Lợi sinh ở chùa An quốc. Để truy

niệm Thiên hoàng Hậu đề hồ, sư sáng lập

chùa Thiên long và làm vị khai sơn đời thứ

nhất. Ngoài ra, sư còn chỉ đạo công trình

tạo lập các hoa viên nổi tiếng ở các chùa

Tây phương, chùa Thiên long, chùa Vĩnh

bảo(Mĩ nùng), chùa Hấp giang(Cao tri), chùa

Thụy tuyền(Liêm thương), chùa Huệ lâm

(Giáp phỉ) v.v…

Năm 1346, đệ tử của sư là Vô cực Chí

huyền kế thừa pháp tịch chùa Thiên long,

xiển dương tông phong của thầy và sau phát

triển thành phái Mộng song(phái Tha nga

môn), còn sư thì lui về ẩn ở am Vân cư.

Năm 1351, sư thị tịch, thọ 77 tuổi. Lúc

sinh tiền, sư được vua ban các hiệu: Mộng

Song Quốc Sư, Chính Giác Quốc Sư, Tâm

Tông Quốc Sư; sư cũng được đời sau truy

MỘNG SONG SƠ THẠCH

 

M

3161

tặng các hiệu: Phổ Tế Quốc Sư, Huyền Du

Quốc Sư, Phật Thống Quốc Sư và Đại Viên

Quốc Sư.

Đệ tử nối

pháp gồm hơn 50

người, trong đó

nổi tiếng hơn cả

là các vị: Vô cực

Chí huyền, Xuân

ốc Diệu ba, Long

tưu Chu trạch,

Nghĩa đường

Chu tín, Cổ kiếm

Diệu khoái,

Quán trung Trung đế v.v…

Sư có các trứ tác: Mộng trung vấn đáp

tập 3 quyển, Lâm xuyên tự gia huấn, Ngữ

lục 3 quyển.

[X. Thiên long khai sơn Mộng song chính

giác tâm tông Phổ tế quốc sư niên phổ; Mộng

song chính giác tâm tông quốc sư tháp minh

tinh tự; Diên bảo truyền đăng lục Q.19].

MÔNG TRUNG THUYẾT MỘNG

Tức ở trong mộng nói việc chiêm bao, ví

dụ cho hư vô.

Kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển

59 (Đại 7, 1084 trung) nói: “Này Thiện

Dũng mãnh! Như người trong mộng nói

mộng, thấy các tự tính. Nói tự tính trong

chiêm bao như thế là không thể có được.

Tại sao? Thiện Dũng mãnh! Vì mộng còn

chẳng có, huống chi là nói có tự tính của

cảnh mộng?”.

MỘNG TRUNG VẤN ĐÁP TẬP

Gọi tắt: Mộng trung vấn đáp, Mộng trung

tập.

Tác phẩm, 3 quyển, do Thiền sư Mộng

song Sơ thạch người Nhật soạn, ông Túc

lợi Trực nghĩa ghi chép, được ấn hành vào

năm 1344. Đến năm 1912, được đưa vào

Thiền học đại hệ tổ lục bộ.

Nội dung trình bày về yếu chỉ tham thiền

và cách dụng tâm tu hành. Toàn sách được

viết theo thể vấn đáp, gồm 91 điều:

-Quyển thượng có 22 điều, ghi chép về

phúc nghiệp, xuất li sinh tử, chính đạo, Phật

pháp, ma đạo, ma nghiệp.

-Quyển trung có 37 điều, ghi chép về

chính trí vọng tưởng, giáo thiền vô biệt, phát

Bồ đề tâm, công phu tọa thiền.

-Quyển hạ gồm 32 điều, liên quan đến

sắc tâm bất nhị, chân tâm vọng tâm, chư

pháp thực tướng, Đại tiểu quyền thực, giáo

ngoại biệt truyền…

MỘNG TƯỚNG

Chỉ cho các tướng thiện, ác hiện ra trong

mộng; ở đây chỉ cho các tướng hiện ra trong

mộng của “Thập nhị mộng vương” nói trong

kinh Đại phương đẳng đà la ni quyển 1(do

ngài Pháp chúng dịch vào đời Bắc Lương). Thập

nhị mộng vương, cũng gọi Thập nhị thần

vương, Thập nhị đại vương. Đó là: Đản đồ

la, Cân trì la, Mậu trì la, Càn cơ la, Đa lâm

la, Ba lâm la, Đàn lâm la, Thiền đa lâm la,

Cùng già lâm la, Ca lâm la, Cùng già lâm la

và Bà lâm la, trong đó, Mộng vương thứ 9

và thứ 11 trùng tên nhau.

Cứ theo kinh Đại phương đẳng đà la

ni, đức Phật từng tuyên thuyết Ma ha đản

đặc la (Phạm:Mahàtantra-dhàraịì) cho

8 vạn 4 nghìn chúng Bồ tát, đứng đầu là

bồ tát Tốt tụ, khiến họ được đại công đức,

đồng thời, đức Phật dạy: Đản đặc la này

không được truyền riêng, mà phải có 12 vị

Mộng vương nói ở trên làm chứng, nếu thấy

1 trong 12 vị Mộng vương là có thể tuyên

nói Đản đặc la này. Mười hai vị Mộng

vương này cùng phát nguyện, nếu có hành

giả nào thụ trì đọc tụng kinh Đà la ni, thì

12 vị ấy sẽ hiện đến trong mộng của hành

MỘNG TRUNG VẤN ĐÁP TẬP

Mộng Song Sơ Thạch

 

M

3162

giả này để hộ trì, khiến họ chứng được Đà

la ni.

[X. kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự

tính luân vương Q.2].

MỘT BA TỊ

Cũng gọi Vô ba tị, Một khả bả.

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Nghĩa là không có chỗ để có thể nắm

bắt. Ba cùng nghĩa với bả ( ), chỉ cho cái

cán cầm, tức chỗ căn cứ. Ba tị, chỉ cho chỗ

xỏ cái ròng rọc ở mũi con trâu, bởi thế Thiền

tông dùng“một ba tị” để chỉ cho ý nghĩa

không cách nào nắm bắt được.

Đại tuệ Phổ giác thiền sư thư quyển 29

(Đại 47, 934 trung) nói: “Xem tới xem lui,

biết rõ chẳng có chỗ nắm bắt(một ba tị),

chẳng có chất vị gì. Khi trong lòng buồn

bực, thì chính là lúc nên gắng sức”.

MỘT ĐỂ HÀNG

Cũng gọi Một để thuyền, Vô để thuyền.

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Chiếc thuyền không có đáy. Trong Thiền

lâm, từ ngữ này được dùng để chỉ cho cảnh

giới thiền định, xa lìa tất cả chấp trước hướng

tới giải thoát.

Tắc 63 trong Thung dung lục (Đại 48,

266 trung):

“Trên cán cân không hoa, hai đầu thăng

bằng,

Trong con thuyền không đáy, một miền

vượt qua”.

MỘT GIAO THIÊP

Cũng gọi Vô giao thiệp.

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Hai việc trái ngược, không ăn khớp nhau,

hệt như hỏi đông mà đáp tây, hoặc như đầu

Ngô mình Sở, chẳng liên quan gì với nhau.

Lâm tế ngữ lục nói: “Nếu mắt của người

học vừa chớp thì đã không liên quan rồi

(một giao thiệp).

MỘT HUYỀN CẦM

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Cây đàn không dây, không âm thanh.

Trong Thiền tông, từ ngữ này được sử

dụng để chỉ cho tiếng vang linh diệu không

âm thanh, hoặc ý chỉ nhiệm mầu ngoài

lời nói. Nó cũng thường được dùng để biểu

thị cái tông phong đặc biệt của Thiền gia

là “Chẳng lập văn tự, truyền riêng ngoài

giáo”.

Bàng cư sĩ ngữ lục quyển thượng (Vạn

tục 120, 28 thượng) chép: “Cư sĩ nói: Đàn

không dây(một huyền cầm), chỉ có Thiền sư

gảy mới tuyệt”.

MỘT LƯỢNG

…..

Cũng gọi Vật lượng.

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Không thể tính lường. Trong Thiền

lâm, người có khí độ và kiến thức siêu

việt, kẻ phàm phu tầm thường khó lường

biết được, gọi là Một lượng hán. Người

đại ngộ triệt để, vượt ra ngoài tình lượng

phân biệt mà kẻ phàm phu chấp trước

như phàm thánh, mê ngộ, có không, được

mất v.v… gọi là Một lượng đại nhân. Còn

việc lớn Phật pháp vượt ngoài sự đối đãi

phàm thánh, mê ngộ, thì gọi là Một lượng

đại sự.

Tắc 18 trong Thung dung lục (Đại 48,

238 trung) chép: “Không thể dùng vô tâm

mà được, chẳng thể dùng hữu tâm mà biết,

Một lượng đại nhân xoay chuyển trong lời

nói”.

[X. chương Hoàng bá Hi vận trong Cảnh

đức truyền đăng lục Q.9; Đại tuệ Phổ giác

thiền sư thư Q.thượng].

MỘT LƯỢNG

 

M

3163

MỘT NGHIÊT LAM

Phạm: Mudgara.

Cũng gọi Mục kiệt lam.

Gậy, chày có móc câu, là 1 trong những

pháp khí của Mật giáo.

Cứ theo phẩm Tất địa xuất hiện trong

kinh Đại nhật quyển 3, thì Một nghiệt lam

là vật thành tựu lấy chữ (kha) làm pháp

thành tựu. Còn theo phẩm Bí mật mạn đồ

la trong kinh Đại nhật quyển 5, thì Một yết

la là ấn tướng thường được Diệm ma hậu sử

dụng. Lại nữa, kinh Bất không

quyên sách quyển 23 cũng có

chép chân ngôn “Án một nga

la bát đầu mễ”. Những danh

từ “Một nga la”, “Một yết la”

trên đây, đều chỉ cho Một

nghiệt lam.

[X. Đại nhật kinh sớ Q.12; Đại nhật kinh

nghĩa thích Q.9; Chỉ quật dịch thổ tập Q.25].

MỘT TUNG TÍCH

Cũng gọi Một trẫm tích, Đoạn tiêu tức.

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Không để lại 1 dấu vết gì của ngôn ngữ

và hành vi. Thiền tông dùng từ ngữ này để

chỉ cho người đại ngộ triệt để.

Tắc 74 trong Thung dung lục (Đại 48,

274 thượng) nói: “Không dấu vết(một tung

tích), bặt tăm hơi(đoạn tiêu tức); mây trắng

không nơi chốn, gió mát màu sắc gì?”

MỘT Ý TRÍ

……..

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Có 2 nghĩa:

1. Chỉ cho trí tuệ không còn tác dụng

nghĩ lường phân biệt, là trí tuệ đặc hữu của

bậc Thượng thượng.

Phẩm Hành do trong Lục tổ đàn kinh

(Đại 48, 349 thượng) nói: “Kẻ hạ hạ có trí

thượng thượng, bậc thượng thượng có một

ý trí”.

2. Nghĩa là ngu độn.

MỤC CHÂU ĐẠO MINH (780-877)

Cũng gọi Đạo tung.

Thiền sư Trung quốc, sống vào đời

Đường, người Giang nam, họ Trần, là đệ tử

nối pháp của ngài Hoàng bá Hi vận.

Sư trụ ở chùa

Long hưng, Mục

châu (Chiết

giang), dấu kín cơ

dụng của bậc

Thánh, mà đan

giày cỏ, bày bán ở

bên đường để lấy

tiền nuôi mẹ. Lâu

năm mọi người

đều biết và gọi sư

là Trần bồ hài

(người họ Trần đan giày cỏ). Người học đến

hỏi đạo thì hỏi xong, đáp liền, lời lẽ sắc bén

không ai sánh kịp. Từ đó 4 phương đều

ngưỡng mộ, tôn xưng sư là Trần tôn túc.

Câu nói “Cái khoan thời Tần” mà sư

từng sử dụng để tiếp hóa Thiền sư Vân môn

Văn yển, đã trở thành giai thoại được truyền

tụng trong Thiền lâm.

Năm Càn phù thứ 4 (877) sư tịch, thọ

98 tuổi.

[X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.12; Ngũ

đăng hội nguyên Q.4].

MỤC CHÂU ĐẠO MINH THIỀN SƯ NGỮ LỤC

Cũng gọi Trần tôn túc ngữ lục.

Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đạo minh

soạn vào đời Đường, được thu vào Cổ tôn

túc ngữ lục quyển 6 trong Vạn tục tạng

tập 118.

MỤC CHÂU ĐẠO MINH

Một Nghiệt Lam

Mục Châu Đạo Minh

 

M

3164

Nội dung sách này gồm các phần:

Thướng đường đối cơ, thử nghiệm các vị

tăng giảng kinh, thử nghiệm các bậc Đại sư,

Tọa chủ giảng kinh luận; cuối sách có phụ

thêm 1 bài bạt ngắn.

Qua các lời hỏi và đáp, người ta có thể

thấy cơ phong cao vút của ngài Đạo minh.

MỤC CHÂU LƯỢC HƯ HÁN

Cũng gọi Mục châu lược hư, Mục châu

lược hư đầu hán.

Mục châu vấn tăng thậm xứ, Mục châu

vấn tăng.

Tên công án trong Thiền tông.

Nội dung công án này nói về cơ duyên

Thiền sư Đạo minh(Trần tôn túc) ở Mục

châu, đời Đường hỏi vặn 1 vị tăng về tiếng

hét.

Tắc 10 trong Bích nham lục (Đại 48, 150

thượng) chép:

“Ngài Mục châu hỏi vị tăng: Mới rời chỗ

nào?

Vị tăng liền hét.

Ngài Mục châu nói: Lão tăng đã bị ông

hét một tiếng.

Vị tăng lại hét.

Ngài Mục châu hỏi: Sau 3 tiếng hét, 4

tiếng hét, ông hiểu thế nào?

Vị tăng nín thinh, đứng trơ như phỗng

đá.

Ngài Mục châu liền đánh và nói: Ông

chỉ là kẻ cướp đầu óc trống rỗng!”.

Lược hư hán nghĩa là kẻ chỉ biết bắt

chước(cướp lấy) những lời nói và việc làm

của người khác, chứ không có thực chất gì.

[X. Liên đăng hội yếu Q.8; Tông môn

thống yếu tục tập Q.9].

MỤC CHI LÂN ĐÀ LONG VƯƠNG

Mục chi lân đà, Phạm:Mucilinda.

Pàli:Mucalinda.

Hán dịch: Thoát vương, Giải thoát xứ.

Cũng gọi Mục chân lân đà long vương,

Mục lân long vương.

Vị Long vương sống trong ao rồng Mục

chi lân đà, phía đông nam tòa Kim cương,

nơi đức Phật thành đạo ở nước Ma yết đà,

Trung Ấn độ.

Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa, thì vị Long

vương này ở trong hang Mục chân lân đà,

nghe pháp mà thoát khỏi cái khổ làm loài

rồng.

Đại đường tây vực kí quyển 8 (Đại 51,

917 trung) nói: “Trong khu rừng phía đông,

có ao rồng chúa Mục chi lân đà. Nước ao

trong vắt, mùi vị ngon ngọt. Bờ phía tây có

1 tinh xá nhỏ, trong có thờ tượng Phật. Thủa

xưa, khi Như lai mới thành chính giác, đã

ở đây nhập định 7 ngày. Bấy giờ, vị Long

vương nàydùng thân mình quấn quanh đức

Phật 7 vòng, hóa ra nhiều đầu, như tàn lọng

che chở, bảo vệ Phật”.

[X. kinh Phật bản hạnh tập Q.31; Tì nại

da phá tăng sự Q.5].

MỤC CƠ THÙ LẠNG

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Nghĩa là vừa thoáng thấy liền biết rõ.

Cũng chỉ cho người có cơ trí, thông minh,

lanh lợi, vừa nhìn qua đã có thể phân biệt

được những chi tiết nhỏ nhặt nhất(thù, lạng

là đơn vị trọng lượng cực nhỏ).

Tắc 1 trong Bích nham lục (Đại 48,

140 thượng) nói: “Nêu một rõ ba, mục cơ

thù lạng(chạm mắt biết liền), đó là việc ăn

cơm, uống trà bình thường của nạp tăng

này”.

Ngoài ra, Thiền sư Vân môn Văn yển,

Tổ khai sáng tông Vân môn, khi tiếp hóa

người học, thường dùng 1 trong 3 câu: Hàm

cái càn khôn(bao trùm trời đất), Mục cơ thù

lạng(chạm mắt biết liền), Bất thiệp vạn

duyên(không dính muôn duyên). Trong đó,

MỤC CƠ THÙ LẠNG

 

M

3165

Mục cơ thù lạng tức chỉ cho người học

phải đoạn trừ phiền não vọng tưởng, vượt

ngoài văn tự ngôn ngữ mà cầu đốn ngộ tự

tâm.

(xt. Vân Môn Tam Cú).

MỤC ĐIỀN ĐẾ LƯỢNG (1912- ?)

Học giả Phật giáo Nhật bản, người huyện

Tư hạ.

Ông là Tiến sĩ Văn học của trường Đại

học Đế quốc tại Kinh đô (Kyoto). Ông lần

lượt giữ các chức vụ: Nghiên cứu viên của

sở Nghiên cứu Khoa học Nhân văn trường

Đại học Kinh đô, Giáo sư trường Đại học

Kinh đô, Giáo sư trường Đại học Phật giáo.

Hiện ông là Giáo sư trường Đại học Thánh

đức Học viên kì phụ giáo dục, trụ trì chùa

Niệm Phật tông Tịnh độ.

Ông có các tác phẩm: Trung quốc cận

thế Phật giáo sử nghiên cứu, Lục triều cổ

dật Quan thế âm ứng nghiệm kí nghiên

cứu, Hoằng minh tập nghiên cứu, Đường

cao tăng truyện sách dẫn, Ngũ đại tông giáo

sử nghiên cứu, Sách ngạn nhập minh kí

đích nghiên cứu.

MỤC HÃN MẶC ĐỨC

………..

Muhammad, khoảng năm 570-632.

Xưa dịch: Ma ha mạt, Mã cáp ma, Mô

hãn mạch đức.

Ông tổ sáng lập Hồi giáo (Islamism),

người thủ đô Makkah, nước Arabia.

Cha mẹ mất sớm, thủa nhỏ chăn bò,

lớn lên theo nghề buôn bán. Ông chịu ảnh

hưởng của Do thái giáo và Cơ đốc giáo.

Vì người Á rập tin nhiều thần và sùng

bái ngẫu tượng, nên ông cho rằng chỉ có

tin một vị thần mới có thể thống nhất

được dân tộc Á rập. Cho nên, năm 40

tuổi, ông tuyên bố rằng mình đã được

Đấng chúa tối cao Allah chỉ dạy và bắt

đầu đi truyền giáo, lập ra đạo Hồi.

Về sau, vì bị bức hại nên ông phải lánh

đến Mạch địa na và trở thành lãnh tụ chính

trị tông giáo của vùng này. Ông xác lập các

chế độ và luật lệ, như dẹp bỏ tập tục sùng

bái ngẫu tượng và giết những trẻ gái, hạn

chế số mục lấy vợ, cấm chỉ li hôn, sửa đổi

quyền thừa kế, thủ tiêu chế độ nô lệ, giúp

đỡ người nghèo khổ. Nếu không vì mục đích

bảo vệ và truyền giáo thì ông cũng phản đối

chiến tranh. Về sau, ông mở cuộc chiến tranh

với người Do thái và những người Á rập tín

ngưỡng đa thần. Vào năm 630, ông đánh

chiếm thành Makkah và chỉ vài năm sau,

toàn bộ bán đảo Á rập đã tin theo Y tư lan

giáo (Islamism), tức là Hồi giáo.

(xt. Y Tư Lan Giáo).

MỤC KHƯ

Phạm: Mukha.

Hán dịch: Khẩu, Diệu, Môn.

Cũng gọi Mẫu khiên.

Miệng, mặt.

Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển

3 (Đại 35, 151 trung) nói: “Theo tiếng Phạm

thì miệng và mặt đều gọi là môn, tức Phạm

ngữ là mục kha”.

Phạm ngữ tạp danh (Đại 54, 1223 trung)

nói: “Mặt, tiếng Phạm gọi là Mẫu khiên”.

MỤC KIỀN LIÊN

Phạm: Maudgalyàyana.

Pàli:Moggallàna.

Cũng gọi Ma ha mục kiền kiên (Phạm:

Mahàmaudgalyàyana), Đại mục kiền liên,

Đại mục liên, Mục liên, Mục kiền liên, Mục

già lược, Vật già la, Mục kiền liên diên, Mục

kiều la dạ na, Một đặc già la, Mao già lợi da

dạ na, Câu luật đà (Phạm:Kolita), Câu luật,

Câu lí đa, Câu li ca, Câu lí ca, Câu li đa.

Hán dịch: Thiên bão.

MỤC KIỀN LIÊN

 

M

3166

Vị Đại A la hán, một đệ tử thần thông

bậc nhất của đức Phật, người thôn Câu luật

đà, ngoài thành Vương xá, nước Ma yết đà,

Trung Ấn độ, thuộc dòng Bà la môn.

Ngài có dung mạo đoan chính, từ nhỏ

đã giao du rất thân mật với ngài Xá lợi phất

và cùng là đệ tử của ngoại đạo San xà da

(Phạm:Saĩjaya), mỗi vị lãnh đạo 250 đồ

chúng. Hai người giao ước rằng, nếu ai đắc

ngộ giải thoát trước thì phải chỉ bảo cho

người kia, do đó, cả 2 đều gắng sức tu hành.

Về sau, ngài Xá lợi phất gặp được đệ tử của

đức Phật là ngài A thuyết thị chỉ dạy mà

ngộ được lí “các pháp vô ngã”, rồi về kể lại

cho ngài Mục liên, ngài Mục liên bèn dẫn

hết đệ tử đến bái yết đức Phật cầu xin được

giáo hóa. Sau 1 tháng, ngài chứng quả A la

hán và trở thành bậc Thượng thủ trong hàng

đệ tử Phật, phụ giúp đức Phật trong công

cuộc giáo hóa, cũng có khi thay đức Phật

thuyết pháp cho đại chúng nghe.

Kinh Tạp a hàm quyển 23, kinh Ngưu

giác sa la lâm trong Trung a hàm quyển 48,

kinh Tăng nhất a hàm quyển 36, luận Đại

trí độ quyển 41 v.v… đều gọi ngài Mục liên

là “Thần túc đệ nhất”.

Cứ theo kinh Vu lan bồn, thì vì muốn

cứu mẹ thoát khỏi đường ngã quỉ, nên vào

rằm tháng 7, ngày chư tăng tự tứ, ngài Mục

liên đã thiết trai cúng dường 10 phương Đại

đức chúng tăng,

đó chính là

nguồn gốc của

pháp hội Vu lan

bồn ngày nay.

Về già, một

hôm, đang đi

khất thực trong

thành Vương xá,

ngài gặp bọn

Phạm chí Chấp

trượng, môn đồ

Bà la môn giáo

ghen ghét, dùng gạch đá đánh chết. Đức

Phật cho xây tháp thờ ngài bên cửa tinh xá

Trúc lâm.

Ngoài ra, trong Mật giáo, ngài Mục liên

được tôn trí ở tòa thứ 4, hàng trên, bên phải

đức Thế tôn trong viện Thích ca trên Hiện

đồ mạn đồ la Thai tạng giới. Hình tượng

của ngài là tướng sa môn, ngồi trên tòa sen

đỏ, tay phải nắm lại thành quyền, duỗi thẳng

ngón trỏ, tay trái cầm chéo áo ca sa, mặt hơi

nghiêng về bên trái.

[X. kinh Tạp a hàm Q.19, 34, 43; kinh

Chiêm ba trong Trung a hàm Q.9; kinh

Trưởng lão thượng tôn thụy miên trong

Trung a hàm Q.20; kinh Tăng nhất a hàm

Q.4, 12, 18, 28; kinh Quán vô lượng thọ;

luật Ngũ phần Q.16; luật Ma ha tăng kì Q.16;

luật Thập tụng Q.37].

MỤC KIỀN LIÊN TỬ ĐẾ TU

Phạm: Maudgaliputra Tizya.

Pàli:Moggaliputta-tissa.

Gọi tắt: Đế tu.

Vị A la hán sống vào thời đại vua A dục

ở Ấn độ, vì ngài là Đại Phạm thiên đế tu từ

cõi trời Phạm thiên giáng sinh vào gia đình

Bà la môn Mục kiền liên, cho nên được gọi

là Mục kiền liên tử đế tu.

Năm 16 tuổi, sư theo ngài Tư già bà

(Phạm:Siggava) xuất gia làm sa di, sau sư y

vào ngài Chiên đà bạt xà (Phạm:

Caịđavajji) thụ giới Cụ túc. Sư tinh thông

3 tạng và được ngài Tư già bà phó pháp,

chứng quả A la hán, làm thầy vua A dục,

giáo hóa nhân dân.

Vua A dục lên ngôi được 6 năm (tức

vào năm 262 tr.Tây lịch) thì khuyến hóa

Vương tử Ma hi đà theo ngài Đế tu xuất

gia, nghiên cứu Tam tạng. Ba năm sau, ngài

Đế tu lui về ẩn tu ở núi Ahogaígàpabbata,

giao lại Tăng đoàn cho sư Ma hi

đà thống lãnh. Lúc bấy giờ, Phật giáo được

MỤC KIỀN LIÊN TỬ ĐẾ TU

Mục Kiền Liên

(Mạn đồ la Thai tạng giới)

 

M

3167

vua A dục ngoại hộ, rất hưng thịnh, cho

nên có nhiều ngoại đạo vì cầu cơm áo mà

trà trộn vào tăng đoàn, phá hoại chính

pháp. Vua A dục bèn lễ thỉnh ngài Đế tu

ra làm Thượng tọa, trục xuất ngoại đạo,

thanh lọc tăng đoàn, đồng thời triệu tập 6

vạn tỉ khưu Bố tát thuyết giới, trong đó

tuyển chọn 1.000 vị tỉ khưu tinh thông giáo

lí và đã chứng được Tam đạt trí để kết tập

Tam tạng, đây tức là lần kết tập thứ 3. Sau

khi kết tập xong, vua phái các bậc trưởng

lão như Mạt xiển đề v.v… đến các nước Kế

tân v.v… để hoằng truyền Phật pháp.

Vua A dục lên ngôi được 17 năm (tức

vào năm 251 tr.TL) thì ngài Mục kiền liên

tử đế tu thị tịch, pháp lạp 80.

Ngài có tác phẩm: Luận sự (Pàli:Kathàvatthu).

[X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1, 2; Phật

giáo tiểu sử Q.2].

MỤC KIÊT LAM

Phạm: Mudgara.

Cũng gọi Mẫu nạp ra, Một nghiệt lam.

Một loại pháp khí của Mật giáo.

(xt. Một Nghiệt Lam).

MỤC LẶC

…..

Müller, Friedrich Max (1823-1900)

Nhà ngôn ngữ học người Anh gốc Đức,

sinh ở Dessau, con của nhà thơ Wilhelm

Müller. Ông tôn các vị Giáo sư Schelling,

W.J.V., Bopp, F. ở trường Đại học Berlin và

Giáo sư ngôn ngữ học, Đông phương học E.

Burnouf ở trường Đại học Paris làm thầy.

Ông theo chủ nghĩa Tự nhiên (Naturalism)

của nước Anh và là 1 trong những người

sáng lập Tông giáo học thời Cận đại.

Sau khi vượt biển sang nước Anh (1847)

ông cho in Lê câu phệ đà toàn tập 6 quyển

(1849-1875), sau lại ấn hành 4 quyển (1890-

1892). Ông từng làm Phó giáo sư, rồi Giáo

sư trường Đại học Oxford từ năm 1850 đến

khi ông qua đời. Từ năm 1875 về sau, ông

hoàn thành bộ Đông Phương Thánh Thư

(The Sacred Books of the East), là tập văn

dịch ra tiếng Anh những kinh sách của các

tông giáo phương Đông như kinh điển Phệ

đà, kinh Phật, sách vở Kì na giáo, cho đến

kinh sách Khả lan, Lão tử, Khổng tử v.v…

Nhờ ứng dụng phương pháp nghiên cứu

khoa học mới mẻ như Tỉ giảo ngôn ngữ học,

Tỉ giáo thần thoại học và Tỉ giáo tông giáo

học, nên ông đã có cống hiến rất lớn cho

việc giải thích Ấn độ học nói riêng và Đông

phương học nói chung.

Ông có các tác phẩm: Buddhism and

Buddhist Pilgrims, 1857; History of Ancient

Sanskrit Literature, 1859; Lectures on the

Science of Language, 1861; Sanskrit Grammar

for Beginners 1866; Einleitung in die

Vergleichende Religionswissenschaft, 1874;

Origin and Growth of Religion, 1878;

Dhammapada, 1881; Biographies of Words,

1888; Natural, Physical, Antropological and

Psychical Religion, 1889-1893; Contribution

of the Science of Mythology, 1897.

Ngoài ra, nhờ sự trợ giúp của các ông

Nam điều Văn hùng và Lạp nguyên Nghiên

thọ người Nhật, ông cũng đã hoàn thành

bộ sách Anecdote Oxoniensia, trong đó gồm

các kinh như: Kinh Đại vô lượng thọ, kinh

A di đà, kinh Kim cương bát nhã, Bát nhã

tâm kinh, Pháp số danh tập kinh (Phạm:

Dharmasaôgraha) v.v…

MỤC LIÊN CỨU MẪU

Ngài Mục liên theo lời đức Phật chỉ dạy,

thiết trai hội Vu lan bồn, cầu sự chú nguyện

của Đại đức tăng 10 phương, để giải cứu

ách nạn cho mẹ đang bị đọa trong đường

Ngã quỉ.

Theo kinh Vu lan bồn, mẹ ngài Mục liên

MỤC LIÊN CỨU MẪU

 

M

3168

là bà Thanh đề, lúc còn sống, tham lam bỏn

sẻn, tạo nhiều nghiệp ác, cho nên sau khi

chết, phải đọa vào đường quỉ đói, không được

ăn uống. Đức Phật bèn dạy ngài Mục liên

lập hội Vu lan bồn vào ngày rằm tháng 7,

thiết trai cúng dường 10 phương Đại đức

tăng, nhờ đó mẹ ngài Mục liên đã thoát được

nạn khổ.

(xt. Vu Lan Bồn).

MỤC LIÊN SỞ VẤN KINH

Kinh, 1 quyển do ngài Pháp thiên dịch

vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng

tập 24.

Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật

ở tinh xá Trúc lâm tại thành Vương xá, trả

lời ngài Mục liên hỏi về vấn đề những chúng

sinh mê say không biết hổ thẹn, vi phạm

giới luật, thì phải đọa vào địa ngục bao lâu?

Tội chia làm 6 hạng:

1. Làm hạnh phi pháp.

2. Không y theo pháp.

3. Phạm tội Ba dật đề.

4. Phạm Thổ la bát để.

5. Phạm pháp Tăng già bà thi sa.

6. Phạm pháp Ba la di.

Bản dịch khác của kinh này là kinh Phạm

tội giới báo khinh trọng, do ngài An thế cao

dịch vào đời Hậu Hán. Nhưng trong kinh

Phạm tội giới báo khinh trọng không có văn

kệ, cũng không có lời hỏi về 6 hạng tội báo.

Ngoài ra, theo Xuất tam tạng kí tập quyển

4 và Pháp kinh lục quyển 5, thì kinh này

còn có 1 bản dịch khác nữa, cũng gọi là kinh

Mục liên sở vấn, nhưng không có tên người

dịch và kinh này nay đã thất truyền.

MỤC LIÊN VẤN GIỚI LUẬT TRUNG NGŨ BÁCH

KHINH TRỌNG SỰ

Cũng gọi Ngũ bách vấn sự kinh, Ngũ

bách vấn.

Kinh, 1 quyển, mất tên người dịch, được

thu vào Đại chính tạng tập 24.

Nội dung kinh này gồm 18 phẩm, thuật

lại việc đức Phật trả lời ngài Mục kiền liên

về vấn đề các tỉ khưu ở đời mạt pháp, vi

phạm giới luật thì tội báo nặng nhẹ như

thế nào.

Khai nguyên thích giáo lục quyển 13, xếp

kinh này vào Luật bộ Tiểu thừa.

Bản dịch khác của kinh này là kinh Mục

liên giới luật trung ngũ bách khinh trọng

sự, 2 quyển, được dịch vào khoảng đời Đông

Tấn, cũng mất tên người dịch.

Về sách chú thích thì có: Mục liên ngũ

bách vấn giới luật trung khinh trọng sự kinh

thích, 2 quyển, của Vĩnh hải đời Minh và

Mục liên vấn giới luật trung ngũ bách khinh

trọng sự kinh lược giải 2 quyển, do Tính kì

soạn.

[X. Khai nguyên thích giáo lục Q.20;

Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục

Q.23, 30].

MỤC LỤC

Loại sách chuyên liệt kê tên, số quyển,

tác giả, soạn giả, dịch giả và niên đại sáng

tác, soạn thuật, phiên dịch của các kinh sách.

Về những bản mục lục liên quan đến

những kinh điển Phật giáo thì có:

1. Dịch Kinh Mục Lục: Tức mục lục

của những kinh Phật được dịch ra Hán văn,

có ghi thời đại, tên, đồng thời thêm lược

truyện của dịch giả. Như Cổ kim dịch kinh

đồ kỉ của ngài Tĩnh mại đời Đường; Soạn

xuất kinh luật luận lục trong Xuất tam tạng

kí tập của ngài Tăng hựu đời Lương thuộc

Nam triều; Tổng quát quần kinh lục trong

Khai nguyên thích giáo lục của ngài Trí thăng

đời Đường v.v…

2. Nhập TạngLục: Mục lục của những

kinh sách chính thức được đưa vào Đại tạng

kinh. Như Nhập tạng lục trong Lịch đại

MỤC LIÊN SỞ VẤN KINH

 

M

3169

Tam bảo kỉ của cư sĩ Phí trường phòng đời

Tùy, Nhập tạng lục của Khai nguyên thích

giáo lục.

3. Phân Loại Mục Lục: Mục lục liệt kê

những kinh điển được phân loại theo 1 tiêu

chuẩn nhất định. Như Chúng kinh mục lục

của ngài Pháp kinh đời Tùy, Đông vực truyền

đăng mục lục của ngài Vĩnh siêu, Chư A xà

lê chân ngôn Mật giáo bộ loại tổng lục(Bát

gia bí lục) của ngài An nhiên v.v…

4. Sở Tàng Mục Lục:Mục lục của những

kinh điển được tàng trữ ở 1 nơi nào đó. Như

Đại đường Đông kinh Đại kính ái tự nhất

thiết kinh luận mục(Chúng kinh mục lục)

của ngài Tĩnh thái đời Đường, Tỉ duệ sơn

Sơn môn tạng bản mục lục(tạng Thiên hải)

và Kiến nhân tự Lưỡng túc viện tàng thư

mục lục ở Nhật bản v.v…

5. San Kinh Mục Lục: Mục lục của tất

cả các kinh được ấn hành từ đời Bắc Tống

trở về sau. Như Tư khê Viên giác thiền

viện tân điêu Đại tạng kinh mục lục ở Hồ

châu; Bạch vân tông Nam sơn Đại phổ ninh

tự Đại tạng kinh mục lục; Đại tạng mục

lục(tạng Cao li), Đại minh tam tạng Thánh

giáo Bắc tạng mục lục, Vũ châu Giang hộ

Đông duệ sơn Khoan vĩnh tự Nhất thiết

kinh tân san ấn hành mục lục ở Nhật bản.

Đại tạng kinh Tây tạng cũng có San kinh

mục lục.

6. Khám Đồng Mục Lục: Mục lục so

sánh những điểm dị đồng giữa các mục lục

hoặc kinh sách khác nhau đã được thu tập.

Như Chí nguyên Pháp bảo khám đồng tổng

lục do các ngài Khánh cát tường biên soạn

vào đời Nguyên, là mục lục tạng kinh so

sánh đối chiếu những chỗ dị đồng giữa tạng

kinh Hán dịch và tạng kinh Tạng dịch;

Duyên sơn Tam Đại tạng kinh mục lục, do

ngài Tùy thiên, người Nhật, thuộc tông Tịnh

độ, biên soạn, là mục lục tạng kinh so sánh

những điểm dị đồng giữa 3 bản Đại tạng:

Tống, Nguyên, Cao li.

7. Giải Đề Mục Lục: Mục lục nói rõ

về tiêu đề, tác giả, soạn giả, dịch giả và nội

dung các kinh sách. Như Đại tạng kinh

cương mục chỉ yếu lục của ngài Duy bạch

đời Tống, Đại tạng Thánh giáo pháp bảo

tiêu mục của các ông Vương cổ v.v… đời

Tống, Duyệt tạng tri tân của ngài Trí húc

đời Minh v.v…

8. Thỉnh Lai Mục Lục: Mục lục thu

chép những kinh điển chủ yếu của Phật giáo

được thỉnh từ Trung quốc về Nhật bản. Như

Tương lai Thai châu lục của ngài Truyền

giáo đại sư(Tối trừng); Ngự thỉnh lai mục

lục của ngài Không hải; Nhập đường tân

cầu Thánh giáo mục lục của ngài Viên nhân;

Thư tả thỉnh lai pháp môn mục lục của ngài

Tông duệ v.v…

9. Tùng Thư Mục Lục: Mục lục của

những sách vở được sưu tập nhắm 1 mục

tiêu nào đó. Như Tân biên chư tông giáo

tạng tổng lục của ngài Nghĩa thiên người

Cao li, là mục lục ghi chép những kinh sách

Phật được thu tập ngoài Đại tạng kinh Cao

li; Hoa nghiêm tông chương sớ tinh Nhân

minh lục của ngài Viên siêu, ghi chép các

sách vở của tông Hoa nghiêm theo sắc lệnh

nhà vua.

10.Trứ Tác Mục Lục: Mục lục ghi

chép các trứ tác của cá nhân. Như Truyền

giáo Đại sư soạn tập lục của ngài Khả thấu;

Giới đàn viện Quốc sư Ngưng nhiên soạn

tập.

11. Truyền Thụ Mục Lục: Mục lục

truyền pháp của Mật giáo. Như Trung viện

lưu truyền thụ mục lục.

12. Thánh Giáo Mục Lục: Mục lục

ghi chép tất cả sách vở của 1 dòng phái

nào đó(hoặc chính thống) mà Mật giáo lấy

làm mẫu mực. Như Tam muội lưu Thánh

giáo mục lục; Truyền pháp viện phương

tinh Quảng trạch thông dụng Thánh giáo

mục lục v.v…

(xt. Đại Tạng Kinh Mục Lục).

MỤC LỤC

 

M

3170

MỤC TÚC

Cũng gọi Trí mục hành túc, Trí hành.

Mục(mắt)ví dụ trí tuệ; Túc(chân) ví dụ

hành nghiệp. Đây là 2 điều kiện tất yếu mà

người tu hành Phật đạo phải hội đủ. Mục

túc(mắt nhìn và chân đi tới) có đầy đủ mới

đến được chỗ thanh lương(quả Phật). Trong

6 Ba la mật thì: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục,

tinh tiến và thiền định là Hành, còn trí tuệ

là Trí.

Pháp hoa huyền nghĩa quyển 2 thượng

(Đại 33, 698 trung) nói: “Trí là gốc của hành,

nhờ có mắt trí chỉ dẫn, chân mới đi đúng

hướng”.

[X. luận Đại trí độ Q.23; Ma ha chỉ quán

Q.5 thượng].

MY GIAN BẠCH HÀO TƯỚNG

Phạm:Bhrù-vivaràntarorịà-keza.

Cũng gọi My gian hào tướng, My gian

bạch mao trường hảo hữu toàn tướng, Khiết

bạch hữu oanh tướng.

Gọi tắt: Hào tướng, Bạch mao tướng,

Bạch hào tướng.

Sợi lông trắng mọc giữa khoảng 2 đầu

chân mày của Phật và Bồ tát, là 1 trong 32

tướng của đức Như lai.

Phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1 nói

rằng, từ sợi lông trắng ở giữa khoảng 2 đầu

chân mày của Phật phóng ra luồng ánh sáng

soi khắp 1 vạn 8 nghìn thế giới ở phương

đông. Sợi lông này rất mềm mại, thanh tịnh,

xoắn tròn theo chiều bên phải.

Kinh Ưu bà tắc giới quyển 1 (Đại 24,

1040 thượng), nói: “Khi còn tu hạnh Bồ

tát, trong vô lượng kiếp, Ngài đã tuyên

thuyết chính pháp, là pháp chân thực

không hư dối, cho nên kiếp này cảm quả

báo được tướng lông trắng phóng ra hào

quang”.

Xưa nay, giữa 2 đầu chân mày của những

tượng Phật đắp hoặc chạm trổ, phần nhiều

người ta nạm bạch ngọc hoặc thủy tinh để

biểu trưng cho tướng này.

[X. kinh Phật bản hạnh tập Q.9; kinh

Vô thượng y Q.hạ; Vãng sinh yếu tập

Q.trung].

MY PHÂN BÁT TỰ

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Hàng lông mày hai bên trông giống như

hình chữ bát (…); đó là điều rõ ràng, bởi

vậy, Thiền tông dùng nhóm từ “My phân

bát tự”(lông mày chia làm chữ bát) để biểu

thị cho lí đương nhiên.

Tắc 30 trong Bích nham lục (Đại 48, 169

hạ) chép: “Vị tăng hỏi ngài Triệu châu: Nghe

nói Hòa thượng đã tận mắt thấy ngài Nam

tuyền, có đúng thế không?(nghìn nghe không

bằng 1 thấy, đương nhiên là như vậy (my phân

bát tự!).

MY SA CA SƠN

Pàli: Missaka.

Núi ở miền Bắc đảo Tích lan, cách cố

đô A nâu la đà bổ la về phía đông khoảng

12 cây số, là ngọn núi linh thiêng bậc nhất

trên đảo.

Khoảng 200 năm sau đức Phật nhập

diệt, vua A dục phái vương tử là tỉ khưu

Ma hi đà và sa di Tu ma na đến Tích lan

truyền pháp. Lúc bấy giờ, vua nước Tích

lan là Thiên ái Đế tu đang săn bắn ở núi

này, đã gặp ngài Ma hi đà, được ngài giáo

hóa, vua liền qui y và rước ngài về đô thành.

Sau đó, Hoàng hậu và các quan đều qui y

Phật đạo. Về già, ngài Ma hi đà ở ẩn tại

núi này. Sau khi ngài thị tịch, để ghi nhớ

công đức của Thầy, các vị đệ tử đã đổi tên

núi My sa ca thành Di hi đà la (Mihintale).

Khi ngài Pháp hiển đời Đông Tấn, từ

MY SA CA SƠN

 

M

3171

Trung quốc đến đây, ngài thấy ở phía đông

chùa Vô úy sơn có 1 dãy núi, tên là Bạt đề,

có lẽ là núi Di hi đà la, trên đó còn có 1

ngôi tinh xá. Chỗ cách mặt nước biển hơn

300 mét, có 1 ngọn núi đứng trơ trọi, từ

chân núi lên đến đỉnh núi gồm 1.800 bực

thềm đá. A bạt sa la (Ambatthala) trên đỉnh

núi tương truyền là di tích lúc ngài Ma hi

đà mới đặt chân lên đất nước Tích lan. Tại

Y tì ha la (Etvihara) hiện còn 1 tòa tháp

thờ tóc của đức Phật, là do vua Bạt đế da

(Bhatia) xây dựng vào thế kỉ I Tây lịch. Ở

chỗ vua Thiên ái Đế tu và ngài Ma hi đà

gặp nhau, hiện còn được ghi dấu bằng 1

ngôi tháp bằng đá hình tròn, tên là tháp A

bố tư (Ambustella), chung quanh có lan can

bằng đá hình bát giác bao bọc. Từ 1 mặt

của sườn núi, người ta có thể thấy thành

cũ của nhà vua từ đằng xa, nơi ấy gọi là

giường Ma hi đà. Ngoài ra, trên mặt đá khắp

nơi trên núi này đều có khắc những bài

minh nói về sự tích nhân từ của nhiều đời

vua.

MỸ QUỐC PHẬT GIÁO

Phật giáo ở nước Mỹ là 1 tông giáo mới,

do sư Diệu nhật Thương long, người Nhật

bản, đầu tiên truyền đến Hạ uy di vào

năm 1889, rồi từ đó dần dần du nhập Mỹ

quốc.

Tổ chức Phật giáo sớm nhất ở nước Mỹ

là “Hội Phật giáo Mỹ quốc”, vốn là 1 đoàn

thể Phật giáo Nhật Mỹ mà người Nhật gọi

là “Phái Chân Tông Tây Bản Nguyện Tự”,

có hơn 60 ngôi chùa và trên 100 viên chức

cai quản.

Năm 1893, nước Mỹ mời các nhà lãnh

đạo tông giáo của các quốc gia đến dự hội

nghị Tông giáo thế giới tại Chicago. Sau khi

tham dự hội nghị trở về, ngài Tông diễn,

người Nhật, liền phái ông Linh mộc Đại

chuyết (Suzuki) đến Mỹ in ấn và xuất bản

sách vở Phật giáo bằng tiếng Anh. Năm 1899,

tông Tịnh độ của Nhật bản thành lập Mỹ

Thức Phật Giáo Đường, nhưng đến nay vẫn

chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động của

Nhật kiều. Năm 1930, ông Tá tá mộc chỉ

nguyệt, đệ tử tại gia của ngài Tông diễn, sáng

lập Mỹ Quốc Đệ Nhất Thiền đường (First

Zen Institute of America). Sau năm 1945,

người Mỹ đến Nhật bản nghiên cứu Phật

giáo và người chính thức tu hành ngày càng

nhiều.

Khoảng 1950 đến 1958, ông Linh mộc

Đại chuyết khai giảng Thiền học tại trường

Đại học Colombia, tạo ảnh hưởng rất sâu

đậm, cũng có nhiều người Mỹ học Thiền

ở Nhật bản, rồi trở về Mỹ truyền lại. Do

ảnh hưởng này, nên vào cuối thập niên

50 xuất hiện Phi đầu tộc (Beat Generation),

nhiều nhà sáng tác, hội họa, âm nhạc

v.v… bất mãn với truyền thống Tây

phương, nên sinh ra hứng thú đối với

thiền, hình thành trào lưu cuồng nhiệt

của Phi đầu thiền (Beat Zen). Năm 1965

lại có Hippi Thiền (Hippis Zen), sùng bái

phong cách tự nhiên của Hàn sơn. Hai

phái này đều khác với Thiền chính thống,

nhưng nhiều người trong phái Hippis về

sau lại trở thành người tu hành Thiền

chính thống.

Vào thập niên 60, Thiền sư An cốc Bạch

vân thuộc dòng Lâm tế và Tào động, nhiều

lần đến Mỹ dạy thiền. Năm 1966, đệ tử của

ngài Bạch vân là Philip Kapleau sáng lập

trung tâm Thiền ở thành phố Rochester

thuộc tiểu bang Nữu ước. Một vị tăng Nhật

bản khác nữa là ngài Tiền tế Thái thiện sáng

lập trung tâm thiền Los Angeles vào năm

1956, đệ tử người Do thái của ngài cũng

thành lập Thiền Đoàn Khế ở thành phố

Nữu ước.

Hiện nay, số người Nhật bản tu thiền

nhiều nhất là ở 2 trung tâm Zen Mountain

Center và Tassajara Hot Springs ở California

MỸ QUỐC PHẬT GIÁO

 

M

3172

do ông Linh mộc Sinh long sáng lập. Năm

1964, ngài Đảo dã Vinh đạo thuộc tông Lâm

tế Nhật bản, đến Nữu ước chủ trì Thiền

đường New york(do ông Linh mộc Đại chuyết

sáng lập). Năm 1968, ngài Vinh đạo lại sáng

lập chùa Kim cương Đại bản sơn ở tiểu bang

New york.

Năm 1853, Phật giáo Trung quốc

truyền đến Mỹ, người Mỹ bắt đầu có hứng

thú đối với tông Thiên thai và Thiền của

Trung quốc. Năm 1929, Đại sư Thái hư

đến Mỹ hoằng pháp, sau đó có các vị cư sĩ

Trần hữu đạo và Đặng tiếp vinh. Hiện

nay, tăng ni Trung quốc đến nước Mỹ ngày

càng đông, phần nhiều ở các tiểu bang

California và New york, trong đó, các vị

có khả năng đi sâu vào xã hội nước Mỹ

thì có:

1. Pháp sư Tuyên hóa, năm 1959 thành

lập hội Phật giáo Trung Mỹ; năm 1975 sáng

lập Đại học Pháp giới ở chùa Vạn Phật

thành.

2. Pháp sư Tinh vân, năm 1977 sáng lập

chùa Tây lai ở Los Angeles, theo định kì

hàng tuần tổ chức nhóm họp tu tập và giảng

kinh, hoằng pháp.

3. Pháp sư Thánh nghiêm, năm 1977

sáng lập trung tâm Thiền ở New york,

hướng dẫn các thanh niên trí thức Trung

quốc và Mỹ, xuất bản tạp chí Thiền bằng

tiếng Anh.

Ngoài ra, còn có các vị cư sĩ tại gia hoằng

pháp tại Mỹ như: Trần gia Trinh, Ứng kim

Ngọc đường v.v…

Năm 1966, pháp sư Thiên ân truyền Phật

giáo Việt nam đến Mỹ, năm 1970 thành lập

trung tâm Thiền, 1973 sáng lập Đại học

Đông phương.

Năm 1970, Thiền sư Sùng sơn Hạnh

nguyện của Nam hàn đến nước Mỹ, nhằm

vào người Mỹ làm đối tượng chính để truyền

đạo, hiện có 5 trung tâm ở rải rác tại các nơi

trên đất Mỹ.

Năm 1966, tỉ khưu người Tích lan, thuộc

Phật giáo Thượng tọa bộ Nam truyền, sáng

lập Vihara Society of Washington D.C. tại

thủ đô Hoa thịnh đốn. Hiện cũng có vài

ngôi chùa nhỏ của người Thái lan ở California

và ở New york. Còn Miến điện thì có 2

vị U Genka và U Bakhin truyền dạy pháp

môn chỉ quán cho người Mỹ. Năm 1959, có

3 vị Lạt ma truyền Phật giáo Tây tạng vào

nước Mỹ, đó là các ngài:

1. Chogyan Trungpa(Xuyên ba): Đến Mỹ

năm 1970, thành lập Tail of the Tiger ở

Barnet thuộc Vermont, sáng lập Karmadyong

Meditation Center ở Boulder thuộc Colorado.

Hiện nay, đã có mấy mươi chi nhánh,

là Trung tâm phát triển nhanh nhất; ngoài

chức năng truyền dạy Phật pháp, Trung tâm

còn thiết lập các cơ cấu giáo dục và phúc lợi

xã hội.

2. Tarthang Tulka: Đến nước Mỹ năm

1968, năm sau, sáng lập đạo tràng Phật giáo

Tây tạng ở California, là nơi đầu tiên hướng

dẫn người Mỹ tu hành. Năm 1973, sư thành

lập Học viện không có tính cách tông giáo,

mà nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu về

văn hóa, nghệ thuật và y học của Tây tạng.

Năm 1975, sư lại mở thêm trung tâm Odiyan

Tibetan Nyingma Culture Center, trên

khoảng đất rộng 900 mẫu Anh làm nơi cư

trú cho dân Tây tạng tị nạn và giúp cho người

Mỹ tu hành, đồng thời cũng là một nông

trường sản xuất.

3. Kamapa: Lãnh tụ của Bạch giáo, năm

1970 dẫn các đệ tử đến nước Mỹ, sau đó,

một số vị Lạt ma của giáo phái này thiết lập

đạo tràng ở thành phố Nữu ước, đồng thời,

mở 1 học viện ở Gia nã đại. Các đối tượng

tu học Phật giáo Tây tạng phần nhiều là

người Mỹ.

Hiện nay, Mật tông Tây tạng phát triển

rất bồng bột, còn Thiền Trung quốc và

Nhật bản thì có tiềm lực nhiều hơn. Các

Đại học như Berkeley, Harvard,

MỸ QUỐC PHẬT GIÁO

 

M

3173

Wiscounsin, Colombia v.v… đều có phân

khoa Phật học. Những sách về Phật học

hiện giờ được người Mỹ đọc và nghiên cứu

rộng rãi nhất là: Phật pháp dịch tùng của

ông Warren, Ánh sáng Á châu của ông

Edwin Arnold, Giáo thuyết của đức Phật

của ông Paul Carus, kinh Pháp cú của ông

Irving Babbit, Phật giáo của ông Christmas

Humphrey, Giáo nghĩa của đức Phật Đại

bi của ông Burtt và các sách Thiền học của

Suzuki.

[X. Mỹ châu Phật giáo (Thánh nghiêm);

Âu Mỹ Phật giáo chi phát triển (Hiện đại

Phật giáo học thuật tùng san 84)].

MỸ THỰC BẤT TRÚNG BÃO NHÂN KHIẾT

MỸ THỰC BẤT TRÚNG BÃO NHÂN KHIẾT

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Nghĩa là thức ăn dù có ngon bao nhiêu

đi nữa thì cũng không thể làm cho người đã

no bụng thèm muốn. Trong Thiền lâm,

nhóm từ này được dùng để chỉ cho cảnh

giới của người tu hành đã viên mãn.

Tắc 61 trong Bích nham lục (Đại 48, 193

hạ) nói: “Già quê này từ nay chẳng nhướng

mày(ngoài ba nghìn dặm có một người, thức ăn

ngon chẳng hợp người no bụng (Mỹ thực bất

trúng bão nhân khiết))”.

 

 

 
Ý kiến bạn đọc