Chưa có thông tin tác giả

 
 
  • Hội quán thư pháp Thạch Thiện
 
 

Phật Quang Đại Từ Điển – L (1)

 

Xem sách dạng pdf

L

2683

L

LA

LA

..

Cũng gọi: Lạc, Lạt.

Chữ Tất đàm (ra), 1 trong 50 hoặc 42

chữ cái Tất đàm.

Cứ theo phẩm Thích tự mẫu trong kinh

Du già kim cương đính và phẩm Quảng

thừa kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5, thì

chữLanghĩa là tất cả pháp xa lìa nhiễm ô,

trần cấu.

Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 655

thượng), nói: “ChữLanghĩa là tất cả pháp

lìa tất cả trần nhiễm. Tiếng Phạm “La thệ”

nghĩa là trần nhiễm(bụi nhơ); trần là chỗ

tạo tác của vọng tình, tức là sáu tình mắt,

tai, v.v… tạo tác sáu trần sắc, thanh, v.v…

Hễ thấy chữ “La” thì biết hết thảy pháp có

thể thấy, nghe, chạm, biết đều là tướng trần,

cũng như áo sạch bị bụi bặm làm bẩn. Như

bụi trần lăng xăng dấy động, làm cho khoảng

không mờ mịt, mặt trời, mặt trăng không

sáng tỏ, đó là tướng của chữLa”.

Ngoài ra, theo phẩm Văn tự trong kinh

Đại bát niết bàn quyển 8 (bản Nam), thì

La có thể phá trừ 3 độc tham dục, sân

hận và ngu si mà nói pháp chân thực. Lại

theo phẩm Thị thư trong kinh Phương

quảng đại trang nghiêm quyển 4, thì Lalà

tiếng nhàm chán sinh tử, ưa thích Đệ nhất

nghĩa đế.

[X. kinh Phóng quang bát nhã Q.4;

phẩm Tự mẫu kinh Văn thù sư lợi vấn

Q.thượng].

LA

Phạm:Ơa

Cũng gọi Trà.

Là 1 trong 50 chữ cái của mẫu tự Tất

đàm.

Phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi

vấn quyển thượng (Đại 14, 498 trung), nói:

“Ơa là chữ cuối cùng trong 50 chữ cái Tất

đàm, sau chữ này thì các pháp không thể

diễn tả được nữa”.

Kinh Đại bát niết bàn quyển 8 (bản

Nam) (Đại 12, 655 thượng), nói: “Ơa nghĩa

là ma, vì vô lượng ác ma không thể phá

hủy kho tàng bí mật của Như lai nên gọi là

Ơa. Lại nữa, vì thị hiện tùy thuận thế gian

mà có cha mẹ, vợ con nên gọi làƠa”.

Chữmàra, trong tiếng Phạm không có

chữƠa, nhưng trong kinh Phệ đà thì dùng

chữƠa, có khi biến hóa thànhLa. ChữLa

này chính là từra (trongmàra) chuyển

hóa mà thành.

 

L

2684

LA

Cũng gọi Ha.

Là chữ (la) trong 50 hoặc 42 chữ cái

của tự mẫu Tất đàm.

Phẩm Quảng thừa trong kinh Đại phẩm

bát nhã quyển 5 và phẩm Học tập kĩ nghệ

trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 11, cho

rằng chữ La trong tiếng Phạmlatàcó nghĩa

là ái(yêu thương); khi hành giả Chân ngôn

đọc chữLanày có thể dứt tất cả sự trói buộc

của ân ái sinh tử.

Tứ thập nhị tự quán môn trong kinh Hoa

nghiêm cũng nói, khi xướng chữLa thì vào

cửa Bát nhã ba la mật thanh tịnh, giác ngộ

tất cả pháp, ra khỏi thế gian, nhân duyên ái

nhiễm không còn hiện khởi.

Luận Đại trí độ quyển 48, giải thích chữ

La trong tiếng Phạm Laghunghĩa là khinh

(nhẹ); tức là khi nghe chữ La thì biết tất cả

pháp xa lìa tướng khinh trọng.

Còn phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du

già kim cương quán đính và phẩm Cụ duyên

trong kinh Đại nhật quyển 2, thì cho rằng

chữ La trong tiếng PhạmLakwaịacó nghĩa

là hình tướng, tức là tất cả pháp, tất cả tướng

đều bất khả đắc.

Ngoài ra, phẩm Văn tự trong kinh Đại

bát niết bàn quyển 8 (bản Nam) thì nói, La

là Thanh văn thừa, chuyển động không

ngừng, Đại thừa an định bất động, xả bỏ

Thanh văn thừa mà tinh tiến tu tập pháp

Đại thừa vô thượng.

[X. phẩm Quán trong kinh Quang tán

bát nhã Q.7; phẩm Tự mẫu trong kinh Văn

thù sư lợi vấn Q.thượng; Đại nhật kinh sớ

Q.7]. (xt. Tất Đàm Ngũ Thập Tự Môn).

LA BÀ

…. .

Phạm:Lava.

Cũng gọi Lạp phược, La dự, La dư.

Đơn vị tính thời gian của Ấn độ.

Cứ theo luận Câu xá quyển 12, thì 120

sát na (Phạm:Kwaịa) là 1 đát sát na (tatkwaịa),

60 đát sát na là 1 La bà, 30 la bà là

1 Tu du (muhùrta), 30 tu du là 1 ngày đêm.

[X. luật Ma ha tăng kì Q.17].

LA BÀ HÊ ĐÀ THỤ

Tên cây ở Ấn độ đời xưa.

Cứ theo luật Tứ phần quyển 12, thì đức

Phật đã từng ngăn cấm các tỉ khưu rang hột

của cây La bà hê đà để ăn, nếu ăn thì phạm

tội Đột cát la (tội nhẹ).

Tuy luật Tứ phần nêu tên La bà hê đà

như trên, nhưng cho đến nay người ta vẫn

chưa xác định được nó là loại cây gì. Trong

Tứ phần luật sớ quyển 9, ngài Trí thủ cho

rằng La bà hê đà tức là cây Bối đa.

LA BỐ LÂM CA

………..

Khu vườn ở bắc ngạn sông Lạp tát, ngoại

ô thành phố Lhasa, thủ đô của Tây tạng.

La bố, tiếng Tây tạng có nghĩa là bảo

bối; Lâm ca nghĩa là vườn rừng. La bối lâm

ca tức là vườn Bảo bối; cũng được dịch là

Trân châu uyển(vườn châu báu).

Năm Càn long 20 (1755) đời Thanh, Đạt

lai Lạt ma đời thứ 7 thiết lập khu vườn này

La Bối Lâm Ca

LA BỐ LÂM CA

 

L

2685

làm nơi nghỉ ngơi trong mùa hạ. Về sau,

khu vườn được mở mang rộng thêm và trở

thành Hạ cung của các vị Đạt lai Lạt ma.

Diện tích của khu vườn này là khoảng

360.000

mét

vuông,

b ê n

trong

có Tân

cung,

là nơi

các vị

Đạt lai

Lạt ma

giảng

kinh.

LA CA LĂNG (?-?)

……..

Người phụ nữ nổi tiếng ở Thượng hải,

Trung quốc.

Do chịu ảnh hưởng của các ông Khang

hữu vi, Chương thái viêm, Địch sở khanh,

v.v…, bà đã dốc sức làm việc Phật. Bà thỉnh

Pháp sư Tông ngưỡng chủ trì việc sắp chữ

in tạng kinh Tần già, lần đầu tiên ở Trung

quốc, Đại tạng kinh được in bằng lối sắp

chữ, hết 4 năm công việc mới được hoàn

thành. Sau đó, bà lại xin Pháp sư thiết kế

kiến tạo thế giới Cực lạc trong vườn hoa

Cáp đồng đúng như thế giới Cực lạc được

miêu tả trong kinh A di đà. Đây là một thắng

cảnh của Phật giáo ở Thượng hải. Rồi bà

thỉnh Pháp sư Nguyệt hà mở Đại học Hoa

nghiêm tại khu vườn này, tuy hoạt động

không được bao lâu, nhưng là trường Đại

học Phật giáo đầu tiên ở Thượng hải.

LA HÁN ĐƯỜNG

Ngôi nhà thờ 16 hoặc 500 vị La hán.

Bắt đầu từ thời Bắc Tống ở Trung quốc,

trong các chùa Thiền tông, Thiên thai tông

đều có thiết lập La hán đường.

Cứ theo Thích thị kê cổ lược quyển 4,

vào năm Hi ninh thứ 10 (1077) đời Bắc

Tống, tượng của vị La hán thứ 13 trong 500

vị La hán thờ ở Sơn môn (cửa Tam quan)

chùa Tướng quốc được rước vào cung vua

để cúng dường. Tại Nhật bản cũng rất thịnh

hành La hán đường.

LA HÁN GIẢNG

……..

Cũng gọi La hán cúng, La hán hội, La

hán bái.

Pháp hội cúng dường, tán thán công đức

của bậc La hán. Một trong 4 Tòa giảng.

Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 33, thì

lúc vào Niết bàn, đức Phật từng dặn dò 16

vị A la hán làm ruộng phúc cho các thí

chủ. Các bậc A la hán ấyvâng lời đức Phật

dạy, dùng thần thông kéo dài tuổi thọ. Nếu

có thí chủ cung thỉnh chư tăng 4 phương

mở hội Vô già nơi mình ở hoặc ở trong

chùa, các bậc La hán cùng các quyến thuộc

chia nhau đến tham dự, nhưng che giấu

Thánh nghi, kín đáo nhận của cúng dường,

khiến các thí chủ được quả báo thù thắng.

Đây là nguồn gốc của pháp hội cúng dường

La hán.

Pháp hội này từ xưa đã lưu hành rộng

rãi ở các chùa tại Trung quốc. Như trường

hợp Thiền sư Thúy vi Vô học đời Đường đã

cử hành pháp hội Cúng dường La hán.

Tại Nhật bản, từ thời đại Liêm thương

về sau, mỗi tháng, vào ngày mồng 1 và rằm

đều có cử hành pháp hội cúng dường La

hán trong các chùa thuộc tông Tào động.

[X. điều Thúy vi Vô học trong Cảnh đức

truyền đăng lục Q.14; Lâm an phủ Kính sơn

Hưng thánh vạn thọ thiền tự ngữ lục kiến

hội thướng đường trong Mật am Hàm kiệt

thiền sư ngữ lục Q.thượng; môn Cúng tế

trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Bức tranh Công chúa Văn thành vào Tây tạng

ở Tân cung

LA HÁN GIẢNG

 

L

2686

LA HÁN HÀI

……..

Loại giày của chúng tăng sử dụng.

Có nhiều loại: Hoặc bện bằng cỏ, hoặc

may bằng vải, hoặc khâu bằng da, mặt giày

trừ phần mũi ra, còn đều có lỗ vuông, cũng

có khi không để lỗ. Về màu sắc thì có màu

đen, màu xám tro, màu vàng, màu hạt dẻ, v.v…

Khi đức Phật còn tại thế, Ngài đã cho phép

chúng tăng mang giày. Cứ theo kinh Ương

quật ma la quyển 4, tỉ khưu có thể mang

giày làm bằng da bò.

Cứ theo Thích môn qui kính nghi quyển

hạ, tại Ấn độ, khi chúng tăng vào tham yết

bậc tôn trưởng, phải cởi giày để làm lễ. Ngoài

giày ra, chúng tăng cũng được phép mang bí

tất khi trời lạnh.

[X. luật Ngũ phần Q.16; luật Tứ phần

Q.16; điều Trang bao trong Sắc tu Bách

trượng thanh qui Q.5; điều Nhật dụng quĩ

phạm trong Sắc tu Bách trượng thanh qui

Q.6; môn Phục chương trong Thiền lâm

tượng khí tiên].

LA HẦU LA

I. La Hầu La.

Phạm:Ràhula.

Cũng gọi La hộ la, La hỗ la, La hống la,

Hạt la hỗ la, La vân.

Hán dịch: Phú chướng (ngăn che),

Chướng nguyệt(che mặt trăng), Chấp nhật

(nắm giữ mặt trời).

Vị A la hán mật hạnh đệ nhất, là 1 trong

10 vị đệ tử lớn của đức Phật.

Thân phụ Ngài là Thái tử Tất đạt đa(tức

là đức Phật khi chưa xuất gia), thân mẫu là

Da du đà la. Khi sinh Ngài nhằm lúc La hầu

la a tu la vương lấy tay che mặt trăng, nên

đặt tên là Chướng nguyệt; lại vì ở trong thai

mẹ 6 năm, bị thai mẹ che lấp, nên có tên là

Chướng nguyệt, Phú chướng.

Còn về người sinh ra Ngài thì các kinh

nói cũng khác nhau, có thuyết cho là bà Cù

di, có thuyết cho là bà Da du đà la.

Cứ theo kinh Vị tằng hữu nhân duyên

quyển thượng, thì đức Phật thành đạo sau 6

năm mới trở về thành Ca tì la vệ độ cho La

hầu la xuất gia thụ giới, y vào tôn giả Xá lợi

phất làm Hòa thượng và tôn giả Mục kiền

liên làm A xà lê. Ngài là vị Sa di đầu tiên

trong giáo đoàn của đức Phật. Lúc còn là Sa

di, Ngài làm nhiều điều không đúng pháp,

được đức Phật răn dạy, phải nghiêm giữ giới

luật, tinh tiến tu hành, sau Ngài chứng được

quả A la hán.

Cứ theo Đại

A la hán Nan đề

mật đa la sở

thuyết pháp trụ

kí, thì Ngài được

liệt vào vị trí thứ

11 trong 16 vị A

la hán, cùng với

1100 vị A la hán

quyến thuộc cùng

ở tại châu Tất lợi

dương cù (Phạm:

Priyaígu), giữ

gìn chính pháp, làm lợi ích hữu tình.

[X. kinh Tạp a hàm Q.1, 8; kinh Phật

bản hạnh tập Q.55; kinh Thập nhị du; luật

Tứ phần Q.11; Chú duy ma cật kinh Q.3;

Pháp hoa huyền tán Q.1].

II. La Hầu La.

Gọi đủ: La hầu la bạt đà la.

Tổ phó pháp thứ 16 của Thiền tông

Ấn độ.

(xt. La Hầu La Bạt Đà La).

LA HẦU LA A TU LA

Phạm:Ràhuasura.

Gọi tắt: La hầu a tu la.

Hán dịch: Chướng nguyệt; Chấp nhật.

LA HẦU LA A TU LA

Ngài La Hầu La

 

L

2687

Khi đánh nhau với trời Đế thích, A tu la

vương dùng tay che ánh sáng của mặt trời

mặt trăng, cho nên có tên là Chướng nguyệt.

Là 1 trong 4 loại A tu la vương.

Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 18

đến quyển 21 có nói rõ chỗ ở, cung điện,

vườn hoa, người hầu, thể nữ, nghiệp nhân

và thọ mệnh của 4 Đại A tu la vương. Theo

đó, thì La hầu la A tu la vương này ở trong

thành Quang minh, tầng đất thứ 1 dưới

đáy biển, thân hình to lớn bằng Tu di sơn

vương. Thành Quang minh rộng 8.000 do

tuần, vườn rừng phòng xá đều được trang

hoàng bằng các thứ báu. Khi A tu la vương

đưa tay che ánh sáng mặt trời thì thành

nhật thực, che ánh sáng mặt trăng thì thành

nguyệt thực.

Còn về nghiệp nhân, trong đời quá khứ,

khi còn là 1 người Bà la môn, trông thấy

tòa tháp bị cháy liền dập tắt lửa vì thế tòa

tháp không bị hư hại, nhờ phúc đức ấy mà

được quả báo thân hình to lớn. Nhưng vì

không tin chính pháp, chẳng chính tư duy,

chẳng tu chính nghiệp, thường thích đánh

nhau cho nên sau khi chết bị rơi vào đường

A tu la.

[X. phẩm A tu la kinh Khởi thế Q.5].

LA HẦU LA BẠT ĐÀ LA

Phạm: Ràhulabhadra.

Gọi tắt: La hầu la đa, La hầu la.

Sư là người nước Ca tì la thuộc Ấn độ,

họ Phạm ma, sống đồng thời với ngài Long

thụ, là Tổ phó pháp thứ 16 của Thiền tông

Ấn độ.

Tuổi niên thiếu, sư xuất gia ở chùa Na

lan đà, y vào ngài Hắc giả (Tạng:Nag-po)

thụ giới Cụ túc, học Thanh văn thừa. Sau,

sư theo ngài Vô phân biệt giả (Tạng:Rnampar

mi rtog-pa) học Đại thừa và Mật thừa,

đồng thời, thông suốt tông nghĩa Trung

quán. Sư thị giả tổ thứ 15 là Ca na đề bà,

chứng được lí

“giai không” và

được truyền tâm

ấn. Sau khi tổ Đề

bà viên tịch, sư kế

thừa Pháp tọa của

Ngài, giáo hóa

tăng chúng ở

chùa Na lan đà.

Sau, sư phó pháp

cho ngài Tăng già

nan đề.

[X. Trung quán luận sớ Q.3 phần đầu;

Cảnh đức truyền đăng lục Q.2; Bảo lâm

truyện Q.3; Ấn độ triết học nghiên cứu Q.1].

LA HỒ DàLỤC

Tác phẩm, 2 quyển, do sư Hiểu oánh

soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục

tạng tập 142.

Nội dung sách này gồm có gần 100 thiên,

ghi chép các công án Thiền môn đương thời

và những cơ phong ngữ cú của sư gia, cùng

những câu chuyện có thực của các vị tăng

tục nên rất có giá trị lịch sử. Từ xưa, bộ sách

này rất quan trọng trong chốn tùng lâm, là

kim chỉ nam cho những người học. Nó được

liệt vào 1 trong 7 bộ sách quí của Thiền môn.

Sư Hiểu oánh là đệ tử nối pháp của ngài

Đại tuệ Tông cảo, sư từng đi tham vấn khắp

các tùng lâm. Lúc về già, sư ẩn cư tại La hồ,

Lâm xuyên, tỉnh Giang tây để soạn bộ sách

này, vì thế nên tác phẩm mang tên La hồ

dã lục.

[X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.20; Đại

minh cao tăng truyện Q.8; Tục truyền đăng

lục Q.32].

LA HỘC

Một thứ vải lụa mà ta thường gọi là sa,

the, rất mỏng. Trong Phật giáo, nó được

LA HỘC

La Hầu La Bạt Đà La

 

L

2688

dùng để ví dụ cho phiền não rất nhỏ nhiệm,

tinh vi.

Tổ đình sự uyển quyển 1 (Vạn tục 113,

3 hạ), chép: “Hoa nghiêm kinh sớ nói: Trí

của Bồ tát khác với trí của Phật, như người

mắt sáng nhìn thấy cảnh tượng qua lớp the

mỏng. Nghĩa là sự thấy tính của Bồ tát và

Phật không giống nhau”.

Lâm quang lục quyển thượng (Vạn tục

148, 298 thượng), nói: “Đến như bậc Thánh

Thập địa thuyết pháp như mây, như mưa

mà còn bị Phật quở trách là thấy tính còn

cách 1 lớp the mỏng(la hộc)”.

LA CẬT SÁI

Phạm: Lakwaịa.

Cũng gọi La khất tiêm noa.

Hán dịch: Tướng(hình tướng của sự vật),

đặc trưng.

Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 655

thượng), ghi: “Tiếng Phạm: La cật sái, Hán

dịch là Tướng. (…) Các pháp tuy vô thường,

vô ngã, nhưng mỗi mỗi đều có tướng. Như

đất thì cứng chắc, nước thì ẩm ướt, lửa thì

nóng, gió thì động, v.v… Xả là tướng của sự

bố thí, không hối hận, không phiền não là

tướng của sự trì giới. (…) Không tạo tác là

tướng của Niết bàn”.

LA MA

…..

Phạm:Ràma.

I. La Ma.

Nhân vật chủ chốt trong thiên Anh hùng

ca La ma da na (Phạm: Ràmàyaịa) của Ấn

độ thời xưa, là con trưởng của Quốc vương

Đạt tát lạp tháp (Phạm:Dazaratha) nước

Kiêu tát la (Phạm:Kauzala), bị đuổi vào

rừng trong 14 năm, vợ là Tư đa (Phạm:Zìtà)

đi theo, giữa đường bị ma vương bắt mất,

do đó đưa đến chiến tranh. Sau nhờ sự giúp

đỡ của thần khỉ (Phạm:Hanumat) vợ chồng

mới được đoàn tụ và trở về làm vua nước

Kiêu tát la.

Cứ theo truyền thuyết, La ma là hóa thân

lần thứ 7 của thần Tì thấp nô, do nhận sự

ủy thác của các thần, sinh xuống nhân gian

để hàng phục ác quỉ. La ma cùng với Tư đa

mở ra cuộc sống oai hùng xán lạn ở nhân

gian, thể hiện tư tưởng vừa có tính luân lí

lại vừa có tính lãng mạn của Ấn độ cổ đại.

Sau, La ma trở thành một nhân vật điển

hình cao nhất được toàn thể dân tộc Ấn độ,

nhất là giới Vương tộc, Vũ sĩ, sùng bái như

vị thần được nhân cách hóa.

Bởi vì người Ấn độ coi La ma là 1 vị anh

hùng dân tộc cũng coi đó là hóa thân của

thần Tì thấp nô, là đấng “Phạm” tối cao

thường trụ, cho nên lại càng tôn kính để rồi

sau đã hình thành 1 phái trong Ấn độ giáo,

gọilàphái La ma. Giáo lí của phái này được

xác lập vào khoảng thế kỉ XIII, XIV Tây lịch

dựa trên bộ sáchAdhyàtmaràmàyaịa. Phái

này chủ yếu thịnh hành ở miền Nam Ấn độ,

sau do La ma nan đà truyền bá ở miền Bắc.

[X. kinh Tạp bảo tạng Q.1; kinh Lục độ

tập Q.5; kinh Đại thừa nhập lăng già Q.7;

kinh Phật bản hạnh tập Q.7].

II. La Ma.

Tên vị thần trong Ấn độ giáo. Là một

dũng sĩ xuất thân từ dòng Bà la môn, chuyên

cầm một cây búa lớn nên gọi là Trì phủ La

ma (Phạm: Parazuràma,La ma cầm búa).

Tương truyền, vị thần này là hóa thân lần

thứ 6 của Tì thấp nô (Phạm:Viwnu).

III. La Ma.

Anh của vị trời Cát lật sắt noa (Phạm:

Kfwịa,Hắc thiên), vị trời này thường dùng

lưỡi cày làm vũ khí nên gọi là Đại lực la ma

(Phạm:Balaràma).

LA MA DA NA

………..

Phạm:Ràmàyaịa.

Cũng gọi La ma diễn na.

LA MA DA NA

 

L

2689

Hán dịch: La ma du kí, La ma truyện, La

ma bình sinh, La ma sở hành truyện.

Đại tự sự thi tiếng Phạm của Ấn độ

đời xưa, do thi nhân Ngõa lặc mễ kì

(Phạm:Vàlmìki), phỏng theo những đề

tài thần thoại, truyền kì mà biên soạn

thành vào khoảng thế kỉ V đến thế kỉ III

trước Tây lịch.

Toàn bộ sách có 7 thiên, 24.000 bài

tụng, nhưng bản đã được hiệu đính kĩ lưỡng

thì chỉ còn trên 19.000 bài tụng. Mỗi bài

tụng có 2 hàng, mỗi hàng có 16 âm tiết.

Trong 7 thiên thì thiên thứ 1 và thứ 7 có lẽ

là ngụy tác được phụ thêm vào khoảng thế

kỉ II Tây lịch.

Nội dung viết về cuộc đời Vương tử La

ma nước Kiêu tát la, vì Vương hậu ghen ghét

nên bị đuổi đi suốt 14 năm, do đó mà mở ra

cuộc sống anh dũng, mạo hiểm. Lấy tình

yêu giữa La ma và vợ là Tư đa làm trung

tâm, cùng với tình bạn của người em là La

thập mạn na (Phạm: Lakwmaịa), sự trung

thành của thần khỉ Cáp nô man và hành

động hung bạo của Ma vương La phạt noa

(Phạm:Ràvaịa), v.v… đã tạo thành một

sắc thái thần thoại và truyền kì rất sâu đậm.

Nhờ thi phẩm này mà La ma đã được

toàn dân Ấn độ sùng bái như 1 vị anh hùng

dân tộc, đặc biệt được giáo phái Tì thấp nô

cung kính, coi như hóa thân của thần Tì

thấp nô. Sử thi này được lưu truyền ở lưu

vực sông Hằng, Nam Ấn độ, đến đảo Tích

lan, có ảnh hưởng rất lớn đối với văn học,

nghệ thuật Ấn độ và vùng Đông Nam Á.

[X. H. Jacobi: Das Ràmàyaịa, 1893;

Baumgartner: Das Ràmàyaịa und die

Ràmaliteratur der Inder, 1894; V.

Fausbôll: Indian mythology, 1902; E.W.

Hopkins: Epic mythology, 1915].

LA MA GIÀ

Hán dịch: Nhập pháp giới.

Là dịch âm tiếng Phạm của phẩm Nhập

pháp giới trong kinh Hoa nghiêm.

La, nghĩa là xa lìa sự cáu bẩn; Ma, nghĩa

là chuyển biến; Già, nghĩa là hợp nhất. Tức

là xa lìa cáu bẩn, hướng đến thế giới trong

sạch. Còn hợp nhất nghĩa là nhập(vào).

Ngoài ra, kinh La ma già (3 quyển) do

ngài Thánh kiên dịch vào đời Tây Tấn là

bản dịch khác của phẩm Nhập pháp giới

kinh Hoa nghiêm.

[X. Hoa nghiêm huyền đàm Q.8].

LA MA KHẮC LỢI TU NA (1834-1886)

……………..

Phạm: Ramakrishna Paramahansa.

Cũng gọi Lạp khắc lợi tu na.

Vốn tên là Gadàdhar Chatterji,

Cattopàdhyàya.

Nhà cải cách tông giáo của Ấn độ thời

cận đại, Ông xuất thân trong 1 gia đình Bà

la môn nghèo ở vùng Bengal, có niềm tin

rất nhiệt thành đối với nữ thần Già lê (Phạm:

Kàlì). Ông từng tu hành trong rừng rậm 12

năm, thể chứng tam muội khế hợp với Thần.

Ông còn tu Du già, thoát li trần tục, đổi tên

là La ma khắc lợi tu na(người học thức sâu

rộng, vượt ra ngoài thế tục).

Ông từng so sánh tư tưởng Hồi giáo, Cơ

đốc giáo với tư tưởng Âu tây cận đại, rồi kết

luận rằng: “Tất cả chỉ là khác đường nhưng

LA MA KHẮC LỢI TU NA

Một trong những bức tranh vẽ sự tích La Ma Da Na

 

L

2690

cùng đi đến 1 mục đích”. Nghĩa là tôn chỉ

tối cao của tông giáo đều là chân lí, đều đạt

đến chỗ hợp nhất với thần, nếu có khác nhau

thì chỉ là hình thức, tên gọi, sự lựa chọn và

con đường đi tới mà thôi. Từ lập trường bao

dung này ông chủ trương “Tông giáo nhân

loại” và đề xuất 6 đặc điểm sau đây:

1. Tất cả tông giáo đều là chân và thiện.

2. Thần là phi nhân cách, không thể biết,

phi lí luận, trùm khắp vũ trụ; linh hồn của

nhân loại tức là thần thánh chân chính.

3. Sùng bái hình tượng là 1 hình thức

sùng bái tinh thần toàn thiện.

4. Mỗi yếu tố của Ấn độ giáo đều có giá

trị của nó, không thể sửa đổi một cách khinh

suất được.

5. Dân tộc Ấn độ kế thừa di sản văn

hóa tinh thần cổ xưa nhất, vượt cả thuyết

vô lí tính của Âu tây hiện nay và không

bao lâu sẽ lãnh đạo văn hóa tinh thần của

toàn thế giới.

6. Nền văn minh vật dục lợi kỉ của Âu

Mĩ khiến con người sa đọa, dân tộc Ấn độ

nên giữ gìn nền văn hóa và tông giáo của

mình, đồng thời tiếp thu rộng rãi văn hóa

và giáo dục của Âu tây có chắt lọc để cùng

đưa thế giới đến lí tưởng đại đồng.

Sau khi ông qua đời, đệ tử của ông gom

chép những lời dạy của ông mà biên tập

thành bộ La ma khắc lợi tu na ngữ lục gồm

4 thiên. Về sau, người đệ tử lớn của ông là

Vivekànandathừa kế chí của thầy mình,

vào năm 1897 sáng lập Hội truyền đạo La

ma khắc lợi tu na (The Ramakrishna Mission),

nhằm thực hiện được lí tưởng “Tông

giáo nhân loại” của ông.

LA MA KHẮC LỢI TU NA NGỮ LỤC

Sayings of Sri Ramakrishna

Cũng gọi La ma khắc lợi tu na phúc âm.

Ngữ lục của ông Ramakrishna do Hội

truyền đạo La ma khắc lợi tu na biên tập và

ấn hành, là tư liệu duy nhất để nghiên cứu

tư tưởng của Khắc lợi tu na.

Nội dung gồm 1120 hạng mục được chia

làm 4 thiên: Nhân loại và thế giới, Hướng đi

lên của nhân loại, Nhân loại và Thần cách,

Châm ngôn và Thí dụ.

[X. Mahendranath Gupta: The Gospel

of Sri Ramakrishna (in Bengali) 1912; Max

Müller: Ramakrishna, his Life and Sayings].

LA MẠN NA PHÁI

Pàli:Ràmaĩĩa-nikàya.

Cũng gọi Lam man nặc phái, Mông tộc

phái.

Tông phái Phật giáo thuộc Nam truyền

Thượng tọa bộ ở Tích lan doAmbagahawatta

indasabha, thuộc phái A ma la phổ la sáng

lập. Là 1 trong 3 tông phái lớn của Phật giáo

Tích lan.

Vì bất mãn với sự hạn chế về chủng tính

trong việc thụ giới trong giáo đoàn, nên tỉ

khưu Ambagahawatta indasabha mới đến

vùng La mạn na của Miến điện sáng lập ra

phái này. Năm 1864, phái này từ hạ Miến

điện truyền vào Sri Lanka, có khoảng hơn

2000 tỉ khưu. Chùa viện chủ yếu của phái

này hiện nay ở vùng phụ cận Ca lô tháp lạp

ở Sri Lanka.

Hệ thống tổ chức của phái này là trên

hết có 1 vị Đại trưởng lão làm chủ tịch,

thống lãnh chúng tăng bản phái trong toàn

quốc, dưới có 4 vị phó chủ tịch, kế đó

chia làm 2 ban: Sự vụ nghị hội và Tăng

già nghị hội. Phái này qui định tỉ khưu

xuất gia trọn đời, không thực hành chế

độ xuất gia trong thời gian ngắn, hơn nữa,

người xuất gia không phân biệt chủng tộc,

hòa hợp đoàn kết, giới luật tinh nghiêm;

khi đi ra phải cầm lá đa la(lá bối)để che

nắng; không được đi vào đền thờ của người

Ấn độ giáo và tham dự nghi lễ của họ;

không được đến lễ bái chùa Phật nha(chùa

LA MẠN NA PHÁI

 

L

2691

thờ răng của đức Phật)ở thành phố Khảm

để(Kandy); không được bố thí cho các tỉ

khưu thuộc giáo phái khác, không tin thờ

bất cứ vị thần linh nào khác ngoài đức

Phật Thích ca mâu ni.

Tăng chúng phái này rất sùng thượng

học vấn nên đã sản sinh khá nhiều bậc

thạc học. Về sau, phái này chia ra làm 3

chi phái là: A lặc sa (Akuresa), Am nhĩ

yết lợi ngõa (Elgiriva) và Khả luân pha (Colombo).

LA NGỘ KHÔNG (1442-1527)

……..

Cũng gọi: La nhân, La thanh, La tĩnh,

La thanh am, tự Hoài thanh, Ái tuyền, hiệu

Vô vi cư sĩ, Tĩnh khanh, Mạnh hồng, Nhất

thanh đạo nhân, pháp hiệu Phổ nhân, người

Lao sơn, Tức mặc, tỉnh Sơn đông, Trung

quốc. Là vị Khai tổ của Vô vi giáo, sống vào

cuối đời Minh đầu đời Thanh.

Sư mồ côi từ thủa nhỏ, 3 tuổi cha qua

đời, 7 tuổi mất mẹ, nhờ được chú là La khuê

nuôi nấng, đốn củi mưu sinh, nếm đủ mùi

đắng cay nhân thế. Năm 14 tuổi sư thay thế

cho chú đi theo quân dẹp loạn người Vu ở

Vân vệ. Sau khi xuất ngũ về làng, có chí

xuất thế, liền qui y Phật pháp.

Mới đầu, sư tu theo pháp môn Tịnh độ,

niệm Phật 8 năm, tự cảm thấy không khế

hợp, bèn chuyển sang nghiên cứu khoa nghi

Kim cương bát nhã và đi tham vấn khắp

nơi. Sau, sư đến động Bạch vân ở núi Cửu

hoa tại phủ Trì châu lễ ngài Lí đầu đà thuộc

tông Lâm tế làm thầy, được ban cho pháp

danh là Chân tuệ, hiệu Ngộ không. Từ đó,

ngày đêm sư chuyên tâm tinh tiến tọa thiền.

Năm 41 tuổi(có thuyết nói 52 tuổi, hoặc 67

tuổi)sư thấu suốt pháp môn tâm địa, tỏ ngộ

được thực tướng các pháp.

Sau, sư căn cứ vào tư tưởng kinh Kim

cương bát nhã tuyên dương pháp vô vi giải

thoát, hoằng truyền tông phong tự học thanh

tu, có khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa.

Đầu tiên, sư đến Bắc kinh hóa độ nhóm

các ông Lưu mộc thông, v.v… pháp duyên

rất thịnh, từng được vua Vũ tông nhà Minh

ban hiệu là “Tề Thiên Đại Đức Hộ Quốc

Chân Nhân” và được thỉnh thuyết pháp ở

điện Kim loan. Không bao lâu, vì số người

tin theo sư quá đông, bị ghen ghét và sàm

tấu, nên sư bị bắt giam mấy năm. Sau khi ra

tù, sư đến Bắc kinh kiến lập đạo tràng bạch

y. Sư mất vào năm Gia tĩnh thứ 6.

Sư có các tác phẩm: Khổ công ngộ đạo,

Thán thế vô vi, Phá tà hiển chính thược

thỉ, Chính tín trừ nghi tự tại, Ngộ đạo hành

cước kí.

LA PHÙ SƠN

……..

Núi ở phía tây bắc huyện Bác la, phía

đông Quảng châu, tỉnh Quảng đông, Trung

quốc.

Núi này dài hơn 280 cây số, có hơn 400

ngọn, thắng cảnh ở vùng Lĩnh nam, nổi tiếng

thiêng liêng linh dị. Trong núi có rất nhiều

chùa viện Phật giáo và nhà thờ của Đạo giáo.

Cứ theo Thái bình ngự lãm quyển 41, thì

La phù là tên gọi chung 2 núi La sơn và Phù

sơn, chính nơi đây ông Cát hồng đời Tấn đã

được đạo tiên và nhà văn Tạ linh vận làm

bài phú La phù sơn rất nổi tiếng.

Về phương diện lịch sử Phật giáo, tương

truyền, vào đời Đông Tấn, sa môn Đơn đạo

khai ở Đôn hoàng là người đầu tiên đến núi

La phù. Về sau, chư tăng đến đây ngày càng

đông, như các ngài: Chi pháp phòng, Tăng

cảnh, Đạo tiệm, Tuệ viễn, Tuệ trì, v.v…

Đời Lưu Tống thuộc Nam triều, có ngài

Tuệ lãm trụ trì chùa Thiên cung, đời Lương,

ngài Trí dược sáng lập chùa Bảo tích ở núi

này. Ngoài ra còn có các chùa Diên tường,

Nam lâu, Long hoa, Tư phúc, Hoa thủ, Hoa

nghiêm, Đại từ, Diên khánh, v.v… và các vị

danh tăng các đời như: Hi thiên, Duy

LA PHÙ SƠN

 

L

2692

nghiễm, Đại điên, Hạnh minh, v.v… đều đã

từng chú tích núi này.

[X. La phù chí (do Trần liễn soạn vào

đời Minh, Trần bá đào đời Thanh bổ sung

thêm)].

LA SÁT

…..

Phạm:Ràkwasa.

Cũng gọi La sát sa, La xoa sa, La khất sát

sa, A lạc sát sa.

Hán dịch: Khả úy, Tốc tật quỉ, Hộ giả.

Nữ tính thì gọi: La sát nữ, La xoa tư

(Phạm:Ràkwasìcũng gọi La sát tư).

Loại ác quỉ trong thần thoại Ấn độ, thấy

được ghi sớm nhất trong Lê câu phệ đà.

Tương truyền, La sát vốn là tên gọi thổ

dân Ấn độ, sau khi người Nhã lợi an (Aryan)

chinh phục Ấn độ, La sát bèn trở thành 1

đại danh từ chỉ cho kẻ ác, diễn biến dần

dần được dùng làm tên gọi chung cho loài

ác quỉ.

Nam La sát có thân hình màu đen, tóc

đỏ, mắt xanh, nữ La sát thì giống như người

đàn bà tuyệt đẹp, đầy sức quyến rũ, chuyên

ăn máu thịt loài người. Tương truyền, ở

trong đảo Lăng già (tức Tích lan), có cõi

nước của nữ La sát. Loài quỉ này được ghi

trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 49,

Hữu bộ tì nại da quyển 47 và Tuệ lâm âm

nghĩa quyển 7, v.v…

Quỉ La sát có sức thần thông có thể bay

nhanh ở trong hư không hoặc lướt nhanh

trên mặt đất, hung ác đáng sợ. La sát cũng

còn chỉ cho loại ngục tốt ở địa ngục, phụ

trách việc trừng phạt tội nhân. Cũng gọi là

A bàng, A bàng la sát, A phòng, Bàng. Hình

dáng của loài quỉ này, hoặc là đầu trâu tay

người, hoặc có móng chân trâu, hoặc là người

đầu nai, đầu dê, đầu thỏ, v.v…

Ngoài các loại ác La sát nói trên, trong

các kinh còn ghi 1 loại La sát là thần thủ hộ

của Phật giáo, gọi là La sát thiên, là 1 trong

12 vị trời. Những La sát này có hình dáng

Thần vương, mình mặc áo giáp, đầu đội mũ

sắt, tay cầm dao, cỡi sư tử trắng. Lại như 10

nữ La sát được nói trong phẩm Đà la ni kinh

Pháp hoa cũng đều là thần Thủ hộ…

[X. kinh Kim quang minh tối thắng

vương Q.6; luận Đại trí độ Q.16; Tuệ lâm

âm nghĩa Q.25; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ;

Đại đường tây vực kí Q.11].

LA SÁT NHẬT

Chỉ cho các ngày xấu. Nếu làm bất cứ

việc gì vào những ngày đó cũng đều gặp trở

ngại, khó thành tựu được.

Theo kinh Tú diệu quyển hạ, có 7 ngày

La sát là:

1. Thái dương trực nhật: Trong ngày

này, mặt trăng hợp với sao Mạo.

2. Thái âm trực nhật: Trong ngày này,

mặt trăng hợp với sao Quỉ.

3. Hỏa diệu trực nhật: Trong ngày này,

mặt trăng hợp với sao Dực.

4. Thủy diệu trực nhật: Trong ngày này,

mặt trăng hợp với sao Sâm.

5. Mộc diệu trực nhật: Trong ngày này,

mặt trăng hợp với sao Để.

6. Kim diệu trực nhật: Trong ngày này,

mặt trăng hợp với sao Khuê.

7. Thổ diệu trực nhật: Trong ngày này,

mặt trăng hợp với sao Liễu.

LA SÁT QUỐC

Phạm:Ràkwasì-dvìpa.

Chỗ ở của quỉ La sát ăn thịt người.

Phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa (Đại 9,

56 hạ), nói: “Nếu có người đi vào biển lớn,

giả sử cuồng phong thổi thuyền bè của người

ấy trôi giạt vào nước quỉ La sát…”

Còn Hữu bộ tì nại da quyển 47 và điều

Tăng già la quốc trong Đại đường tây vực

kí quyển 11, thì chorằngnước nữ La sát

LA SÁT QUỐC

 

L

2693

tức chỉ cho đảo Tích lan(cũng gọi đảo Lăng

già). Thuyết cho đảo Tích lan là chỗ ở của

La sát được bắt nguồn từ sự tích trong

thiên Anh hùng ca Ràmàyaịa của Ấn

độ xưa, trong đó kể rằng, để cứu vợ mình

là Tư đa (Phạm: Zìtà) Thái tử La ma

(Phạm: Ràma) đánh phá đảo Lăng già,

giết chết quỉ vương La sát là La phạt noa

(Phạm:Ràvaịa).

[X. phẩm Ngũ bách tỉ khưu nhân duyên

trong kinh Phật bản hạnh tập Q.49; luận

Đại tì bà sa Q.78].

LA SÁT THIÊN

La sát, Phạm:Ràkwasa,Nairftì.

Hán âm: Niết lí để, Niết lí đế, Nễ lí để.

Vị trời ngồi ở góc tây nam của Kim cương

bộ ngoài trên Mạn đồ la Thai tạng giới và

Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong các vị

trời trấn giữ ở 8 phương, cũng là 1 trong 12

vị trời.

Trong Mạn đồ la Thai tạng giới, thân

hình La sát thiên có màu đỏ, ngồi trên tòa

tròn, mặc áo giáp, mắt có vẻ giận dữ, cánh

tay trái hướng ra ngoài, ngón cái bấm lấy

ngón út và ngón vô danh, còn ngón trỏ

và ngón giữa dựng đứng, tượng trưng cho

Đao ấn(ấn dao); tayphảicầm thanh kiếm,

để ở cạnh sườn, mũi kiếm dựng đứng. Hai

bên, mỗi bên có 2 vị đồng tử. Bên trái La

sát thiên, vị đồng tử phía trước tay trái bưng

bát, tay phải

đặt ở miệng

bát, vị đồng

tử phía sau

mình màu

da người,

tay trái nắm

lại thành

quyền, tay

phải cầm

cây gậy, ngồi

tréo chân, đầu gối bên trái dựng đứng. Bên

phải La sát thiên, phía trước là đồng nữ La

sát, tay nắm lại đặt ở trước eo; phía sau là

đồng nam La sát, thân màu da người, tay

phải cầm cây gậy, tay trái nắm lại thành

quyền, đưa lên ngang tai.

Lại theo Thập nhị thiên cúng nghi quĩ,

thì hình tượng vị trời này mình mặc giáp

trụ, tay phải cầm dao, cỡi sư tử trắng. Ngoài

ra, La sát thiên cai quản phương tây nam, vì

thế nên phương tây nam cũng được gọi là

phương Niết lí để.

[X. Đại nhật kinh sớ Q.5, 10, 14; Cúng

dường hộ thế bát thiên pháp].

LA TẠO Y

Áo ca sa may bằng vải màu đen.

Tạo là màu đen do màu đỏ lợt và đen

thẫm hòa lẫn với nhau mà thành, chứ không

phải màu đen thuần chính. Là 1 trong 3 thứ

hoại sắc.

LA THẬP THÁP

Tháp thờ ngài Cưu ma la thập.

Cũng gọi Đảo ảnh tháp.

Tháp ở trong thành Vũ uy, tỉnh Cam

túc, Trung quốc.

Thành Vũ uy

là nơi ngài Cưu

ma la thập ở dịch

kinh, tuyên dương

Phật pháp trong

17 năm trước khi

ngài được thỉnh về

Trường an vào

thời Tiền Tần.

Tương truyền,

trong tháp có

chôn cái lưỡi của

ngài Cưu ma la

La Sát Thiên thập.

LA THẬP THÁP

Quang cảnh bên ngoài

của tháp La thập

 

L

2694

LA TRAI

…..

Cũng gọi Thác bát, Hành khất, Khất

thực.

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Lần lượt đến từng nhà để xin thức ăn.

“La” tức là khất thực theo thứ tự, không

chọn nhà giàu bỏ nhà nghèo; hoặc cũng có

nghĩa “võng la”, tức là đi khất thực khắp

nơi, không bỏ sót nhà nào.

La hán tán trong Nguyệt giang Chính

ấn thiền sư ngữ lục quyển hạ (Vạn tục 123,

141 hạ), nói: “Không phải chỉ xin thức ăn

(la trai)cho chính mình, mà là muốn phá

trừ tâm bỏn sẻn của chúng sinh”.

[X. môn Ẩm đạm trong Thiền lâm tượng

khí tiên].

LA VÂN

…..

I. La Vân.

La hầu la, 1 trong 10 vị đệ tử lớn của đức

Phật.

(xt. La Hầu La).

II. La Vân (542-616).

Danh tăng Trung quốc sống vào đời Tùy,

người huyện Tùng tư, phủ Kinh châu, họ

Hình.

Cả 5 anh em trong gia đình đều xuất gia.

Người anh cả là Đạo ngung, còn sư là em út.

Sau khi xuất gia ở chùa Đông minh thượng,

sư theo ngài Pháp lãng ở chùa Hưng hoàng

tại Dương đô, học luận Đại trí độ, luận Trung

quán, Bách luận và Thập nhị môn luận. Sau

khi ngài Pháp lãng thị tịch, sư đến theo học

Cắng pháp sư ở chùa Phúc duyên. Không

bao lâu, nhận lời thỉnh của Thiền sư Trắc

chùa Di thiền, sư trở về hoằng pháp ở quê

nhà và sáng lập chùa Hoàn hương.

Về sau, sư trụ trì chùa Long tuyền hơn

50 năm, tuyên giảng Trung luận, Bách luận,

Thập nhị môn luận, v.v… giáo hóa chúng

tăng khắp nơi. Đệ tử có 10 người như Tuệ

thành, Đạo thắng, v.v…

Năm Đại nghiệp 12 (616) sư tịch, thọ 75

tuổi.

[X. Tục cao tăng truyện Q.9].

LA VÕNG

Chỉ cho mạng lưới. Ở các cõi Phật, cõi

trời đều có những mạng lưới được đính kết

bằng các thứ châu báu, vì thế, trong các chùa

viện La võng thường được dùng để trang

nghiêm điện Phật hoặc treo ở trên tượng

Phật.

Kinh A di đà nói ở cõi Tịnh độ cực lạc

có 7 lớp lan can, 7 lớp la võng, 7 lớp hàng

cây đều làm bằng 4 thứ báu bao bọc chung

quanh.

[X. kinh Thế kí trong Trường a hàm

Q.20; phẩm Kiến bảo tháp kinh Pháp hoa

Q.4; kinh Đà la ni tập Q.3].

LA Y

Áo Tiết la, tức là áo cũ rách của chúng

tăng mặc, hoặc là áo của những người tu

khổ hạnh trong núi rừng.

LẠC

Phạm,Pàli:Sukha.

Cũng gọi Lạc thụ, Lạc căn.

Đối lại: Khổ.

Cảm giác vui thích của thân và tâm, 1

trong 3 thụ, 1 trong 5 thụ căn, 1 trong 22

căn.

Nếu phân biệt từ thân và tâm, thì cảm

giác vui thích nơi thân gọi là Lạc thụ, còn

cảm giác vui thích nơi tâm thì gọi là Hỉ thụ,

Lạc là quả báo chung của tất cả thiện nghiệp

sinh ra, nên nghiệp ấy cũng gọi là Thuận lạc

thụ nghiệp.

Lạc có nhiều loại:

LẠC

 

L

2695

1.Tam lạc:

a) Thiên lạc: Nhờ tu 10 điều thiện mà

được niềm vui ở cõi trời.

b) Thiền lạc: Niềm vui khi vào cảnh giới

Thiền định.

c) Niết bàn lạc(cũng gọi Tịch diệt lạc):

Niềm vui trong trạng thái Niết bàn vắng lặng.

Tam lạc còn có 1 thuyết nữa là:

a) Ngoại lạc: Niềm vui do 5 thức trước

(mắt, tai, v.v…)sinh ra.

b) Nội lạc: Niềm vui do ý thức phát sinh

khi vào Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền.

c) Pháp lạc lạc: Niềm vui do trí tuệ vô

lậu phát sinh.

2.Tứ lạc:

a) Xuất li lạc(cũng gọi Xuất gia lạc): Niềm

vui xuất gia cầu đạo mà được giải thoát.

b) Viễn li lạc: Niềm vui ở cõi Sơ thiền, là

niềm vui đã xa lìa tham dục và pháp bất

thiện.

c) Tịch tĩnh lạc: Niềm vui ở cõi Nhị thiền

trở lên, là niềm vui khi dứt hết tầm tứ.

d) Bồ đề lạc: Niềm vui do xa lìa phiền

não mà được trí chân thực.

Bốn loại lạc này cũng gọi là Tứ vị, Tứ

vô tội lạc. Bốn niềm vui này cảm nhận được

trong thế giới vắng lặng, siêu việt hơn thế

gian. Bốn loại niềm vui này cộng thêm với

niềm vui Niết bàn nữa mà thành 5 thức

niềm vui.

[X. luận Đại tì bà sa Q.14, 78; luận Câu

xá Q.3, 15; luận Thành duy thức Q.5; luận

Nhiếp đại thừa Q.13, 15 (bản dịch đời

Lương); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí

Q.7; Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm

kinh sớ Q.26].

LẠC BANG VĂN LOẠI

Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Tông hiểu

(1151-1214) biên soạn vào đời Nam Tống,

hoàn thành vào năm Khánh nguyên thứ 6

(1200), được thu vào Đại chính tạng tập 47.

Nội dung sách này là biên tập những bài

văn trọng yếu trong các kinh luận có liên

quan đến tông Tịnh độ cho đến các trước

thuật, thi kệ, truyện kí, v.v… của các sư. Sách

này chia làm 14 môn, gồm 220 thiên. Về

sau, ngài Tông hiểu còn soạn bộ Tục biên

Lạc bang di cảo, 2 quyển.

LẠC DỤC

Cũng gọi Dục lạc.

Lòng mong cầu đạt được những điều

mình muốn. Dục có 2 nghĩa:

1. Mong muốn được nghe pháp tu hành,

tức là đối với Nhất thiết trí và các pháp tạng,

sinh chí mong cầu không biếng nhác.

Phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại

9, 4 thượng) nói: “Bấy giờ trong hội chúng

có 20 ức Bồ tát muốn được nghe pháp”.

2. Lòng ham muốn tìm cầu các thú vui

ngũ dục, đây là nguồn gốc của hết thảy phiền

não.

Kinh Tối thắng vương quyển 1 (Đại 16,

407 thượng), nói: “Tất cả phiền não lấy dục

lạc làm gốc, từ dục lạc sinh; chư Phật Thế

tôn vì muốn dứt dục lạc nên gọi là Niết bàn”.

[X. kinh Đại bảo tích Q.4; Vu lan bồn

kinh sớ (Tông mật)].

LẠC DƯƠNG

… ..

Cố đô của Trung quốc nằm về phía nam

sông Hoàng thuộc tỉnh Hà nam, cùng với

Trường an là những đô thành quan trọng

trong lịch sử Trung quốc.

Vào thời nhà Chu, Lạc dương được gọi

là “Lạc ấp”, là đô thị trung tâm của toàn

quốc lúc bấy giờ. Đến các đời Đông Hán,

Tào Ngụy, Tây Tấn, Bắc Ngụy, v.v… thì Lạc

dương được đặt làm Thủ đô, sang đời Tùy,

Đường thì trở thành Đông đô cực kì phồn

thịnh, cũng có thể nói là nơi trung tâm của

thời đại phát triển Phật giáo…………. Hơn nữa, có

LẠC DƯƠNG

 

L

2696

nhiều thuyết cho rằng Lạc dương là nơi Phật

giáo được truyền vào đầu tiên.

Cứ theo truyền thuyết, vào năm Vĩnh

bình thứ 10 (67) đời Đông Hán, vua Minh

đế phái sứ giả đến Tây vực thỉnh tượng Phật

và kinh điển, thỉnh các vị Cao tăng như Ca

diếp ma đằng, Trúc pháp lan đến Lạc dương.

Sau đó, vua ban sắc xây chùa Bạch mã thỉnh

2 ngài Ca diếp ma đằng và Trúc pháp lan ở,

đây là ngôi chùa đầu tiên tại Trung quốc.

Đồng thời, 2 ngài phiên dịch kinh Tứ thập

nhị chương tại chùa này; như vậy, kinh Tứ

thập nhị chương cũng là kinh đầu tiên được

truyền dịch tại Trung quốc.

Những điều được trình bày trên đây, tuy

còn nhiều điểm khả nghi, nhưng có thể xác

định được rằng công việc dịch kinh từ thời

Đông Hán đến Tây Tấn đều đã được thực

hiện tại Lạc dương. Những kinh điển được

phiên dịch vào thế kỉ V và các vị tăng Ấn

độ đến Trung quốc như Khang tăng khải,

Trúc pháp hộ, Phật đồ trừng, Bồ đề lưu chi,

Lặc na ma đề, Phật đà phiến đa, v.v… đều

có quan hệ mật thiết với Lạc dương.

Sau khi nhà Bắc Ngụy mất, Lạc dương

cũng theo đó mà suy vi. Mãi đến đời Đường,

Lạc dương mới cùng với Trường an được

gọi chung là Nhị kinh. Vũ tắc thiên xây dựng

chùa Phật thụ kí và chùa Đại vân, các tông

phái Phật giáo được phục hưng và phát triển;

nhưng sau Pháp nạn Hội xương và các cuộc

chiến loạn ở cuối đời Đường, Lạc dương lại

rơi vào trạng huống suy vi và trở thành 1 đô

thị bình thường.

LẠC DƯƠNG GIÀ LAM KÍ

Tác phẩm, 5 quyển, do ông Dương huyễn

chi soạn vào thời Đông Ngụy, được thu vào

Đại chính tạng tập 51.

Nội dung nói về thành Lạc dương, thủ

đô của thời Bắc Ngụy, về những ngôi chùa

lớn ở vùng ngoại ô của thành phố này.

Khoảng năm Vĩnh gia (307-311) đời Tấn,

cả vùng Lạc dương chỉ có 42 ngôi chùa viện.

Đến đời Bắc Ngụy, sau khi vua Hiếu văn đế

dời đô về Lạc dương vào năm Thái hòa 17

(493), thì phong khí làm chùa thịnh hành,

lúc hưng thịnh có tới 1367 ngôi chùa viện.

Nhưng đến thời kì Hiếu vũ đế ở ngôi (532-

534), thì phần lớn chùa chiền đều bị phá

hủy, chỉ còn 421 ngôi! Năm Vũ định thứ 5

(547) đời vua Hiếu tĩnh đế đời Đông Ngụy,

ông Dương huyễn chi đến Lạc dương làm

quan, thấy cảnh tượng điêu tàn ấy, rồi vì

lòng cảm thương trước sự thịnh suy vô

thường nên ông soạn bộ “Lạc dương già

lam kí” ghi lại lịch sử của hơn 40 ngôi già

lam ở trong và ngoại ô thành Lạc dương.

Trong đó chủ yếu nói về nguyên do xây cất,

địa thế, phong cảnh và qui mô kiến trúc của

chùa viện, cho đến lịch sử Phật giáo hoặc

chính trị, xã hội và sự giao lưu văn hóa với

LẠC DƯƠNG GIÀ LAM KÍ

Chùa Bạch Mã ở Lạc Dương

Hang động Long Môn ở Lạc Dương

 

L

2697

Tây vực. Bởi thế, bộ sách này không những

là tư liệu giúp cho việc tìm hiểu về lịch sử

Phật giáo và lịch sử chính trị, xã hội ở Lạc

dương vào thời Bắc Ngụy, mà còn là tài liệu

tham khảo quan trọng để nghiên cứu công

trình xây dựng thành Lạc dương và kiến trúc

chùa viện. Vì những điều được ghi trong

sách là do chính tác giả tai nghe mắt thấy,

cho nên nó có giá trị sử liệu rất cao, có thể

bổ túc cho những thiếu sót trong chính sử.

Sách này có rất nhiều bản khắc in, nhưng

bản của Như ẩn đường và bản Cổ kim dật

sử của Ngô quản đời Minh là xưa nhất. Về

các bản hiệu đính sách này, thì trước hết

phải kể đến “Lạc dương già lam kí hiệu

thích” của Chu tổ mô là đầy đủ hơn cả. Ngoài

việc tách riêng nguyên văn và chú thích ra,

tác giả còn sử dụng nhiều sách khác để chú

giải và hiệu đính thêm, là tư liệu tham khảo

rất có giá trị.

[X. Tục cao tăng truyện Q.1; Đường thư

nghệ văn chí thứ 49].

LẠC ĐÀ TỌA

……..

Tư thế ngồi xổm, tức là ngồi dựng 2 đầu

gối lên. Trong kinh chê cách ngồi này không

đúng và bảo chúng tăng phải ngồi theo kiểu

kết già.

Thích môn qui kinh nghi quyển hạ (Đại

45, 863 hạ), nói: “Ngồi dựng 2 đầu gối lên

trong kinh gọi là Lạc đà tọa. Kiểu ngồi này

làm cho thân tâm lười biếng”.

[X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí

Q.hạ, phần 3].

LẠC MẪU ĐÔNG (1005-1064)

… … ..

Tạng: Fbrom-ston, Dge-bzes ston-pa

hoặc Ston-pa rin-po-che.

Hán âm: Đôn ba bảo, Chủng đôn ba,

Đông đốn.

Thủy tổ của phái Ca đương (Tạng:

Bka#-gdam-pa), người Đồ da luân phổ

(Tạng:Stod-luns-phu) ở về mạn tây bắc

Lạp tát (Lhasa).

Ông thông minh từ thủa nhỏ, ham đọc

sách, siêng năng cầu học nơi tôn giả Tiết chuẩn

(Tạng:Jo-bo Se-btsun), lại theo ngài Tháp

da tối lỗ mã (Tạng:Sgra#i tsher-ma) học

ngôn ngữ. Khi học ở chỗ ngài Tháp da tối lỗ

mã, ông được biết tên tuổi của ngài A đề sa

(Phạm:Atìsa), ông rất hâm mộ. Sau, ông

nhận thấy thứ tự tu hành trong giáo phápcó

phần lộn xộn, Hiển Mật lại phân chia, nên

vào năm 1054, khi nghe tin ngài A đề sa đến

A lí (Tạng:Mía#-ris), ông được phép thầy

học cho đi rước ngài A đề sa về Vệ tạng. Không

bao lâu, ông được ngài A đề sa truyền trao

quán đính và những lời giáo giới có liên quan

đến Tam sĩ giáo, rồi từ đó ông theo ngài đi

khắp nơi trên đất nước Tây tạng. Về sau, ông

lại thỉnh ngài A đề sa đến Lạp tát (Lhasa) và

dốc sức vào việc biên soạn các sách về Trung

quán. Sau khi ngài A đề sa thị thịch (1054?),

ông nối tiếp hoằng dương học thuyết của ngài

để đối lại với Mật pháp cựu truyền vốn chỉ

chuyên trọng chú thuật. Ông lập ra tông nghĩa

riêng gọi là Cam Đan, hoặc Ca Đương. Cam

là Thánh giáo, Đan là giáo giới, hợp cả 2 chữ

lại thì có nghĩa là “Tất cả Thánh giáo đều là

giáo giới”. Ông lại phán lập Tam Sĩ Giáo thu

nhiếp tất cả pháp và thứ tự 4 mật pháp: Tác,

Tu, Du già, Vô thượng du già. Hệ thống tư

tưởng của ông rất tinh nghiêm, từ xưa không

ai sánh kịp, nhờ đó phái Ca đương được sáng

lập và mở đầu cho sự phân phái trong Phật

giáo Tây tạng.

Niên hiệu Gia hựu năm đầu (1056), ông

xây dựng ngôi chùa Nhiệt chấn (Tạng: Rwasgreí)

ở vùng Nhiệt chấn, hoằng pháp ở đây

trong 9 năm…………. Ông một đời không xuất gia,

nhưng thông hiểu cả Hiển giáo và Mật giáo,

giáo đoàn do ông sáng lập về sau rất hưng

thịnh. Ông có nhiều học trò, nhưng có 3 người

nổi bật nhất là: Phác khung ngõa (Tạng:Phu-

LẠC MẪU ĐÔNG

 

L

2698

chuí-ba), Bác đóa ngõa (Tạng:Po-to-ba) và

Cẩn nga ngõa (Tạng:Spyan-sía-ba).

Năm 1064 ông qua đời, thọ 60 tuổi.

Ông để lại các tác phẩm: Bát thiên tụng,

Bát thiên đại chú (Phạm: Abhisamayàla=

ôkàràloka), Bát thiên tiểu chú (Phạm:

Abhisamayàlaôkarasphuỉàrtha), Nhị

vãng ngũ thiên chú (Phạm: Paĩca=

viôsatisàhasrikàbhisamayàlaôkàràloka).

Dịch phẩm: Trí thành tựu (Phạm:

Jĩànasidhi).

[X. Deb-ther síon-po (The Blue Annals);

Dpag-bsaml-jon-bzaí; Ch. Bell: The Religion

of Tibet]. (xt. Ca Đương Phái).

LẠC PHÁT NHIỄM Y

Xuống tóc nhuộm áo. Nghĩa là cạo bỏ

râu tóc, mặc áo hoại sắc, xuất gia tu hành,

cầu đạo giải thoát.

[X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư

truyện Q.9].

LẠC PHỐ ĐẦU SƯ

Cũng gọi Lạc phố phục ưng.

Tên công án trong Thiền tông.

Nội dung công án này thuật lại cơ duyên

sư Lạc phố Nguyên an tham yết ngài Giáp

sơn Thiện hội.

Chương Lạc phố Nguyên an trong Cảnh

đức truyền đăng lục quyển 16 ghi, một hôm

sư Lạc phố đến tham yết ngài Giáp sơn,

không khế hội được cơ ngữ, chỉ khoanh tay

đứng nhìn. Ngài Giáp sơn quở sư vô lễ, chẳng

phải người chân thực học đạo. Sư Lạc phố

tự biết lỗi của mình, bèn khiêm nhường hỏi

pháp và được đại ngộ.

LẠC PHỐ HOÀN HƯƠNG

Lạc Phố về làng.

Tên công án trong Thiền tông.

Công án này thuật lại cơ duyên vấn đáp

giữa Thiền sư Lạc phố Nguyên an với 1 vị tăng.

Chương Lạc phố Nguyên an trong Ngũ

đăng hội nguyên quyển 6 (Vạn tục 138, 102

thượng) ghi: “Vị tăng hỏi:

–Khi người học định trở về làng thì như

thế nào?

Sư đáp:

–Nhà tan người mất, ông về đâu?

Vị tăng đáp:

–Vậy thì thôi, không về!

Sư nói:

–Tuyết sót ngoài sân nắng làm tan, bụi bám

trong nhà nhờ ai quét? Rồi sư nói kệ rằng:

Chí quyết trở về làng

Dong thuyền vượt Ngũ hồ

Chống sào trăng sao lặn

Gác mái mặt trời nhô

Nhổ neo rời bến tà

Trương buồm ra chính lộ

Tới nhà nhà tan biến

Hết nhà hết cả ngu!”

LẠC PHỐ LÂM CHUNG

Tên công án trong Thiền tông.

Công án này nói về sự tích Thiền sư Lạc

phố Nguyên an lúc sắp tịch xét nghiệm cảnh

giới của Thượng tọa Ngạn tòng.

Chương Lạc phố Nguyên an trong Cảnh

đức truyền đăng lục quyển 16 (Đại 51, 332

thượng), chép: “Đến tối, sư bảo thị giả gọi

Thượng tọa Ngạn tòng vào phương trượng,

sư nói: Hôm nay Xà lê gặp lão tăng, là rất có

lí, theo ông thì ý chỉ của Tiên sư thế nào?

Tiên sư nói: “Trước mắt không có pháp thì

ý ở trước mắt, chứ chẳng phải pháp ở trước

mắt, pháp ấy là cảnh giới mà tai mắt không

thể thấu đáo được”. Ông thử nói xem, câu

nào là chủ ý của Tiên sư? Nếu chọn ra được,

thì ta trao túi bát cho”.

–Đáp: Ngạn tòng không hiểu.

Sư nói:

LẠC PHỐ LÂM CHUNG

 

L

2699

–Ông hiểu, cứ nói đi!

–Đáp: Ngạn tòng thật không biết.

Sư hét, rồi đuổi ra và nói: Khổ! Khổ”.

LẠC QUẢ

I. Lạc Quả.

Diệu quả của Niết bàn.

Quán kinh huyền nghĩa phần (Đại 37,

246 thượng), nói: “Chỉ bày rõ cái nhân khổ

trong nhiều kiếp, mà ngộ nhập vào quả vui

(lạc quả) đời đời”.

II. Lạc Quả(1884-1979).

Vị tăng Trung quốc, người Đông bắc

Doanh khẩu, họ Lục, pháp hiệu Đại văn.

Khi chưa xuất gia, sư theo nghề buôn

bán, thường làm việc từ thiện, giảng diễn

Phật pháp và xây chùa Hoa nghiêm có tiếng

ở Doanh khẩu.

Năm Dân quốc 28 (1939), sư lễ Hòa

thượng Tâm triệt cầu xuất gia. Về sau sư

thường giảng các kinh như Hoa nghiêm, Kim

cương, Bát nhã tâm kinh, v.v… tại các thành

phố lớn thuộc miền Đông bắc. Năm Dân

quốc 38 (1949), sư dời đến Hồng kông góp

phần vào việc xây dựng viện Phật học Hoa

nam nhằm đào tạo tăng tài. Sau, sư lập tinh

xá Văn tính ở Cửu long.

Cuối đời, sư thường hoằng pháp ở Đài

loan và vùng Đông nam á, đồng thời, sư còn

sáng lập chùa Phật quang ở Bộ lí, Đài loan.

Vì sư tuổi cao đức trọng nên được giới Phật

giáo ở Hồng kông suy tôn là một trong Tam

lão(3 bậc Trưởng lão) ở vùng Đông bắc.

Năm Dân quốc 68 (1979) sư tịch ở Hồng

kông, thọ 95 tuổi.

Sư có các tác phẩm: Bát nhã tâm kinh

giảng nghĩa, Kim cương kinh thích yếu.

LẠC QUAN (1902-1987)

Vị tăng Trung quốc, người huyện Hán

dương, tỉnh Hồ bắc, họ Lưu.

Năm Dân quốc thứ 9 (1920), sư y vào ngài

Linh nhất ở Sa thị, Hồ bắc xuất gia. Cùng

năm đó sư thụ giới Cụ túc ở chùa Chương

hoa. Sư từng theo học ở Đại học Hoa nghiêm

tại Hán khẩu, Phật học viện Vũ xương của

Đại sư Thái hư. Về sau, sư đi hoằng hóa khắp

các vùng Hoàng hà, Giang nam, Giang bắc,

Quảng đông, Quảng tây, Vân nam, v.v… Sư

còn đến Nhật bản, các nước vùng Đông nam

á và Ấn độ. Năm Dân quốc 41 (1952), sư

nhận lãnh giới luật của Phật giáo Miến điện

và ở tại thủ đô Ngưỡng quang, mãi đến năm

Dân quốc 52 (1963) sư mới trở về Đài loan,

rồi làm chủ biên nguyệt san Hải triều âm.

Năm 1987 sư tịch, thọ 85 tuổi.

Sư có các tác phẩm: Lục thập niên hành

cước kí, Trung quốc Phật giáo cận đại sử

luận tập.

LẠC SINH THIÊN

Chỉ cho Sơ thiền, Nhị thiền và Tam thiền

trong Tứ thiền (Tứ tĩnh lự)thuộc cõi Sắc.

Theo luận Câu xá quyển 11, thì trong 3

cõi Tĩnh lự có 2 trạng thái an lạc. Đó là:

1. Li sinh hỉ lạc: Ở 3 cõi trời Phạm

chúng, Phạm phụ và Đại phạm thuộc Sơ

thiền, đã lìa các khổ của cõi Dục mà sinh hỉ

lạc(vui mừng), nên gọi là Li sinh hỉ lạc.

2. Định sinh hỉ lạc:Ở3cõi trời Thiểuquang,

Vô lượng quang và Cực quang thuộc Đệ nhị

thiền, từ Sơ thiền sinh đến Nhị thiền và an

trụ trong hỉ lạc, nên gọi là Định sinh hỉ lạc.

3. Li hỉ diệu lạc: Ở 3 cõi trời Thiểu tịnh,

Vô lượng tịnh và Cực quang tịnh thuộc Đệ

tam thiền, lìa cái vui của Đệ nhị thiền mà

cảm nhận niềm vui vi diệu của Đệ tam thiền,

nên gọi Li hỉ diệu lạc.

LẠC SƠN TỰ

… … ..

Chùa ở xã Giáng hiện, quận Tương

dương, tỉnh Giang nguyên, nước Đại hàn,

LẠC SƠN TỰ

 

L

2700

do ngài Nghĩa tương sáng lập vào năm Văn

vũ vương 11 (671).

Tương truyền,

sau khi từ Trung

quốc trở về, Đại sư

Nghĩa tương xây cất

chùa này rồi dùng

pho tượng Quan âm

bằng gỗ chiên đàn

do ngài tự tạo làm

Bản tôn để tu Bách

nhật hành. Đúng

vào ngày trai giới

thứ 7, Long vương

từ biển Đông hiện

lên trao tặng ngài

Nghĩa tương chuỗi

tràng bằng thủy tinh và hạt ngọc báu như

ý. Vào ngày thứ 14, Bồ tát Quan âm ứng

hiện, dạy Ngài nên dựng chùa ở chỗ có 2

cây trúc mọc. Đó là nguyên do sáng lập

ngôi chùa này.

Tại Đại hàn, phần nhiều các chùa viện

được kiến trúc trong núi sâu, chỉ có chùa

này được xây cất ở gần bờ biển, đây là trường

hợp hiếm có. Công trình kiến trúc hiện còn

là công trình làm lại sau chiến tranh năm

1950 giữa Nam và Bắc Hàn. Chùa gần biển,

phong cảnh tráng lệ, pho tượng Quan âm

rất lớn, cao đến tận mây; thêm vào đó là

những truyền thuyết về ngài Nghĩa tương,

đã làm cho chùa này trở thành một thắng

cảnh nổi tiếng hiện nay.

LẠC TẠ

…..

Tàn lụi. Chỉ cho pháp hiện tại đã mất

tác dụng và rơi vào quá khứ.

Trong chân lí Phật giáo, thế gian không

cópháphữu vi nào thường hằng bất biến,

cho nên biết các pháp hữu vi ấy nhất định

đều bị tiêu hoại và rơi vào quá khứ trong

mỗi sát na.

LẠC THẢO

Cũng gọi Hướng hạ môn.

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Lạc thảo(rơi xuống cỏ)nghĩa là hạ thấp

địa vị.

Trong phương pháp giáo hóa của Thiền

lâm, người giáo hóa hạ thấp thân phận của

mình, tùy thuận chúng sinh để giáo hóa gọi

là Lạc thảo. Ngoài ra còn có những nhóm từ

“Lạc thảo hán”(gã đê tiện), là tiếng khinh

miệt gọi những người có hành vi hèn hạ;

“Lạc thảo đàm” chỉ cho những lời bàn luận

rơi vào đệ nhị nghĩa(trái với Đệ nhất nghĩa

đế), hoặc chỉ cho những lời vì lòng từ bi thuận

theo tình huống trước mắt mà phải miễn

cưỡng nói ra giáo hóa một số người.

Tắc 34, Bích nham lục (Đại 48, 172 hạ)

ghi: “Ngài Vân môn nói: Những lời nói này

đều là vì lòng từ bi, cho nên có lạc thảo

đàm”.

[X. chương Cát đằng trong Chính pháp

nhãn tạng].

LẠC THỤ

Phạm,Pàli:Sukha-vedanà.

Nhận lãnh cảnh vừa ý khiến cho thân

tâm ưa thích, là 1 trong 3 thụ, 1 trong 5 thụ.

Trong 3 thụ thì Lạc thụ là sự cảm nhận

ưa thích của cả thân và tâm. Trong 5 thụ thì

thân cảm thấy vui thích gọi là Lạc thụ, còn

tâm cảm thấy vui thích thì gọi là Hỉ thụ.

Nhưng luận Câu xá quyển 3 thì cho rằng

ở cõi Tĩnh lự thứ 3(Đệ tam thiền)không có

thân thụ, mà chỉ có tâm thụ, an tĩnh nhưng

không có phân biệt, vì cảm giác vui thích

rất mạnh nên gọi là Lạc thụ, chứ không gọi

là Hỉ thụ.

[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12, 42; luận

Thành duy thức Q.5; luận Thành thực Q.6;

Đại thừa nghĩa chương Q.7].

Tượng Quan Âm

ở chùa Lạc Sơn

LẠC THỤ

 

L

2701

LẠC XOA

… ..

Phạm: Lakwa.

Cũng gọi Lạc sa, La khất sử.

Tên gọi số lượng đời xưa ở Ấn độ, tức là

10 vạn.

Kinh Như ý luân đà là ni (Đại 20, 189

trung), nói: “Một lạc xoa, Trung quốc gọi là

10 vạn”.

Huyền ứng âm nghĩa quyển 23 nói rằng

1 lạc xoa tương đương với 10 vạn; 100 lạc

xoa là 1 câu chi.

Phạm ngữ tạp danh (Đại 54, 1230

trung), nói: “Tiếng Phạm La khất sử, nghĩa

là 10 vạn”. Còn luận Câu xá quyển 12 và

Phạm ngữ thiên tự văn thì cho rằnglạc xoa

là 1 ức.

Ngoài ra, Mật giáo lập 2 nghĩa cạn và

sâu. Nếu giải thích theo nghĩa cạn thì 1 lạc

xoa là 10 vạn; còn nếu giải thích theo nghĩa

sâu thì lạc xoa nghĩa là kiến chiếu hoặc là

thành tựu.

(xt. Tam Lạc Xoa).

LẠC XOA ĐÀ LA NI KINH

Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp hiền dịch

vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng

tập 21.

Nội dung kinh này nói về đà la ni Lạc

xoa và cho rằng nếu thụ trì Đà la ni này thì

cũng bằng với thụ trì Lạc xoa (10 vạn) danh

hiệu chư Phật, có năng lực diệt trừ vô lượng

trọng tội, tích tụ nhiều phúc đức.

LAI BA THIÊM

Tạng:Ral-pa-can.

Tức là Khất lật lai ba thiệm.

Cũng gọi Nhiệt ba trung.

Vua nước Tây tạng, vốn tên là Khả lê

khả túc (Tạng:Khri-gtsug lde-brtsan) ở

ngôi từ năm 815 đến 836 (hoặc 838).

Lúc vua mới lên ngôi, mối quan hệ giữa

Tây tạng và nhà Đường đang ở thời kì căng

thẳng và vua từng đưa quân cướp phá vùng

biên giới Trung quốc. Về sau, 2 nước Đường

Tạng giao hảo lập bia liên minh(Đường Phồn

hội minh), trongvăn bia có ghi chép việc

vua 2 nước thệ ước trước Tam bảo. Nhà

vua tin Phật rất kiền thành. Tương truyền,

vua từng cắt tóc làm tọa cụ để dâng cúng

chư tăng, tên gọi “Lai ba thiệm” hàm ý là

“tóc dài”.

Trong thời gian ở ngôi, vua nhận thấy

những kinh điển Phật giáo đã được dịch ở

Tây tạng từ trước đến giờ chưa được hoàn

mĩ, nên sai sứ đến Ấn độ lễ thỉnh các bậc

thạc học Phật giáo và tập họp các vị cao

tăng Tây tạng để thực hiện việc phiên dịch.

Bấy giờ, phía Ấn độ có các ngài như: Thắng

hữu (Phạm: Jina-mitra), Giới đế giác

(Phạm:Surendra-bodhi), Thí giới (Phạm:

Dana-zìla), Giác hữu (Phạm: Bodhimitra),

Cát tường đế giác (Phạm:Zrìndrabodhi),

Hỉ khánh giới (Phạm:Anant-zìla),

Kim cương giới (Phạm:Vajra-zìla), v.v…

Về phía Tây tạng thì có các học giả: Bảo

tán, Pháp tính giới, Trí quân, v.v… Những

vị này tổ chức 1 dịch trường chặt chẽ. Trước

hết, họ đặt ra nguyên tắc dùng từ ngữ phiên

dịch, sau đó, định tiêu chuẩn thẩm xét sự

cấu trúc của những từ ngữ ấy sao cho đúng

với văn phạm. Với sự chuẩn bị chu đáo

như vậy, các học giả ấy đã soạn ra bộ sách

nổi tiếng là “Phạm Tạng Đối Chiếu Đại

Từ Vựng Phiên Dịch Danh Nghĩa Đại Tập”

(Phạm: Mahàvyutpatti). Phần lớn các

kinh điển trọng yếu của Hiển thừa(giáo)

trong Đại tạng kinh Tây tạng hiện còn, cũng

đã được phiên dịch vào thời gian này. Đôi

khi cũng có những bản dịch cũ được đem

ra hiệu đính, làm cho Phật giáo Tây tạng ở

thời kì đầu đạt đến điểm cao.

(xt. Tây Tạng Phật Giáo).

LAI BA THIÊM

 

L

2702

LAI CƠ

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Chỉ cho người đến tham học.

Những người đến tham học, căn cơ có

thượng, trung, hạ khác nhau, cho nên sư gia

cũng phải căn cứ vào đó mà dùng phương

pháp bất đồng để tiếp dẫn họ.

Tắc 2, Thung dung lục (Đại 48, 228 hạ),

nói: “Rỗng lặng không Thánh, căn cơ (lai

cơ) khác nhau”.

[X. Bảo kính tam muội].

LAI DUY

Lévi, Sylvain; 1863-1935

Cũng gọi Liệt duy.

Nhà Đông phương học và Ấn độ học

người Pháp, sinh ở Paris. Năm 1884, ông là

hội viên của Hiệp hội Á châu, phụ trách

việc điều tra về các bản sách cổ viết tay được

tàng trữ ở Ấn độ.

Năm 1889, ông nhận chức giáo sư tại

Đại học Paris, dạy các môn tiếng Phạm, Ấn

độ học, Ngôn ngữ học. Ông đã tìm được rất

nhiều bản viết tay bằng tiếng Phạm ở Nepal,

sau đó ông dốc sức vào công việc so sánh

đối chiếu các Phạm thư, Tự sự thi, Lịch sử

giao lưu văn hóa giữa Ấn độ và Hi lạp, văn

học tiếng Phạm cho đến các văn hiến Phật

giáo bằng tiếng Phạm, Tây tạng và Hán văn.

Đặc biệt đối với việc nghiên cứu về tiếng

Đột quyết, ông là người cống hiến rất lớn

cho môn Tỉ giảo văn pháp học Ấn Âu. Sau

năm 1913, ông được phái đến các nước Nga,

Pakistan, Mĩ, v.v… để thực hiện công tác

nghiên cứu. Vào những năm 1921-1922,

nhận lời mời của ông Thái qua nhĩ

(Rabindranath Tagore), ông lại đến Ấn độ

diễn giảng.

Sau khi từ Ấn độ trở về nước, ông nhận

chức chủ nhiệm Học viện Cao đẳng nghiên

cứu tông giáo học, lần lượt hiệu đính xuất

bản các kinh Phật bằng tiếng Phạm.

Ông cũng đã từng là Hội trưởng Hiệp

hội Á châu, Hội trưởng Nhật Phật hội quán.

Ông đã sang Nhật bản 3 lần để cùng với bác

sĩ Cao nam Thuận thứ lang biên soạn từ

điển Phật giáo bằng tiếng Pháp. Những năm

cuối đời, ông làm chủ nhiệm Sở nghiên cứu

Văn hóa Ấn độ (Iustitut de Civilisation

Indienne) thuộc Đại học Paris.

Năm 1935 ông qua đời, thọ 73 tuổi.

Ông để lại các tác phẩm: Ấn độ diễn kịch,

Mã minh chi nghiên cứu, Phạm thư chi tế

tự giáo nghĩa, Đột quyết ngữ văn thư chi

nghiên cứu, Dạ xoa chi địa lí mục lục (trong

kinh Đại khổng tước vương chú), Duy thức

luận thể hệ nghiên cứu tư liệu…

Về các tác phẩm bằng tiếng Phạm được

ông hiệu đính và xuất bản thì có: Đại thừa

trang nghiêm kinh luận, Đôn hoàng Phạm

bản, Câu xá luận thích (Xứng hữu), Duy thức

nhị thập luận, Duy thức tam thập luận (ngài

An tuệ chú thích).

Ngoài ra, ông còn dịch và giải thích kinh

Phân biệt thiện ác báo ứng.

LAI NGHINH

Cũng gọi Lai nghinh dẫn tiếp, Thánh

chúng lai nghinh.

Những người

phát nguyện vãng

sinh Tịnh độ, lúc

lâm chung, Phật,

Bồ tát và các

Thánh chúng đến

nghinh đón.

Tại Nhật bản,

loại tranh Lai

nghinh rất phổ

biến, gọi là

Nghinh tiếp mạn

đồ la. Trongtranh

LAI NGHINH

Tranh Lai Nghinh

 

L

2703

Lai nghinh, vẽ đức Phật A di đà và 2 vị bồ

tát Quan thế âm, Đại thế chí trong tư thái

nghinh đón, gọi là Lai Nghinh Tam Tôn.

(xt. Thánh Chúng Lai Nghinh).

LAI NGHINH ẤN

Ấn tướng của đức Phật A di đà, biểu thị

lúc đến đón rước người tu hành niệm Phật.

Cứ theo Cửu phẩm vãng sinh trong kinh

Quán vô lượng thọ, vì căn duyên của hành

giả không giống nhau nên vãng sinh về cõi

Tịnh độ cực lạc cũng có 9 phẩm khác nhau.

Do đó, hình tượng và ấn tướng nghinh đón

của đức Phật A di đà cũng được chia làm 9

phẩm bậc. Trong đó, ấn tướng Lai nghinh

dùng để đón rước hàng Hạ phẩm thượng

sinh là: Tượng Phật A di đà đứng, 2 tay đưa

ra, tay phải đưa lên, tay trái duỗi xuống, đầu

ngón cái và đầu ngón vô danh bấm vào nhau.

(xt. Cửu Phẩm Ấn).

LAI NGHINH MĨ THUẬT

Nghệ thuật vẽ tranh đức Phật A di đà

và Thánh chúng đến đón rước người niệm

Phật vãng sinh về Tịnh độ Cực lạc. Nghệ

thuật này được hình thành từ các bức tranh

Tịnh độ biến tướng và dần dần phát triển

theo đà hưng thịnh của

tông Tịnh độ. Những di

phẩm biến tướng của

Tịnh độ được phát hiện

ở Đôn hoàng.

Tại Nhật bản, vào

thời Nại lương, Lai

nghinh được vẽ chung

trong Đương ma mạn đồ

la, đến giữa thời Bình an,

tranh Lai nghinh độc lập

mới bắt đầu được lưu

hành. Tượng Phật Lai

nghinh đầu tiên ở Nhật

bản là tượng A Di Đà Tam Tôn được cất

giữ tại chùa Pháp hoa ở Nại lương (Nara),

kế đến là: Tranh Thánh Chúng Lai Nghinh

ở núi Cao dã, tranh Cửu Phẩm Lai Nghinh

hiện được tàng trữ ở Phượng hoàng đường

Viện Bình đẳng; Tranh Thánh Chúng Lai

Nghinh ở viện Hưng phúc tại Nại lương,

tranh Tảo Lai Nghinh và tranh Hoàn Lai

Nghinh ở viện Tri ân…

LAI NGHINH TIẾP DẪN NGUYÊN

Cũng gọi: Tu chư công đức nguyện, Hiện

tiền đạo sinh nguyện, Chí tâm phát nguyện

nguyện, Lai nghinh nguyện, Lâm chung tiếp

dẫn nguyện, Lâm chung hiện tiền nguyện,

Thánh chúng lai nghinh nguyện, Nhiếp thụ

tu đức dục sinh nguyện, Hành giả mệnh

chung hiện tiền đạo sinh nguyện.

Là lời nguyện thứ 19 trong 48 lời nguyện

của đức Phật A di đà.

Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại

12, 268 thượng), nói: “Nếu ta được thành

Phật, 10 phương chúng sinh phát tâm Bồ

đề tu các công đức, dốc lòng phát nguyện

muốn sinh về cõi nước của ta, tới lúc họ lâm

chung, giả sử ta không cùng với đại chúng

đến vây quanh trước mặt họ để đón rước,

thì ta nguyện không lên ngôi Chính giác”.

Nguyện này thường được gọi là nguyện

thứ 19 theo như sự sắp xếp thứ tự trong

kinh Vô lượng thọ bản dịch đời Ngụy và

Hội Vô lượng thọ Như lai bản dịch đời

Đường, còn trong các bản dịch khác thì việc

sắp xếp thứ tự của Nguyện này không giống

nhau. Như: Kinh Vô lượng thanh tịnh bình

đẳng giác (bản Hán dịch) thì xếp vào hàng

nguyện thứ 18, còn trong kinh Đại A di đà

(bản dịch đời Ngô) thì hợp chung 2 nguyện:

Tu chư công đức thứ 6 và Lâm chung lai

nghinh thứ 7 thành nguyện Lai nghinh tiếp

dẫn. Kinh Vô lượng thọ trang nghiêm (bản

dịch đời Tống) thì xếp là nguyện thứ 13,

LAI NGHINH TIẾP DẪN NGUYÊN

Tranh Thánh Chúng

Lai Nghinh

 

L

2704

nhưng nội dung của văn nguyện lại tương

đương với 2 nguyện 18 và 19 trong bản dịch

đời Ngụy. Lại nữa, tuy văn nguyện trong các

bản dịch trên có hơi khác nhau, nhưng tất

cả lời nguyện đều là đón rước người tu tịnh

nghiệp sinh về Tịnh độ.

[X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Vô lượng

thọ kinh sao Q.3].

LAI NGHINH TRỤ

Chỉ cho cây cột ở 2 bên bức vách vẽ tranh

Lai nghinh.

Trên bức vách phía sau đàn Tu di thường

có vẽ tranh Phật A di đà lai nghinh, gọi là

Lai nghinh bích; cây cột ở 2 bên Lai nghinh

bích tức là Lai nghinh trụ.

LAI QUẢ (1881-1953)

Vị Thiền tăng Trung hoa thời Dân quốc,

người huyện Hoàng cương, tỉnh Hồ bắc, họ

Lưu, hiệu Như tịnh, pháp danh Diệu thụ.

Ngay từ nhỏ sư đã không ăn thịt cá, thông

minh và nhớ giỏi. Năm lên 7, sư nghe vị

tăng gần bên nhà tụng Bát nhã tâm kinh

đến câu “không trí cũng không đắc”, thình

lình tỉnh ngộ, liền có ý muốn xuất gia. Năm

18 tuổi, sư cắt gan chữa bệnh cho cha. Năm

19 tuổi, sư vâng mệnh song thân lấy vợ, cùng

phòng nhưng không nhiễm dục vọng,

thường cùng nhau đến Phật đường niệm

Phật.

Năm Quang tự 31 (1905), sư đến chiêm

bái núi Phổ đà, gặp 5 vị tăng tu khổ hạnh,

bèn tự ý xuất gia, bắt chước tu khổ hạnh, 13

ngày không ăn uống. Sau, sư đến núi Bảo

hoa thụ giới, rồi về núi Ngũ đài lễ bái tháp

bồ tát Văn thù.

Năm Quang tự 33 (1907), sư đến Kim

sơn, chuyên chú tham cứu câu thoại đầu

“Người niệm Phật là ai”, lấy sự ngộ đạo làm

hạn, nếu chẳng ngộ thề không ra khỏi Thiền

đường. Đến chiều ngày 26 tháng 9 năm

Quang tự 34 (1908) sau tuần hương thứ 6,

khi nghe tiếng chuông khai tĩnh thì sư triệt

ngộ. Sau đó, sư đến chùa Cao mân, giữ chức

Ban thủ. Không bao lâu, sư vào ẩn cư trong

động Tương tử, núi Chung nam, đến năm

Dân quốc thứ 4 (1915) sư mới trở về chùa

và được ngài Nguyệt tố, Trưởng lão của chùa

Cao mân truyền pháp cho.

Từ đó, sư ra sức khôi phục lại chùa Cao

mân, xây dựng lại Bảo tháp, Đại điện, Thiền

đường, Diên thọ đường, Như ý liêu, v.v…

Sư từng phái người đến Nam dương khuyến

hóa, thỉnh được pho tượng Phật bằng ngọc

và 1 pho tượng đồng, nhờ đó, chùa Cao mân

trở thành 1 trong những ngôi chùa qui củ

nhất trong nước.

Tháng 11

năm Dân quốc 42

(1953) sư tịch ở

Thượng hải, thọ

73 tuổi, 49 tuổi

đạo, di thể của sư

được đưa về an

táng trong vườn

chùa Cao mân.

Sư có tác

phẩm: Lai quả

thiền sư ngữ lục.

[X. Lai quả thiền sư tự hành lục].

LAI THẾ

Gọi đủ: Vị lai thế.

Cũng gọi: Lai sinh, Hậu sinh, Hậu thế.

Chỉ cho đời sau khi đã từ bỏ thân hiện

tại. Là 1 trong 3 đời.

Cứ theo kinh Kim cương, vào thời quá

khứ, đức Phật Nhiên đăng thụ kí cho đức

Thích ca lai thế(đời sau)sẽ thành Phật.

Trong phẩm Dược thảo dụ kinh Pháp

hoa quyển 3 thì có câu (Đại 9, 19 trung):

“Đời nay an ổn, đời sau sinh nơi tốt lành”.

LAI THẾ

Lai Quả

 

L

2705

Ngoài ra, đời vị lai trực tiếp, gọi là Thuận

lai sinh; Vị lai gián tiếp, gọi là Lai lai sinh;

Vị lai vĩnh viễn thì gọi là Vị lai vĩnh kiếp,

gọi tắt là Lai kiếp. Thông thường, chỉ cho vị

lai sau khi chết.

[X. chương Như lai chân thực nghĩa công

đức trong kinh Thắng man; kinh Đại tát già

ni kiền tử sở thuyết Q.4].

LẠI DA DUYÊN KHỞI

Cũng gọi A lại da duyên khởi, Duy thức

duyên khởi.

Thuyết Duy thức của tông Pháp tướng

chủ trương hết thảy muôn pháp đều từ nơi

thức A lại da duyên khởi ra. Một trong 4

loại Duyên khởi.

Lại da, gọi đủ là A lại da, nghĩa là cái

kho chứa đựng hạt giống(chủng tử)của tất

cả các pháp, là chỗ nương tựa căn bản của

hết thảy loài hữu tình, gọi là Tàng thức.

Muôn tượng trong thế gian đều là chủng tử

được chứa đựng trong Tàng thức(A lại da)

hiện hành ra, đây gọi là “Chủng tử sinh hiện

hành”, đồng thời, những pháp do các chủng

tử ấy hiện hành ra lại huân tập thành những

chủng tử mới trong Tàng thức, đây gọi là

“Hiện hành huân chủng tử”, cứ như thế xoay

vần tương sinh, làm nhân làm quả cho nhau

mà tạo thành quan hệ “Chủng tử sinh hiện

hành, hiện hành huân chủng tử”.

(xt. A Lại Da Thức).

LẠI DA TAM TÀNG

Thức A lại da có 3 nghĩa là Năng tàng,

Sở tàng và Chấp tàng.

1. Năng tàng: Nói theo sự quan hệ giữa

thức A lại da và chủng tử, thức A lại da là

cái nhỏ nhiệm, sinh diệt liên tục, không đầu

cuối cũng không gián đoạn, có năng lực cất

chứa, gìn giữ chủng tử của các pháp, không

để mất mát, nên gọi là Năng tàng, còn chủng

tử là Sở tàng(cái bị cất chứa).

2. Sở tàng: Nói theo sự quan hệ của 7

chuyển thức năng huân với thức A lại da sở

huân, thì Năng huân là Năng tàng, Sở huân

là Sở tàng. Bảy chuyển thức có tác dụng hiện

hành các pháp, ngay trong sát na hiện hành,

các thức ấy đã lại huân tập chủng tử mới

vào trong thức A lại da, gọi là Tân huân

chủng tử.

3. Chấp tàng: Thức A lại da là cái kho

cất chứa tất cả chủng tử của các pháp do 7

chuyển thức huân tập vào. Thức này sinh

diệt liên tục và vô cùng nhỏ nhiệm nên giống

như 1 chủ thể thường hằng bất biến. Chính

vì thế mà thức thứ 7 chấp lầm là thực ngã,

đó là căn nguyên của ngã kiến.

[X. Thành duy thức luận thuật kí Q.2

phần cuối]. (xt. A Lại Da Thức).

LẠI DA TAM TƯỚNG

Ba tướng của thức A lại da.

Tông Duy thức cho nhân và quả của các

pháp vốn có đủ trong tự thể của thức A lại

da, cho nên lập ra 3 tướng để nói rõ sự sai

khác giữa thể và nghĩa của thức A lại da, tức

là Tự tướng(sơ A lại da), Quả tướng(dị thục)

và Nhân tướng(nhất thiết chủng), trong đó,

lấy Tự tướng làm Thể tướng, còn 2 tướng

kia là Nghĩa tướng.

1.Tự tướng: Tướng của tự thể thức A lại

da, thức này có 3 nghĩa: Năng tàng, Sở tàng,

Chấp tàng(gọi là Lại da tam tàng), nó cùng

với các pháp tạp nhiễm(hữu lậu)làm duyên

cho nhau, vì thế hữu tình chấp nó làm tự

ngã, đây là nói rõ nghĩa tự tướng của thức

Năng biến thứ nhất có năng lực giữ gìn nhân

và quả. Bởi vì thức A lại da có thể giữ gìn

chủng tử của các pháp tạp nhiễm, giống như

kho chứa muôn vật, nên gọi là Năng tàng;

vì thức A lại da là chỗ huân tập, nương ở

của các pháp tạp nhiễm, cũng giống như kho

tàng là chỗ của muôn vật được cất chứa,

LẠI DA TAM TƯỚNG

 

L

2706

nên gọi là Sở tàng; vì thức A lại da thứ 8 này

bị thức Mạt na thứ 7 luôn chấp làm tự ngã,

cũng giống như kho tàng kiên cố cất giữ các

vật, nên gọi là Chấp tàng. Do đó nên biết

năng tàng là Nhân tướng, sở tàng là Quả

tướng, 2 tướng nhân quả bị thức Mạt na

chấp làm tự tướng của Lại da. Nếu lìa Tự

tướng thì không có Nhân tướng, Quả tướng;

mà nếu lìa Nhân tướng, Quả tướng thì không

thể có Tự tướng.

2. Quả tướng: Quả thể tổng báo của loài

hữu tình. Tức là quả Dị thục do nghiệp thiện

ác của thức A lại da ở quá khứ dẫn sinh.

Trong Tam tàng của Lại da thì Quả tướng là

sở tàng; trong 3 vị của Lại da thì nó thuộc

quả vị thiện ác nghiệp.

3. Nhân tướng: Tướng nguyên nhân của

muôn pháp. Thức A lại da có khả năng giữ

gìn tất cả chủng tử các pháp, không để mất

mát, là nguyên nhân sinh ra muôn pháp.

Trong Tam tàng Lại da nó là năng tàng, trong

3 vị Lại da, nó thuộc vị chấp trì tương tục

(nắm giữ liên tục).

[X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy

thức luận thuật kí Q.2 phần cuối]. (xt. A Lại

Da Thức).

LẠI DA TAM VỊ

Tông Duy thức đem quá trình biến hóa

của thức A lại da thứ 8 từ Nhân vị đến Quả

vị chia làm 3 giai đoạn để thuyết minh, gọi

là Lại da tam vị. Đó là:

1. Ngã ái chấp tàng hiện hành vị: Giai

đoạn thức A lại da thứ 8 bị thức Mạt na thứ

7 chấp làm thực ngã, thực pháp.

2. Thiện ác nghiệp quả vị: Giai đoạn

quả báo nghiệp thiện ác của thức A lại da

nối nhau sinh khởi.

3. Tương tục chấp trì vị: Giai đoạn thức

A lại da nắm giữ tất cả chủng tử của các

pháp thiện, ác, vô kí, hữu lậu, vô lậu…

[X. Thành duy thức luận thuật kí Q.2

phần cuối]. (xt. A Lại Da Thức).

LẠI DA TỨ PHẦN

Bốn phần vị của thức A lại da.

Cứ theo Phiên dịch danh nghĩa tập quyển

15, thì thức A lại da thứ 8 có thể cất chứa

tất cả chủng tử thiện ác, có đủ nghĩa 4 phần

như sau:

1. Tướng phần: Tướng tức là hình tướng;

tướng phần có 3 loại:

a) Cảnh tướng: Thức thứ 8 hay duyên

với 6 thức mà có các cảnh giới.

b) Tướng trạng: Các pháp hữu vi ở thế

gian đều có tướng trạng, đều do thức thứ 8

biến hiện ra.

c) Nghĩa tướng: Tướng của giáo năng

thuyên và lí sở thuyên cũng đều là thức thứ

8 biến hiện.

2. Kiến phần: Kiến là chiếu rọi, gồm có

5 thứ: Chứng kiến, Chiếu xúc, Năng thuyên,

Niệm giải và Suy đạc.

3. Tự chứng phần: Tự chứng tức là tự

mình chứng biết các pháp sẵn có. Nghĩa là

thức thứ 8 nắm giữ Tướng phần và Kiến

phần mà vẫn có thể chứng biết Kiến phần

của mình khi duyên với Tướng phần một

cách rõ ràng chính xác.

4. Chứng tự chứng phần: Chứng tức là

thể năng chứng; Tự chứng tức là pháp sẵn

có. Nghĩa là thức thứ 8 duy trì Tự chứng

phần, Kiến phần, Tướng phần làm bản thể

của mình, mà vẫn chứng biết phần Tự chứng

của mình khi duyên theo Kiến phần không

hề lầm lẫn.

(xt. Tứ Phần, A Lại Da Thức).

LẠI TRA HÒA LA

Phạm:Ràwỉrapàla.

Pàli:Raỉỉhapàla.

Cũng gọi La tra ba la, Lại tra bạt đàn.

Hán dịch: Hộ quốc, Đại tịnh chí.

LẠI TRA HÒA LA

 

L

2707

Vị đệ tử của đức Phật, người nước Cư

lâu (Phạm:Kura) ở phía Tây bắc Trung Ấn

độ, là con của nhà phú hào Thâu lô tra thôn

(Phạm:Thullakoỉỉhita).

Khi đức Phật đến nước này hóa đạo, Lại

tra hòa la xin theo Phật xuất gia, sau khi

giác ngộ, trở về nước. Cha mẹ Ngài lập mưu

dùng gái đẹp dụ dỗ Ngài hoàn tục, trái lại cô

gái ấy nghe lời răn dạy của Ngài phát tâm

qui Phật. Về sau, Ngài còn độ cho vua Câu

lao bà (Phạm:Koravga).

Sau này bồ tát Mã minh ở thành Hoa

thị (Phạm:Pàỉiliputra) đem sự tích của Ngài

soạn thành vở kịch “Lại tra hòa la”, rồi đích

thân trình diễn, rất được dân chúng ưa thích

và khen ngợi, khiến cho 500 vị Vương tử và

nhiều thị dân bỏ tục xuất gia, do đó vở kịch

bị nhà vua nghiêm cấm.

[X. kinh Trung a hàm Q.31; kinh Soạn

tập bách duyên Q.9; luật Tứ phần Q.3; Phó

pháp tạng nhân duyên truyện Q.5].

LẠI TRA HÒA LA KINH

I. Lại Tra Hòa La Kinh.

Cũng gọi La hán lại tra hòa la kinh.

Kinh, 1 quyển, do ngài Chi nghiêm dịch

vào đời Ngô, được thu vào Đại chính tạng

tập 1.

Nội dung kinh này thuật lại việc tôn giả

Lại tra hòa la nghe đức Phật nói pháp mà

lập chí xuất gia, chứng được quả A la hán.

Mười năm sau trở về nhà thuyết pháp độ

cho cha mẹ.

Ngoài ra, kinh Lại tra hòa la trong Trung

a hàm do ngài Tăng già đề bà dịch là cùng

bản Phạm mà dịch khác của kinh này.

II. Lại Tra Hòa La Kinh.

Cũng gọi Lại tra hòa la sở vấn Đức quang

thái tử kinh, Đức quang thái tử kinh.

Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ

dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại

chính tạng tập 3.

Nội dung kinh này nói về việc đức Phật

dạy tôn giả Lại tra hòa la là Bồ tát phải vâng

làm 4 việc thanh tịnh, đồng thời thuật lại

quá trình học Phật của Thái tử Đức quang.

LAM BÀ

…..

Phạm:Lambà.

Một trong 10 nữ La sát giữ gìn, che chở

người tụng trì kinh Pháp hoa. Phẩm Tổng

trì trong kinh Chính pháp hoa dịch là Kết

phược.

Hình tượng của Lam bà giống như Dược

xoa, mặc áo màu xanh, tay phải cầm cây

chày 1 chĩa, tay trái cầm xâu chuỗi.

[X. phẩm Đà la ni kinh Pháp hoa Q.7;

Pháp hoa thập la sát pháp]. (xt. Thập La

Sát Nữ).

LAM CÁT PHÚ (1943-?)

……..

Ông là người Nam đầu, Đài loan, tốt

nghiệp sở Nghiên cứu Sử học tại Đại học

Đông hải, là giáo sư môn Lịch sử tại các Đại

học Trung hưng, Đông hải, Văn hóa, v.v…

Chủ giảng viện Nghiên cứu Phật giáo Trung

quốc ở Phật quang sơn, sáng lập nhà Xuất

bản Di lặc.

Ông có các tác phẩm: Tùy đại Phật giáo

sử thuật luận, Hiện đại Trung quốc triết học,

Tứ đại Bồ tát Thánh đức tùng thư, Hiện đại

Phật giáo đại hệ, Thế giới Phật giáo danh

trứ dịch tùng…

LAM MA QUỐC

Phạm: Ràmaràma.

Pàli:Ràmagàma.

Cũng gọi La ma thôn, La ma già quốc, A

ma la quốc, Lam mạc quốc, La ma tụ lạc.

Tên 1 nước xưa nằm về phía đông thành

Ca tì la vệ, thuộc Trung Ấn độ.

Theo Cao tăng Pháp hiển truyện, sau khi

LAM MA QUỐC

 

L

2708

đức Phật nhập diệt, nước này được chia cho

1 phần xá lợi, xây tháp cúng dường gọi là

tháp Lam ma. Trong cái ao ở bên cạnh tháp

có rồng, thường giữ gìn tháp này. Khi vua A

dục ra đời, muốn chia xá lợi của 8 tháp làm

84.000 tháp để thờ trên toàn cõi Ấn độ. Vua

đã lấy xá lợi trong 7 tháp kia rồi, khi đến

nước Lam ma thì rồng giữ tháp hiện lên cản

trở việc mở tháp, từ đó tháp này trở thành

hoang phế.

Còn theo Đại đường tây vực kí quyển 6,

tháp Lam ma được xây cất ở phía đông nước

Lam ma. Cách tháp này hơn 100 dặm là nơi

Thái tử Tất đạt đa quyết chí xuất gia và cởi

bỏ y phục quí giá, vòng ngọc cho Xa nặc

mang về cung.

Theo A. Cunningham, vị trí nước La ma

xưa là vùng Deokali ở giữa 2 con sông

Kohàna và Aumi, chi nhánh của sông

Gogra hiện nay. Nhưng theo ông V. Smith

thì nó ở vùng Dharmaurì, khoảng giữa

Nepal và Gorakpur hiện nay.

[X. Đại sử (Pàli:Mahàvaôsa, xxxi);

kinh Trường a hàm Q.4; luật Thập tụng

Q.60; Phiên Phạm ngữ Q.8; A. Cunningham:

Ancient Geography of India; V. Smith:

Kusinàrà, orKuzinagara, and other Buddhist

holy places].

LAM TÌ NI VIÊN

Lam tì ni, Phạm,Pàli:Lumbinì.

Cũng gọi Lưu di ni viên, Lâm vi ni viên,

Long di nễ viên, Lạp phạt ni viên, Luận dân

viên, Lâu tì viên, Long tần viên, Lân tì viên,

Lâm nhi viên.

Hán dịch: Hoa quả đẳng thắng diệu sự

cụ túc, Lạc thắng viên quang, Giải thoát xứ,

Khả ái, Hoa hương, Đoạn, Diệt, Diêm.

Khu vườn hoa nằm ở khoảng giữa Câu

lợi và Ca tì la vệ thuộc Trung Ấn độ đời

xưa, do vua Thiện giác (Phạm:

Suprabuddha) kiến tạo, dành cho Hoàng

hậu Lam tì ni, cũng là nơi đức Phật đản sinh.

Vườn này từng đã 1 thời bị bỏ hoang,

mãi sau khi trụ đá của vua A dục được phát

hiện, người ta mới biết đây là Thánh địa nơi

đức Phật đản sinh, từ đó mọi người hết lòng

giữ gìn bảo vệ.

Vườn Lam tì ni hiện nay nằm trên lãnh

thổ nước Népal. Diện tích vườn chiều đông

tây khoảng 30 mét, chiều Nam bắc 20 mét,

trong đó có ao tắm hình vuông và ngôi nhà

bằng gạch, có tên là nhà thờ Lỗ mục mễ

điệt, vách bên trong mặt chính có khắc tượng

phu nhân Ma da bằng đá, là tác phẩm của

thời đại Vương triều Cấp đa (Phạm:Gupta)

hoặc sau đó.

[X. Bản sinh kinh Phật truyện (Pàli:

Jàtaka-nidàna); kinh Tạp a hàm tập 23;

kinh Trường a hàm Q.4; phẩm Sinh trong

Phật sở hành tán Q.1; kinh Bát đại linh tháp

danh hiệu; A dục vương truyện Q.1; điều

Kiếp tỉ la phạt tốt đổ quốc trong Đại đường

tây vực kí Q.6; thiên Tây vực trong Đông

Tây giao thiệp sử chi nghiên cứu; V. Smith:

Azoka; S. N. Majumdar: Cunningham’s

Ancient Geography of India].

LAM VŨ

…..

Nói đủ là già lam, đường vũ, tức chỉ cho

chùa viện của Phật giáo.

(xt. Già Lam).

LAM VŨ

Di tích vườn Lam tì ni

 

L

2709

LẠM BA QUỐC

Lạm ba, Phạm: Lampàka.

Cũng gọi Lam bà quốc, Lãm ba quốc, Bà

ca quốc.

Tên một nước xưa ở vùng Tây bắc thuộc

Bắc Ấn độ. Nước này tương đương với

Laghman ở giữa Kabul (thuộc Afghanistan)

và miền Tây bắc Ấn độ.

Theo Đại đường tây vực kí quyển 2,

nước Lạm ba chu vi hơn 1000 dặm, nội

thuộc nước Ca tất thí. Khí hậu ấm áp,

không có tuyết; phong tục vui nhộn, dân

thích hát xướng, ngâm vịnh, tính tình nhút

nhát, dối trá, dáng người thấp bé, cử động

nhẹ nhàng, phần nhiều mặc áo bằng lông

thú mầu trắng. Có hơn 10 ngôi chùa, tăng

chúng rất ít và hầu hết tu học theo giáo

pháp Đại thừa. Có mấy mươi ngôi đền thờ

trời, ngoại đạo rất đông.

Theo Vãng ngũ thiên trúc quốc truyện

của ngài Tuệ siêu (546-622) người Tân la,

thì Lạm ba lúc bấy giờ là thuộc địa của nước

Kiện đà la. Ngoài ra, Hữu bộ tì nại da quyển

46; kinh Phật mẫu đại khổng tước minh

vương quyển trung và phẩm Thuyết mật ấn

trong kinh Đại bi không trí kim cương đại

giáo vương nghi quĩ quyển 2… đều có nói

đến tên nước này.

[X. kinh Khổng tước vương chú

Q.thượng; Thích ca phương chí Q.thượng;

Tống sử liệt truyện thứ 249].

LÃM

Cũng gọi Lạm.

Là chữ (raô) Tất đàm.

Chữ này được tạo thành bởi chữ (la)

chủng tử của Hỏa đại trong 5 đại và thêm

dấu chấm “.”(đại không), tượng trưng cho

sự đốt cháy các bụi nhơ, là chủng tử của

lửa trí tuệ diệt sạch các phiền não. Chữ

này tương đối với chữ (Tông,biểu thị

nước trí tuệ).

Trong Mật giáo, khi tu pháp, hành giả

dùng chữ Lãm quán tưởng các pháp y báo

chính báo thanh tịnh, kết ấn, tụng chân ngôn

Khi gia trì nước thơm thì dùng chữ Lãm,

chữ Tông để gia trì.

[X. Đại nhật kinh sớ Q.8].

LÃM THỰC THÀNH QUYỀN

Đối lại: Dẫn quyền qui thực.

Vận dụng chân thực thành tạm thời.

Nghĩa là nắm giữ giáo pháp chân thực

mà vận dụng thành phương tiện tạm thời

một cách khéo léo. Đây là thuật ngữ phán

giáo của tông Hoa nghiêm.

Ngài Trí nghiễm, Pháp tạng, v.v… của

tông Hoa nghiêm chia Thánh giáo Như lai

nói trong 1 đời làm 2 loại là Tam thừa và

Nhất thừa. Rồi trong Nhất thừa lại chia

thành Đồng giáo và Biệt giáo, lấy thuyết “Hội

tam qui nhất”(hội 3 về 1) của kinh Pháp

hoa làm “Đồng giáo nhất thừa”, thuyết

“Thập thập vô tận” của kinh Hoa nghiêm

làm “Biệt giáo nhất thừa”.

Trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương

quyển 1, khi giải thích về Đồng giáo nhất

thừa, ngài Pháp tạng chia làm 2 môn: Phân

chư thừa môn và Dung bản mạt môn. Dung

bản mạt tức là danh nghĩa của Đồng giáo là

lấy Nhất thừa làm bản(gốc), lấy Tam thừa

làm mạt(ngọn), rồi mới dung hợp Nhất thừa

và Tam thừa. Kế đó lại chia làm 2 môn: Dẫn

quyền qui thực(đưa tam thừa về chân thực)

và Lãm thực thành quyền. Trong đó, Dẫn

quyền qui thực tức là Nhất thừa, Lãm thực

thành quyền tức là Tam thừa.

LAN BỒN HỘI

Tức là hội Vu lan bồn, hội này bắt nguồn

từ kinh Vu lan bồn.

LAN BỒN HỘI

 

L

2710

Theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 13, Vu

lan bồn, tiếng Phạm là: Ullambana, Hán

dịch: đảo huyền, nghĩa là treo ngược. Hội

Vu lan bồn được tổ chức vào ngày rằm tháng

7 hàng năm.

(xt. Vu Lan Bồn).

LAN HƯƠNG SAO

Cũng gọi A lê thụ chi.

Đầu búp hoa lan hương.

Tuệ lâm âm nghĩa quyển 35 (Đại 54, 541

hạ), nói: “Khi hoa lan hương nở thì ở đầu

nụ hoa chia ra làm 7 cánh, đức Phật dùng

để ví dụ thiện thần đập đầu tội nhân vỡ làm

7 mảnh, giống như đầu hoa kia”.

Xưa dịch A lê thụ chi là sai, vì ở Ấn độ

không có cây A lê.

[X. kinh Đại khổng tước vương

Q.thượng]. (xt. A Lê Thụ Chi).

LAN THẤT

Tên gọi khác của chùa viện, tinh xá. Lan,

hoặc là gọi tắt của A lan nhã, hoặc lấy nghĩa

mùi thơm của hoa lan.

Bài tựa của ông Trương thuyết trong Đại

đường tây vực kí (Đại 51, 868 thượng), nói:

“Sự nghiệp của ngài cực kì xán lạn, hơn cả

rừng chiên đàn, đức hạnh của ngài hợp với

đạo trung dung, hương thơm ngào ngạt khắp

lan thất”.

LAN THUẪN

Lan là dọc, thuẫn là ngang, tức chỉ cho

lan can quanh nhà, hoặc hàng rào bao bọc

gốc cây.

Thiền uyển thanh qui quyển 10 (Vạn tục

111, 467 hạ), nói: “Nơi điện Phật tôn nghiêm

để đốt hương, chiêm lễ, không được đứng

dựa lan can, châu đầu nói, cười”.

Ngoài ra, kinh Di đà ghi, ở cõi nước Cực

lạc, có 7 lớp lan thuẫn, 7 lớp lưới giăng, 7

lớp hàng cây, v.v…

LAN XA ĐÃI

I. Lan Xa Đãi.

Tiếng Ấn độ, có nghĩa là khen ngợi.

Theo Chu tử ngữ lục, ông Vương đạo

đời Đông Tấn thường gọi các vị tăng Ấn độ

là Lan xa đãi.

Có thuyết cho rằng Lan xa tức là Lan

nhã, nghĩa là yên tĩnh, vắng lặng; Đãi nghĩa

là chờ đợi. Bởi thế, Lan xa đãi cũng có hàm

ý hướng tới chỗ an tĩnh.

II. La Xa Đãi.

Tên của hương Hoàng thục được cất giữ

ở viện Chính thương tại chùa Đông đại ở

Nại lương, Nhật bản. Về ý nghĩa của loại

hương này thì không được rõ. Chỉ biết nó

đã từ Bách tế (Đại hàn) được truyền vào Nhật

bản trong năm Thiên bình (729-749) đời

Thiên hoàng Thánh vũ.

LẠN THOÁT

Cũng gọi Loạn thoát.

Có nghĩa là rối tung, đảo lộn.

Vì muốn đề phòng kẻ có tâm kiêu căng

ngạo mạn, cậy mình có trí tuệ mà giảng

giải sai lầm, tự làm tổn hại mình và tổn

hại người khác, cho nên bậc cao minh cố

ý đảo lộn câu văn trong kinh điển, làm

cho nghĩa lí không thông suốt, khiến kẻ

kia không thể hiểu thấu mà bỏ tâm cống

cao ngã mạn, phải nương theo bậc minh

sư chỉ bảo mới hiểu được ý kinh. Đây là

phương tiện khéo léo để ngăn ngừa nhân

duyên phá pháp. Kinh Đại nhật và Đại

nhật kinh sớ của Mật giáo thường dùng

Lạn thoát. Lạn thoát trong các bộ sớ có

rất nhiều loại, nếu muốn chỉ rõ thì có kí

hiệu nhất định.

[X. Đại nhật kinh sớ Q.5, 18].

LẠN THOÁT

 

L

2711

LANG

..

Cũng gọi Tế điện, Độ điện.

Tức là hành lang, một kiến trúc được

thiết kế để tiện cho việc qua lại giữa các điện

đường và phòng xá.

Hành lang thông gió giữa các cây cột và

câu lan, ở trên không có mái che, có thể

thông suốt, gọi là Thấu lang. Nếu hành lang

được thiết kế chung quanh điện đường và

có hình cây cầu thì gọi là Kiều lang, hoặc

Phản độ lang. Nếu hành lang uốn khúc

quanh co, thì gọi là Tí chiết lang; nếu hành

lang có nhiều khúc quanh liên tiếp nhau,

thì gọi là Long vĩ đạo (đường đuôi rồng).

LANG GIA SƠN GIÁC HÒA THƯỢNG NGỮ LỤC

Cũng gọi Lang gia Giác ngữ lục.

Gọi đủ: Trừ châu Lang gia Sơn giác hòa

thượng ngữ lục.

Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Lang gia Tuệ

giác thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Tống,

do các môn nhân biên tập và được ấn hành

vào khoảng năm Vĩnh lạc (1403-1424) đời

Minh, được xếp vào Cổ tôn túc ngữ lục

quyển 46 trong Vạn tục tạng tập 118.

Nội dung thu chép lời khai thị đại chúng,

thướng đường, tiểu tham, niêm cổ, v.v… của

ngài Tuệ giác.

LANG TÍCH SƠN

Tên khác của núi Kê túc (bên Ấn độ), là

nơi ngài Ma ha Ca diếp nhập định.

[X. kinh Ma ha ma da Q.hạ; Huyền ứng

âm nghĩa Q.8]. (xt. Kê Túc Sơn).

LÃNG ĐẠT MA VƯƠNG

Tạng: Glaídar-ma.

Cũng gọi Lãng đạt mã vương.

Vua nước Tây tạng, ở ngôi năm 836-841

(hoặc 838-842).

Ông vốn tên là Đạt ma (Tạng: Dar-ma),

nhưng do tính tình tàn ác bạo ngược như

con trâu mộng (Tạng:glaí) nên bị gọi là

Lãng đạt ma(Đạt ma trâu mộng). Anh của

ông là vua Lai ba thiệm vì hết sức bảo hộ

Phật giáo nên bị tín đồ Bổng giáo giết hại.

Sau khi lên nối ngôi, Lãng đạt ma liên kết

với Bổng giáo đàn áp Phật giáo một cách

khốc liệt. Ông ra lệnh cấm chỉ Phật giáo,

đóng cửa chùa viện, bắt tăng ni hoàn tục,

cưỡng bức họ trở thành thợ săn và đồ tể, ai

không tuân lệnh đều bị giết chết; ông còn

ra lệnh đốt hết toàn bộ kinh điển Phật giáo.

Nền tảng của Phật giáo Tây tạng do vua

Khất lật song đề tán xây dựng 100 năm

qua và sự nghiệp 20 năm của vua Lai ba

thiệm vun bồi làm cho hưng thịnh đều bị

ông phá hủy. Tương truyền trong thời gian

bị bách hại này, phần lớn kinh luận Phật

giáo được chư tăng và tín đồ đem vào hang

núi Lhasa cất giấu.

Năm 841, vua Lãng đạt ma bị Lạt ma

Cát tường Kim cương (Tạng: Dpal-gyi rdorje)

ám sát.

[X. Ch. Bell: The Religion of Tibet, 1931;

G. Tucci: Tibetan Painted Scrolls, 1949]. (xt.

Tây Tạng Phật Giáo).

LÃNH ĐỊA LÍ HỌC KHÁCH THUNG

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Lãnh địa (nơi thanh nhàn, lạnh lẽo): Chỉ

cho cảnh giới yên tĩnh, vắng vẻ. Khách thung

(người giã gạo): Chỉ cho Lục tổ Tuệ năng giã

gạo trong 8 tháng lúc mới đến tham học

Ngũ tổ Hoằng nhẫn ở núi Hoàng mai. Lãnh

địa lí học khách thung, nghĩa là Thiền giả

trong cảnh tĩnh lặng, nương theo nghĩa lí

mà tu hành, giống như tâm cảnh lúc ngài

Tuệ năng giã gạo. Trái lại, nếu Thiền giả

không theo nghĩa lí mà tu hành, chẳng lí

LÃNH ĐỊA LÍ HỌC KHÁCH THUNG

 

L

2712

hội việc bổn phận, xét cho rõ bản lai diện

mục, mà chỉ 1 lòng mong cầu được phúc

tuệ, tiêu trừ nghiệp chướng thì cách Phật

đạo còn xa.

[X. Thiền quan sách tiến tiền tập].

LÃNH GIẢI

Cũng gọi Lãnh ngộ, Giải hội, Lãnh lãm,

Lãnh đắc.

Hiểu rõ những điều người khác chỉ dạy

mà được khai ngộ, gọi là Lãnh giải.

Cứ theo Pháp hoa văn cú kí quyển 5 phần

1, thì lãnh là bên ngoài lãnh nghe lời Phật

dạy; giải là bên trong ngộ được ý Phật.

[X. kinh Giải thâm mật Q.2]. (xt. Giải).

LÃNH NẠP

Thân tâm nhận lãnh những cảm giác vui

hay buồn.

Luận Thành duy thức quyển 3 (Đại 31,

11 hạ), nói: “Thụ nghĩa là lãnh nạp những

cảnh tượng thuận, nghịch, chẳng thuận,

chẳng nghịch làm tính”.

[X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết

hành sự sao Q.thượng phần 1, tiết 3].

LÃNH NOÃN TỰ TRI

Cũng gọi Lãnh nhiệt tự tri.

Nước nóng hay lạnh chỉ có người uống

tự biết, chứ không có cách nào diễn tả cho

người khác biết được. Trong Thiền tông,

nhóm từ này được sử dụng để ví dụ cho

cảnh giới đã đạt ngộ thì cũng chỉ có người

tự đạt ngộ biết được mà thôi, ngoài ra, không

thể giải thích cho người khác.

Điều Mông sơn Đạo minh trong Cảnh

đức truyền đăng lục quyển 4 (Đại 51, 232

thượng), nói: “Nay nhờ sự chỉ dạy mà thấy

được chỗ vào, như uống nước, lạnh nóng

tự biết”.

LÃNH TỌA

… ..

Thân ngồi ngay thẳng, tâm không tán

loạn, không dính mắc vào điều mình được,

chỗ mình ngộ, mà chỉ chuyên chú ngồi thiền.

Tắc 2 trong Thung dung lục (Đại 48, 228

hạ), nói: “Lặng lặng lãnh tọa Thiếu lâm, thầm

thầm toàn đề chính lệnh”.

LAO LỮ

I. Lao Lữ.

Chỉ cho người bị phiền não trói buộc.

Lao là trần lao, tên khác của phiền não.

Phẩm Đệ tử trong kinh Duy ma cật sở

thuyết quyển thượng (Đại 14, 540 hạ), nói:

“Vì cùng với bọn ma chung 1 tay, tạo các

lao lữ, nên ngươi cùng với bọn ma và các

trần, giống hệt như nhau”.

II. Lao Lữ.

Chỉ cho những người làm công việc lao

dịch, hoặc các nô bộc.

[X. Chính pháp nhãn tạng hành trì

Q.thượng].

LAO QUAN

Cửa ải kiên cố khó vượt qua, ví dụ cảnh

giới hướng thượng không thể dùng tư duy

phân biệt mà đạt đến được.

Cảnh đức truyền đăng lục quyển 16 (Đại

51, 331 trung), nói: “Một câu cuối cùng mới

đến lao quan, bít hết đường đi không thông

phàm thánh”.

LÃO

Phạm:Jarà.

Già suy, chỉ cho các pháp sắc, tâm liên

tục đổi khác, 1 trong 24 pháp Bất tương ứng

hành của tông Duy thức.

Sinh, lão, trụ, vô thường gọi là Tứ tướng,

LÃO

 

L

2713

trong đó, Lão tướng đương với Dị tướng của

Hữu bộ. Chi thứ 12 trong 12 duyên khởi là

Lão tử. Ngoài ra, sinh khổ, lão khổ, bệnh

khổ, tử khổ, được gọi là Tứ khổ.

(xt. Thập Nhị Nhân Duyên, Tâm Bất

Tương Ứng Hành, Lão Tử).

LÃO BÀ

Cũng gọi Bà tử.

Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng

để chỉ cho thái độ thân thiết ân cần của người

thầy chỉ dạy học trò, với tâm từ bi như bà

dạy cháu.

Phổ thông cho rằng giáo pháp của 2 ngài

Hoàng bá Hi vận và Đại ngu Thủ chi thân

thiết mà không hiềm sự phiền toái, nên

được gọi là: “Hoàng bá lão bà, Đại ngu

nhiều lời”.

Lâm tế lục hành lục (Đại 47, 504 hạ),

chép: “Ngài Đại ngu nói rằng: Hoàng bá với

tâm lão bà đã vì ngươi mà quá mệt mỏi”.

Ngoài ra, đối với tấm lòng cực kì thiết

tha chỉ dạy người học của bậc thầy, gọi là

Lão bà tâm thiết, gọi tắt là Bà tâm.

[X. Lâm tế lục khám biện; tắc 11 trong

Thiết địch đảo xuy].

LÃO BÀ THIỀN

Chỉ cho thiền phong của bậc thầy dùng

thái độ ân cần thân thiết trong khi chỉ dạy

người học.

Từ ngữ Lão bà thiền có hàm ý khinh

miệt, bởi vì bậc thầy nên dựa theo căn tính

của người học mà dùng phương tiện khéo

léo để tiếp dắt, chứ nếu cứ 1 mặt ân cần

thiết tha chỉ dạy thì trở ngại cho việc người

học tự tìm tòi, tham cứu, sẽ mất đi cơ hội

khai phát trí tuệ; như vậy thực trái với tông

chỉ “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền”

của Thiền tông.

Lâm tế lục khám biện (Đại 47, 503 trung),

chép: “Ngài Phổ hóa đưa tay chỉ và nói: Hà

dương là nàng dâu mới, Mộc tháp là lão bà

thiền, Lâm tế là đứa trẻ thơ nhưng lại có đủ

con mắt”.

LÃO HỒ

Chỉ cho đức Phật Thích ca và Tổ Đạt

ma.

Ngoài ra còn có từ ngữ “Hồ chủng tộc”

(dòng dõi Ấn độ) chỉ cho môn đệ của Tổ Đạt

ma, hoặc chỉ chung cho hàng Phật tử.

Đại tuệ Phổ giác thiền sư ngữ lục quyển

25 (Đại 47, 918 hạ), chép: “Lão hồ nói rằng:

Chân như không giữ tự tính, nhưng tùy theo

nhân duyên mà thành tựu tất cả các pháp”.

(xt. Hồ Chủng Tộc).

LÃO KHỔ

Phạm:Jarà-du#kha.

Pàli:Jarà-dukkha.

Những nỗi khổ não mà chúng sinh phải

chịu khi thân thể đến lúc già suy. Là 1 trong

4 cái khổ, 1 trong 8 nỗi khổ.

Cứ theo luận Du già sư địa quyển 61,

con người đến lúc già sẽ có 5 tướng suy

thoái: Sắc đẹp, khí lực, các căn(mắt lòa, tai

điếc, v.v…), cảnh giới thụ dụng(ít ăn, kém

ngủ, v.v…)và thọ lượng(tuổi thọ giảm dần).

Năm tướng suy thoái này gọi là Khổ.

Cứ theo kinh Phân biệt Thánh đế trong

Trung a hàm quyển 7, chúng sinh đến lúc

già thì tóc bạc, răng rụng, sức khoẻ suy giảm,

lưng gù, gối mỏi, đi lại phải chống gậy, bắp

thịt teo dần, các căn chậm lụt, nhan sắc

xấu xí, thân tâm chịu nhiều khổ sở. Đó là

Lão khổ.

[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.6, 18; kinh

Tu hành bản khởi Q.hạ; kinh Đại bát niết

bàn Q.12 (bản Bắc); luận Đại tì bà sa Q.78;

Đại thừa nghĩa chương Q.3 phần đầu]. (xt.

Bát Khổ, Tứ Khổ).

LÃO KHỔ

 

L

2714

LÃO NẠP

Cũng gọi: Nạp tăng, Nạp tử, Dã nạp, Bố

nạp, Tiểu nạp.

Từ ngữ gọi chung các vị tỉ khưu, hàm ý

nhún nhường. Nạp là áo vá, chúng tăng mặc

áo vá nên tự xưng là Lão nạp.

Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục quyển

14 (Đại 47, 777 hạ), nói: “Lão nạp thường

giữ gìn giới luật để tự khế hợp với điều mình

chứng được, tùy theo sức mà thụ dụng”.

LÃO THIẾU BẤT ĐỊNH

Tuổi thọ không nhất định. Nghĩa là

người già sinh ra trước, chưa hẳn đã chết

trước, mà người trẻ sinh sau chưa hẳn đã

chết sau, đây là hình dung sự sống chết của

con người là vô thường, bất định. Nhưng

người ta ở đời phần nhiều không rõ chân lí

ấy, nên trong cảnh già trẻ bất định, biến hóa

đổi dời như vậy, mà cứ mong muốn mình

sống lâu nghìn tuổi.

LÃO TỬ

Phạm,Pàli:Jarà-maraịa.

Cũng gọi Lão tử chi.

Già và chết, chỉ chung cho sự suy biến

hoại diệt của chúng sinh, là 1 trong 12 nhân

duyên.

Theo thuyết Tam thế lưỡng trùng nhân

quả, trong 12 chi nhân duyên, thì chi sinh

và chi lão tử là 2 quả vị lai; sau khi xả bỏ

thân mệnh đời hiện tại, thì ngay trong 1

sát na đầu tiên 5 uẩn tu tập để hình thành

sự sống mới, gọi là sinh; trái lại, những sát

na sau khi thức sinh khởi, danh sắc, lục

nhập, thụ, ái dần dần tăng trưởng cho đến

dị diệt, gọi là lão tử. Trong đó, lão là sự suy

biến của sắc và tâm, tử là sự hoại diệt của

thọ mệnh.

Ngoài ra, các nhà Duy thức đem phối

hợp Nhị thế nhất trùng nhân quả với 12

nhân duyên, cho rằng sinh và lão tử thuộc

về chi sinh, còn sự suy biến của 5 uẩn dị

thục do 3 chi ái, thủ, hữu sinh ra, cho

đến thân hoại mệnh chung mới là chi

lão tử.

Lại theo luận Thành duy thức quyển 8,

thì trong 4 thứ sinh, lão, bệnh, tử, lập riêng

sinh làm 1 chi; còn lão và tử hợp chung lại

làm 1 chi; bệnh thì không thể lập làm 1 chi,

bởi vì bệnh chẳng phải tất cả chúng sinh

nhất định đều có, còn lão tuy chẳng phải

nhất định đều có, nhưng mà phổ biến tất

cả, nên lập làm 1 chi.

[X. kinh Tạp a hàm Q.12; kinh Đại nhân

trong kinh Trung a hàm Q.24; kinh Đại

duyên phương tiện trong Trường a hàm

Q.10; luận Đại tì bà sa Q.23; luận Câu xá

Q.9; luận Thuận chính lí Q.25, 26]. (xt. Thập

Nhị Nhân Duyên).

LÃO TỬ HÓA HỒ KINH

Kinh của Đạo giáo, do Đạo sĩ Vương phù

soạn vào khoảng những năm cuối đời Huệ

đế nhà Tây Tấn, bản hiện còn chỉ có 2 quyển

được thu vào Đại chính tạng tập 54.

Vương phù thường tranh luận với ngài

Bạch viễn về Đạo giáo và Phật giáo, nhưng

Đạo giáo thường bị luận phá, Vương phù

cảm thấy rất nhục nhã nên ngụy tạo kinh

này, ý muốn đưa Đạo giáo lên trên Phật

giáo.

Nội dung kinh này nói rằng Lão tử qua

Tây vực, rồi đến Ấn độ, chuyển sinh làm

Thích ca mà giáo hóa người Hồ(tức người

Ấn độ). Khi kinh này vừa xuất hiện, thì

đầu tiên có luận “Tiếu đạo” (cười Đạo giáo)

của quan Ti lệ đại phu là Chân loan đời

Bắc Chu bắt bẻ; kế đến có các luận Phá

tà, Biện chính, Tập cổ kim Phật đạo luận

hành, v.v… ở đời Đường lần lượt phê phán

LÃO TỬ HÓA HỒ KINH

 

L

2715

kinh này. Niên hiệu Tổng chương năm đầu

(668) đời vua Cao tông nhà Đường, kinh

này bị thiêu hủy. Đến niên hiệu Thần long

năm đầu (705) đời vua Trung tông, kinh

này lại bị nghiêm cấm. Qua đời Tống, tuy

có 1 thời gian kinh này được lưu truyền,

nhưng sang đời Nguyên lại bị cấm ngặt,

cho đến tuyệt tích.

Thời gần đây, ông Bá hi hòa (P. Pelliot),

1 học giả người Pháp, đã tìm thấy kinh này

ở Đôn hoàng, toàn bộ có 10 quyển, nhưng

chỉ còn quyển thứ 1 và quyển thứ 10. Quyển

thứ 1 của bản Đôn hoàng đề là “Lão Tử Tây

Thăng Hóa Hồ Kinh Tự Thuyết Đệ Nhất”,

cuối quyển thứ 10 đề là “Lão Tử Hóa Hồ

Kinh Quyển Đệ Thập”. Căn cứ vào sự

nghiên cứu, thì nội dung của bản được xếp

vào Đại chính tạng và nội dung của Lão Tử

Hóa Hồ Kinh của Đạo sĩ Vương phù khác

nhau rất xa, lí do như sau:

1. Hóa Hồ kinh của Vương phù chỉ có 1

quyển, nhưng bản Đôn hoàng lại có những

10 quyển.

2. Bản Đôn hoàng đề là: “Lão tử tây thăng

hóa Hồ kinh tự thuyết đệ nhất”, nhưng bản

của Vương phù thì không gọi là “Lão tử tây

thăng hóa Hồ kinh”.

3. Bản Đôn hoàng có bao hàm tư tưởng

Ma ni giáo khá sâu đậm, do đó, có thể suy

đoán bản này được soạn sau khi Ma ni giáo

đã được truyền vào Trung quốc ở đời Đường,

chứ không phải Lão tử hóa Hồ kinh do Đạo

sĩ Vương phù trứ tác.

Ngoài ra, bản tìm thấy ở Đôn hoàng cùng

với Dật văn khảo do Tưởng phủ thu chép,

Bổ khảo và Hiệu khám kí của La chấn ngọc

đều được đưa vào “Đôn Hoàng Thạch Thất

Di Thư”.

[X. Pháp hoa tam đại bộ bổ chú Q.13;

Lịch đại Tam bảo kỉ Q.11; Phật tổ thống kỉ

Q.39; Pháp tổ truyện trong Xuất tam tạng

kí tập Q.15; Đạo giáo chi cơ sở đích nghiên

cứu (Phúc tỉnh Khang thuận)].

LÃO TỬ HÓA HỒ THUYẾT

Thuyết nói về việc Lão tử sang Ấn độ

giáo hóa đức Phật, hoặc Lão tử chuyển sinh

làm Phật. Đây là 1 thuyết đặc biệt khác lạ

phát sinh vào thời gian tương tranh giữa Phật

giáo và Đạo giáo.

Cứ theo truyện Tương khải trong Hậu

Hán thư liệt truyện thứ 20 hạ, thì Lão tử

đến Di địch(ám chỉ Ấn độ với ý khinh miệt, vì

Di địch là mọi rợ)làm Phù đồ(Phật đà); còn

theo truyện Bùi chú dẫn Ngụy lược Tây

nhung trong Tam quốc chí Ngụy thư thứ

30, thì Lão tử ra biên ải đi về hướng tây, qua

Tây vực đến Thiên trúc giáo hóa người Hồ

(người Ấn), Phù đồ cũng là đệ tử của ông.

Trong những truyện trích dẫn trên đây

tuy không nói đến 2 chữ “hóa hồ” nhưng

là những ghi chép sớm nhất về thuyết Hóa

Hồ. Hoặc giả, truyện Lão Trang trong Sử

kí có nói Lão tử ra khỏi biên ải, sau đó

không biết chết ở đâu, rồi những người hiếu

sự dựa vào đó mà bịa ra thuyết Lão tử hóa

hồ chăng?

Có 2 nguyên nhân hình thành thuyết

Lão tử hóa hồ:

1. Tín đồ của Đạo giáo muốn nâng địa

vị Đạo giáo lên trên Phật giáo mà bịa ra

thuyết này.

2. Tín đồ Phật giáo muốn tông giáo ngoại

lai của mình bắt rễ vững chắc tại Trung quốc

để tồn tại và phát triển lâu dài nên tạo ra

thuyết này.

Từ 2 nguyên nhân trên mà có nhiều tác

phẩm liên quan đến kinh Lão tử hóa hồ xuất

hiện, như: Văn thủy tiên sinh vô thượng

chân nhân quan lệnh nội truyện và Hóa hồ

kinh trong phẩm Tây hồ, sách Tam động

châu nang quyển 9 (Đạo tạng 782), Lưu sa

bát thập nhất quốc cửu thập lục chủng ngoại

đạo trong truyện Do long quyển 4 (Đạo tạng

555), Hỗn nguyên thánh kí quyển 4, 5 (Đạo

LÃO TỬ HÓA HỒ THUYẾT

 

L

2716

tạng 552), kinh Lão tử hóa hồ bản Đôn

hoàng (Đại chính tạng tập 54), v.v…

Thuyết Lão tử hóa hồ khởi đầu từ những

năm cuối đời Lục triều, qua các đời Đường,

Tống đều có phong mạo khác nhau, có thể

chia làm 2 thuyết chính là:

1. Thuyết Lão tử đến nước Hồ giáo

hóa người Hồ, nghĩa là Lão tử có đến nước

Kế tân, nước Vu điền, nước Điều chi, v.v…

truyền pháp.

2. Thuyết Lão tử chuyển sinh làm Phật.

[X. Quảng hoằng minh tập Q.1; Pháp

kinh lục Q.2; luận Biện chính Q.5; luận Tiếu

đạo Q.hạ; Thích thị thông giám Q.1; Đôn

hoàng thạch thất di thư tập 3; Minh sa thạch

thất dật thư tục biên; Tảo đạo điền đại học

Văn học bộ biên triết học niên chí Q.4].

LẠP

..

Chiếc nón của vị tăng hành cước, gồm 2

loại: Nón tre và nón lá.

Điều Nhập viện trong Sắc tu Bách trượng

thanh qui quyển 3 (Đại 48, 1125 trung), nói:

“Người xưa lưng mang bao, đầu đội nón,

đến sơn môn(cửa Tam quan)bỏ nón xuống,

vào cửa đốt hương, nói pháp ngữ, đến trước

Tăng đường, cởi bao xuống”.

Ngoài ra, câu “Lạp trọng Ngô thiên tuyết”

(nón nặng tuyết trời Ngô), nghĩa bóng là “dầm

sương dãi tuyết”, là ý khen ngợi phong cách

của vị tăng hành cước, vai mang trọng trách

tu hành Phật đạo.

LẠP

..

Cũng gọi Hạ lạp, Niên lạp.

I. Lạp.

Chỉ cho Giới lạp, Pháp lạp, là số tuổi

của tỉ khưu tính từ khi thụ giới Cụ túc, sau

đó, cứ mỗi một hạ an cư tính thêm 1 tuổi.

Bài tụng Bách trượng qui thằng trong

Thiền uyển thanh qui quyển 10 (Vạn tục

111, 465 hạ), nói: “Người đầy đủ đức hạnh

có đạo nhãn đáng được tôn trọng, gọi là

Trưởng lão; bên Tây vực, các bậc đạo cao

lạp trưởng được tôn xưng là Trưởng lão, như

Trưởng lão Tu bồ đề, v.v…”

[X. Huyền ứng âm nghĩa Q.14]. (xt. Pháp

Lạp).

II. Lạp.

Gọi đủ: Lạp nguyệt(tháng chạp).

Chỉ cho tháng 12 âm lịch. Lạp vốn là

tên của lễ tế tự đời xưa ở Trung quốc, vì

Trung quốc thời ấy thường lấy tháng 12 âm

lịch làm tháng tế lễ, cho nên quen gọi tháng

12 là Lạp nguyệt.

Viên thông đại ứng quốc sư ngữ lục quyển

thượng (Đại 80, 106 trung), nói: “Đến ngày

30 tháng chạp(Lạp nguyệt), cũng chỉ như

thế; tháng chạp(lạp)qua, mùa xuân đến,

vẫn y như cũ, thử nói xem, đó là cái gì?”.

LẠP ẤN

Con dấu bằng sáp ong. Khuân dấu sáp

ong in trên đất sét, dấu sáp tuy chảy ra,

nhưng cùng hòa hợp với đất mà thành hình

chữ, ví dụ 5 ấm hiện tại tuy diệt nhưng sinh

ra 5 ấm “Trung hữu”.

Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển

29 (Đại 12, 535 hạ), nói: “Ví như ấn sáp in

trên đất sét, ấn và đất hòa hợp, ấn hoại thì

văn thành, nhưng ấn không phải đã biến

thành đất, mà hình các chữ cũng chẳng phải

do đất sinh, cũng không phải từ đâu đến,

mà do nhân duyên in vào đất sinh ra. Cũng

thế, 5 ấm hiện tại diệt thì 5 ấm của thân

Trung ấm sinh ra, 5 ấm của hiện tại diệt

không phải biến thành 5 ấm của Trung ấm;

5 ấm của Trung ấm chẳng phải tự nhiên

sinh, cũng chẳng phải từ cái khác sinh, nhưng

vì có 5 ấm hiện tại mà sinh 5 ấm của Trung

ấm, hệt như ấn sáp in vào đất sét, ấn hư

hoại mà hình chữ đã thành”.

(xt. Ấn Hoại Văn Thành).

LẠP ẤN

 

L

2717

LẠP BÁT

…..

Ngày mồng 8 tháng chạp âm lịch, ngày

đức Phật thành đạo.

Lạp vốn là tên của lễ cúng tế ở Trung

quốc vào cuối năm; vì Trung quốc đời xưa

thường lấy tháng 12 âm lịch làm tháng tế lễ,

nên gọi tháng chạp là Lạp nguyệt, gọi ngày

mồng 8 tháng 12 là Lạp bát.

Điều Phật thành đạo Niết bàn trong Sắc

tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48,

1116 thượng), nói: “Ngày mồng 8 tháng chạp

là ngày đức Bản sư Thích ca Như lai đại hòa

thượng thành đạo, đại chúng phải chuẩn bị

hương, hoa, đèn, nến, trà, quả cho trang

nghiêm, thanh tịnh để cúng dường”.

Vào ngày này, Phật tử Trung quốc phỏng

theo điển tích mục nữ(cô gái chăn bò)dâng

sữa cúng Phật, nấu cháo bằng gạo với trái

cây cúng dường đức Phật, gọi là Lạp bát chúc

(cháo mồng 8 tháng chạp).

Tại Nhật bản, kỉ niệm ngày đức Phật

thành đạo, từ ngày mồng 1 đến mồng 8 tháng

chạp, trong các chùa thuộc Thiền tông, suốt

ngày đêm chư tăng chỉ tọa thiền tu hành

chứ không làm bất cứ việc gì khác ngoại trừ

việc ăn uống và vệ sinh. Đến sáng sớm ngày

mồng 8, sau khi tụng chú Đại bi trước tượng

Phật Thích ca là kết thúc pháp hội kỉ niệm

Phật thành đạo. Pháp hội này được gọi là

Lạp bát nhiếp tâm, Lạp bát đại nhiếp tâm,

cùng với hội tắm Phật, hội Niết bàn, gọi

chung là Tam đại hội.

[X. kinh Trường a hàm Q.4; kinh Quán

tẩy Phật hình tượng; Đại Tống tăng sử lược

Q.thượng; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3].

LẠP BÁT CHÚC

……..

Cũng gọi Ngũ vị chúc, Hồng tao, Thất

bảo chúc, Phật chúc.

Cháo 5 vị dâng cúng Phật vào ngày mồng

8 tháng chạp âm lịch hằng năm, trong các

chùa viện.

Cứ theo Đại Tống tăng sử lược quyển

thượng và môn Ẩm đạm trong Thiền lâm

tượng khí tiên, thì thời nhà Tống bên Trung

quốc lấy ngày mồng 8 tháng chạp âm lịch

làm ngày Phật đản, các chùa lớn ở kinh đô

làm lễ tắm Phật, dùng các thứ trái cây, ngũ

cốc nấu thành cháo 7 báu, 5 vị, gọi là Lạp

bát chúc.

Trong các kinh không thấy nói nên dùng

những chất liệu gì để nấu cháo Lạp bát, mà

chỉ thấy trong điều Nguyệt phần tu tri trong

Bách trượng thành qui quyển 7 và môn Ẩm

đạm trong Thiền lâm tượng khí tiên, bảo

dùng các thứ hạt đậu màu hồng, v.v… trộn

lẫn với nhau, rồi nấu thành cháo 5 vị, vì

thế, Lạp bát chúc còn được gọi là Hồng tao

(bã rượu đỏ).

Nếu theo điều Lạp bát chúc trong Yên

kinh tuế thời kí, thì Lạp bát chúc được nấu

bằng hạt kê vàng, gạo trắng, gạo nếp, hạt dẻ,

đậu đỏ, táo bỏ vỏ, củ ấu, v.v… Ngoài ra, còn

dùng hạt hồng đào, hạnh nhân, hạt dưa, đậu

lạc, trăn nhương (?), quả thông, đường trắng,

đường đỏ, bồ đào, v.v… tán nhỏ rồi rắc lên

trên. Không nên dùng hạt sen, đậu ván, ý dĩ

(hạt bo bo), quế…, vì những thứ này sẽ làm

mất vị ngon của cháo.

Ngày 7 tháng chạp, các thứ phải được

chuẩn bị đầy đủ, tối bỏ vào nồi nấu suốt

đêm, đến sáng hôm sau, cháo vẫn còn sôi.

Dâng cúng Phật, cúng Tổ xong, chia cho

mọi người cùng ăn, nhưng không được quá

giờ ngọ.

[X. Chư kinh yếu tập Q.8; Tông môn

vũ khố].

LẠP MÃN

…..

Đồng nghĩa với Trưởng lão.

Chỉ cho vị tăng có tuổi đời và tuổi đạo

đều cao.

LẠP MÃN

 

L

2718

LẠP PHẬT

Vào ngày rằm tháng 7 âm lịch(ngày kết

thúc hạ an cư), thiết trai cúng dường chư Phật,

gọi là Lạp Phật.

Món bánh trôi làm bằng bột lọc dâng

cúng Phật, Bồ tát trong ngày này gọi là

Lạp bính.

(xt. Vu Lan Bồn).

LẠP SƯ

…..

Thợ săn, ví dụ vị tăng phá giới. Nghĩa

là người không có giới hạnh của 1 vị tăng

mà lạm mặc áo tăng, phá hoại giới pháp

của tăng đoàn và dùng tà kiến làm rối loạn

chính pháp.

Phẩm Tà chính trong kinh Đại bát niết

bàn (bản Nam) quyển 7 (Đại 12, 643 trung),

nói: “Phật bảo tôn giả Ca diếp: Sau khi ta

vào Niết bàn 700 năm, bọn ma Ba tuần dần

dần phá hoại chính pháp của ta, giống như

tên thợ săn mặc áo pháp”.

[X. phẩm Tứ tướng trong kinh Đại bát

niết bàn Q.4].

LẠP TÁT

Tạng: Lha-sa.

Cũng gọi là Lạt tát, Lạp tán, La ta.

Thủ đô nước Tây tạng, nằm bên bờ sông

Lạp tát, chi nhánh của sông Nhã lỗ tạng bố

(Tạng:Yar-gtsaí-po), phía bắc núi Hi mã

lạp nhã, do vua Khí tông lộng tán (Tạng:

Sroí-btsan-sgam-po) xây dựng vào năm

639 Tây lịch. Lha-sa nằm trên vùng cao

nguyên, cao hơn mặt biển 3600 mét, dân cư

đông đúc, phố xá sầm uất, là trung tâm chính

trị, kinh tế, văn hóa của Tây tạng, đồng thời

cũng là trung tâm tín ngưỡng của tín đồ Lạt

ma giáo. Phía bắc Lạp tát có cung Bố đạt lạp

(Tạng:Potala), là nơi ở của Pháp vương,

“Đạt lại” Lạt ma giáo. Ở chính giữa Lạp tát

có chùa Đại chiêu rất cổ kính, là ngôi chùa

nổi tiếng của Lạt ma giáo. Phía ngoài cửa

chùa có tấm bia “Đường Phồn Hòa Minh”

(Liên minh hòa bình giữa Trung quốc và Tây

tạng), cao khoảng 5 mét, được dựng vào năm

Trường khánh thứ 3 (823) đời vua Đường

mục tông. Phía tây bắc Lạp tát có chùa Tiểu

chiêu và phía tây có chùa Biệt bạng, là chỗ ở

của cựu Pháp vương, có 1 khu vườn để Đạt

lại tránh nắng. Tăng chúng trong chùa này

phần nhiều là người Mông cổ. Phía đông

Lạp tát có chùa Sắc lạp, nơi có tòa tháp hoàng

kim và cây chày kim cương nổi tiếng. Lại có

chùa Cam đan, chỗ ở của ngài Tông khách

ba, khai tổ của phái Hoàng giáo thuộc Lạt

ma giáo, nổi tiếng với pho tượng Phật Di lặc

và tượng ngài Tông khách ba. Ngoài ra, trong

Lạp tát còn có 30 ngôi chùa lớn và vô số

chùa viện nhỏ. Những năm gần đây, vì Trung

LẠP TÁT

Điện Phật Chùa Đại Chiêu

Chùa Biệt Bạng

 

L

2719

quốc cấm người nước ngoài vào Tây tạng,

nên rất ít du khách đến nước này.

[X. Schlagintweit: Buddhism in Tibet,

1863; L. A. Waddell: Lhasa and its Mysteries,

with a Record of the Expedition of 1903-

1904; G. Tucci: To Lhasa and Beyond, Diary

of the Expedition to Tibet in the Year

1948, 1956].

LẠP THỨ

…..

Thứ tự theo pháp lạp. Nghĩa là vị thứ

của chúng tăng được ấn định theo số năm

thụ giới Cụ túc nhiều hay ít. Ngoài ra, tấm

thẻ bằng gỗ ghi rõ thứ tự giới lạp của chúng

tăng, gọi là Lạp thứ bài.

[X. điều Duy na trong Thiền uyển thanh

qui Q.3; Nguyệt trung hành sự trong Oánh

sơn thanh qui Q.thượng].

LẠT MA

Tạng:Bla-ma.

Cũng gọi La ma

Hán dịch: Thượng sư.

Tiếng tôn xưng giới tăng lữ ở Tây tạng

và Mông cổ. Tiếng Tây tạng Bla-mahàm

nghĩa là bậc tối thượng, tương đương với

chữUttarahoặcgurutrong tiếng Phạm.

Lạt ma vốn được dùng để gọi các bậc

Trưởng lão, Thượng tọa, Cao tăng trong

Phật giáo Tây tạng, còn đối với chư tăng

bình thường thì gọi là Trát ba (Tạng:

Grawa-pa). Nhưng, về sau, tất cả chúng

tăng đều được gọi chung là Lạt ma. Người

nổi danh hơn cả là Đạt lai Lạt ma và Ban

thiền Lạt ma, tức ở địa vị Giáo chủ và Phó

giáo chủ.

Theo truyền thuyết, vị Lạt ma đầu tiên

của Tây tạng là ngài Phạ nhĩ ban ân tư

(Tạng:Pa-lbans), về sau có 7 vị Lạt ma

nữa là các đệ tử của Đại sư Liên hoa sinh.

Người Tây tạng gọi tín đồ của Lạt ma giáo

là Nan ba (Tạng:Naípa,hàm ý là người

trong đạo) còn gọi tín đồ các tông giáo khác

là Kì ba (Tạng:Chipa,hàm ý là người ngoài

đạo). Từ Lạt ma trong chữ Hán bắt đầu

được lưu hành từ đầu đời Thanh của Trung

quốc và được dùng để chỉ chung cho tất cả

tăng ni. Theo giáo lí Phật giáo, xưa nay Tam

bảo chỉ có Phật, Pháp, Tăng, nhưng Phật

giáo Tây tạng, vì quá tôn sùng Lạt ma nên

lại dựa trên Tam bảo mà tôn xưng Lạt ma

là “Lạt ma bảo”.

Sinh hoạt thường ngày của các vị Lạt ma

là cầu nguyện, tụng niệm, lễ bái theo thời

khóa trong chùa viện. Ngoài ra, Lạt ma còn

có nhiệm vụ trọng yếu là nghiên cứu, học

hỏi để mở mang kiến thức, cho đến việc giáo

hóa dân chúng, phát triển các công tác xã

hội, v.v… Trong chùa, viện, các vị Lạt ma 1

mặt giữ gìn giới luật nghiêm khắc, 1 mặt tu

học Mật giáo, Hiển giáo và các môn học thế

gian như thiên văn, y học, v.v… Vì thế, đời

sống tu học của Lạt ma rất nghiêm cẩn, có

thể nói Lạt ma là đại biểu điển hình cho

nền văn hóa cao nhất ở Tây tạng. Nhưng

trước thời ngài Tông khách ba, Tổ sư của

phái Hoàng giáo, Lạt ma Tây tạng được xem

là giai cấp đặc thù, về mọi phương diện, họ

được hưởng địa vị, tài sản cho đến quyền

lực mà mọi người phải tôn trọng, do đó đã

sinh ra các mối tệ và đưa đến trụy lạc, hủ

hóa. Vì thế, ngài Tông khách ba đã thực

LẠT MA

Các Lạt Ma

 

L

2720

hiện 1 cuộc cách cải lớn lao để chấn chỉnh

lại Lạt ma giáo.

[X. Buddhism in Tibet, 1863 (E.

Schlagintweit); The Buddhism of Tibet or

Lamaism, 1895 (L. A. Waddell); Der

Lamaismus, 1925 (O. Franke); Thế giới Phật

giáo thông sử Tây tạng đích Phật giáo (Thánh

nghiêm); Mông cổ học vấn tự (Trường vĩ

Nhã nhân)]. (xt. Thượng Sư, Lạt Ma Giáo).

LẠT MA GIÁO

Tạng: Bla-ma#i bstan-pa.

Hán dịch: Vô thượng giáo.

Giáo phái Phật giáo thịnh hành ở Tây

tạng, sau được truyền vào Nội mông, Ngoại

mông, Bhutan, Sikim, Nepal, v.v… Giáo chủ

là Đạt lai Lạt ma, Ban thiền Lạt ma.

Lạt ma, tiếng Tây tạng, có nghĩa là

Thượng nhân, tức là người đạo cao đức trọng.

Vì dân Tây tạng đặc biệt tôn sùng Lạt ma

nên người nước ngoài mới gọi họ là Lạt ma

giáo. Nhưng, thực ra tăng Tây tạng không

phải vị nào cũng đều là Lạt ma, cũng không

tự xưng là Lạt ma giáo. Người Tây tạng gọi

Lạt ma giáo làSaís-rgyas-kyi chos, hàm

ý là sự mở bày của đức Phật, hoặc tông giáo

của Phật. Cũng có khi họ tự xưng làNaíschos,

nghĩa là tông giáo chính thống, hoặc

tông giáo nội đạo để phân biệt với Bổng giáo

của ngoại đạo. Sau khi Phật giáo từ Ấn độ

được truyền vào Tây tạng, do hoàn cảnh địa

lí đặc biệt của Tây tạng, kết hợp với Bổng

giáo nguyên thủy mà hình thành Lạt ma giáo

với phong cách đặc thù, chỉ thú khác xa với

Phật giáo lưu truyền ở Trung quốc.

Năm Trinh quán 15 (641) đời Đường thái

tông, vua Tây tạng là Song tán tư cam phổ

(Tạng:Sroí-btsan-sgam-po, tức Khí tông

lộng tán) cưới công chúa Văn thành làm vợ

và thỉnh kinh Phật từ Trung quốc, Ấn độ

về mở đầu cho công cuộc truyền bá Phật

giáo Tây tạng. Đến giữa thế kỉ VIII Tây lịch,

dưới triều vua Khất lật song đề tán (Tạng:

Khri-sron-lde-btsan), ngài Tịch hộ (Phạm:

Zanta-rakwita), cùng với Thượng sư Liên

hoa sinh, Khai tổ của Lạt ma giáo, người

Bắc Ấn độ, đến Tây tạng phá dẹp ngoại đạo,

sáng lập chùa viện, chế định giáo điều, phiên

dịch kinh điển chữ Phạm, chữ Hán, biên

tập thành tạng kinh Lạt ma giáo, tức là tạng

Cam châu nhĩ (Tạng: Kàh-gyur). Một trăm

năm sau, vào thời vua Lãng đạt ma (Tạng:

Glaí-dar-ma), vì ông này là tín đồ Bổng

giáo nên đã ra tay phá hoại Phật giáo, từ đó

Lạt ma giáo suy vi.

Năm 1038, vị tăng miền Đông Ấn độ là

ngài A đề sa (Phạm:Atiza) đến Tây tạng,

phiên dịch kinh điển, phục hưng giới luật,

đổi mới Lạt ma giáo. Khi Thành cát tư hãn

kiến lập Đế quốc Mông cổ, thì Tây tạng trở

thành 1 phần của Đế quốc này. Niên hiệu

Trung thống năm đầu (1260) đời Nguyên,

vua Thế tổ suy tôn ngài Bát tư ba làm Quốc

sư, phong tôn hiệu “Đại Nguyên Đế Sư Đại

Bảo Pháp Vương” và Lạt ma giáo trở thành

quốc giáo.

Vào đầu thế kỉ XV, nhà cải cách Phật

giáo Tây tạng là Tông khách ba, canh tân

Lạt ma giáo, dựa theo giáo chỉ của Đại sư

A đề sa, phục hưng giới luật, đổi mới phong

khí, lập ra Tân giáo. Cựu giáo mang mũ áo

màu đỏ, gọi là Hồng y phái, Hồng phái; để

phân biệt, Tân giáo mang mũ áo màu vàng,

gọi là Hoàng y giáo, Hoàng phái(cũng gọi

Cách lỗ phái, Đức hạnh phái); 2 phái Tân,

Cựu đối lập nhau. Hai người đệ tử lớn của

ngài Tông khách ba là Căn châu đôn ba

(Đạt lai)và Khải châu(Ban thiền)đời đời

chuyển sinh làm Chánh, Phó, Giáo chủ,

gọi là “Hô tất lặc hãn” (Mông:Hobilghan,

Khubilghan). Còn có mấy chục vị đệ tử

chuyển sinh làm Pháp vương, chia nhau

giữ các giáo vụ tại các chùa viện địa phương,

gọi là “Hô đồ khắc đồ” (Mông:Khutuktu).

Vào thời Đạt lai lạt ma đời thứ nhất, Hồng

LẠT MA GIÁO

 

L

2721

giáo là quốc giáo, về sau Hoàng giáo hưng

thịnh, phổ cập mọi nơi thì thế lực Hồng

giáo suy yếu dần. Hiện nay Hoàng giáo là

Lạt ma giáo chính thống, nắm toàn quyền

tông giáo và chính trị ở Tây tạng. Lạt ma

giáo hiện có 4 phái: Khố luân phái ở ngoại

Mông cổ, Tát tư ca phái, Bát đan đạt cổ ba

phái và Tán mẫu tỉnh ni tự phái. Còn

Hoàng giáothìcó 4 chi hệ: Đạt lai Lạt ma

ở cung Bố đạt lạp (Potala), Ban thiền Lạt

ma ở chùa Trát thập luân bố, Chương gia

hô đồ khắc đồ ở Đa luân nặc nhĩ thuộc nội

Mông cổ và Triết bố tôn đan ba hô đồ khắc

đồ ở ngoại Mông cổ.

Sau khi ngài Bát tư ba được vua Thế tổ

nhà Nguyên tôn làm Quốc sư, ngài đặt ra

chữ Mông cổ mới và soạn bộ Chí nguyên

pháp bảo khám đồng tổng lục. Thời vua

Vũ tông, vị tăng Tây tạng là ngài Pháp

quang (Tạng:Chos-kyi #od-zer) sửa chữa

và bổ sung chữ Mông cổ mới, đồng thời,

cùng với các học giả trong nước và các học

giả Hồi cốt phiên dịch tạng kinh Tây tạng

ra tiếng Mông cổ. Về sau, các triều vua Anh

tông, Tấn tông, Minh tông, Văn tông,

Thuận đế đều ưu đãi Lạt ma giáo bảo hộ

chúng tăng, nên thế lực Lạt ma giáo cực kì

hưng thịnh. Sau khi nhà Nguyên mất,

chủng tộc Mông cổ lui về phía Bắc biên

giới, Lạt ma giáo cũng theo đó mà tàn lụi,

mãi đến hơn 100 năm sau mới hưng thịnh

trở lại ở Mông cổ. Đến đời nhà Thanh, áp

dụng chính sách ôn hòa đối với Mông cổ

nên cũng ưu đãi chư tăng Lạt ma, triều đình

đặt ra chế độ phong thưởng và kiến thiết

các chùa viện. Như vua Khang hi xây cất

chùa Đa luân nặc nhĩ vựng tông cho

Chương gia hô đồ khắc đồ, đệ tử của Đạt

lai lạt ma đời thứ 5. Vua Ung chính cũng

làm chùa Thiện nhân cho Hô tất lặc hãn

là đệ tử nối pháp của Chương gia hô đồ

khắc đồ và đổi cung Ung hòa ở Bắc kinh

làm chùa Lạt ma. Hiện nay nội và ngoại

Mông cổ có tất cả hơn 70 vị Phật sống. Lạt

ma giáo phần nhiều lưu hành ở các vùng:

Ô lan sát bố minh, Sát cáp nhĩ minh và

Tích lâm quách lặc minh thuộc nội Mông

cổ. Còn ở ngoại Mông cổ, thì vì các chùa

viện ở miền Đông và Tây Mông cổ phần

nhiều bị thiêu hủy trong chiến tranh, lại bị

sự xâm nhập của tín đồ Hồi giáo, cho nên

thế lực của Lạt ma giáo phải rơi vào tình

trạng suy tàn.

Vào đầu đời Đường, khi công chúa Văn

thành đến Tây tạng có mang theo bộ Du

già sư địa luận của ngài Vô trước, rồi ông

Đoan mĩ tam bồ đề từ Ấn độ mang về Đại

thừa Mật giáo, nhưng lúc bấy giờ giáo pháp

của Phật giáo Tây tạng chủ yếu là truyền

pháp Hiển giáo, như Bát nhã, Trung quán,

v.v… Đến khi Thượng sư Liên hoa sinh đến

Tây tạng mới truyền Mật giáo, đồng thời

dung hợp với Bổng giáo, khai sáng Lạt ma

giáo, mở ra cục diện Hiển Mật song hành,

nhưng sau thời Mật giáo toàn thịnh. Tổ sư

của Hoàng phái là ngài Tông khách ba dung

hợp Du già Mật thừa với giáo nghĩa của

luận Trung quán, dựa vào luận Trung quán

để hoằng dương Bát bất trung đạo, lập ra

thuyết 70 thứ vô ngã, y cứ vào luận Du già

sư địa mà giải thích các thuyết Thập nhị

nhân duyên và Lục đạo luân hồi, đồng thời

thuyết minh tam đế Không Giả Trung và

nhị đế Thế tục, Thắng nghĩa, chủ trương

thắng nghiệp duy nhất của Niết bàn là trì

tụng thần chú Quan âm “Án ma ni bát di

hồng”, còn trợ nghiệp là luôn luôn cầu

nguyện tiêu trừ tội nghiệp, vãng sinh Tịnh

độ cực lạc.

Phật giáo Tây tạng sùng bái Bản sơ Phật

(Phạm:Àdi-buddha) là thầy của chư Phật.

Bản sơ Phật sinh ra 5 Phật gọi là Thiền định

Phật (Phạm: Dhyàni-buddha). Năm Phật

là: Phật Tì lô giá na ở Trung ương, Phật A

súc ở phương Đông, Phật Bảo sinh ở phương

Nam, Phật A di đà ở phương Tây và Phật

LẠT MA GIÁO

 

L

2722

Bất không thành tựu ở phương Bắc. Năm vị

Phật này tương đương với ngũ trí Như lai

của tông Chân ngôn. Năm Phật đều hóa thân

xuất hiện ra đời: Phật Tì lô giá na hóa hiện

Phật Câu lâu tần, bồ tát Phổ hiền; Phật Bảo

sinh hóa hiện Phật Câu na hàm mâu ni, bồ

tát Kim cương thủ, Phật A di đà hóa hiện

Phật Thích ca mâu ni, bồ tát Quan âm; Phật

Bất không thành tựu hóa hiện Phật Di lặc.

Trong vô số các vị Bồ tát do Phật Thiền

định hóa hiện, 3 vị: Văn thù, Kim cương

thủ và Quan âm đặc biệt được tín đồ Lạt

ma giáo tôn sùng, gọi là 3 vị giáo chủ. Về

phương diện giáo nghĩa, Lạt ma giáo bao

gồm cả Đại thừa và Tiểu thừa, nhưng lấy

Đại thừa làm chính. Trong Đại thừa có cả

Hiển và Mật, nhưng đặc biệt trọng Mật tông

và lấy Vô thượng Du già mật làm thứ bậc tu

hành cao nhất, hình thành nên “Tạng Mật”.

Ngoài ra, Lạt ma giáo cũng chịu ảnh hưởng

hình thức và thần linh của Bổng giáo Tây

tạng.

Tây tạng là khu vực lấy tín ngưỡng Phật

giáo làm nguồn sống của dân tộc, cho nên

tất cả truyền thuyết cũng như lịch sử đều

lấy Phật giáo làm trung tâm. Giữa các bộ

lạc sở dĩ đoàn kết được là nhờ có chung

một nền tín ngưỡng, quan niệm quốc gia

và ý thức dân tộc rất mờ nhạt, ngoài chư

Phật, Bồ tát và các vị tăng Phật giáo ra,

không có Thánh hiền nào đáng kính, cũng

không có luân lí nào đáng theo, do đó mà

sự sùng bái Lạt ma trở thành tuyệt đối. Bởi

thế trong Phật giáo Tây tạng có phong tục

“Qui y Tứ bảo”, nghĩa là ngoài Tam bảo

Phật, Pháp, Tăng ra, còn có “Lạt ma bảo”.

Vì Lạt ma là tổng thể của vạn thiện vạn

đức, nên tôn sùng Lạt ma tức là cúng dường

Tam bảo: Đây là 1 sắc thái đặc biệt của

Phật giáo Tây tạng.

Phật giáo là quốc giáo của Tây tạng cho

nên có rất nhiều chùa viện, tổ chức các

chùa viện và chế độ học kinh rất nghiêm

mật, 3 tạng giáo điển đã hoàn toàn được

dịch ra tiếng Tây tạng. Nhưng từ sau năm

1959, Cộng sản Trung quốc ra sức đàn áp

Lạt ma giáo, tịch thu tài sản, chùa viện cũng

như số tăng chúng giảm sút rất nặng nề.

Cứ theo thống kê của cơ quan quản lí tông

giáo ở Tây tạng của nhà nước Trung quốc,

thì vào khoảng năm 1968, toàn cõi Tây tạng

có hơn 1.700 ngôi chùa với khoảng 500.000

Lạt ma.

Chùa, tháp của Lạt ma giáo được kiến

trúc rất đặc biệt, tháp phần nhiều phụ thuộc

vào chùa, nhưng cũng có khi được xây cất

riêng biệt và cách cấu tạo rất giống kiểu tháp

Ấn độ. Nền tháp hình vuông, có nhiều tầng,

thân tháp hình cầu, phần đáy tháp thu nhỏ,

trên tháp có từ 7 đến 13 luân bàn(hình cái

mâm), trên chóp luân bàn có bảo cái (cây

lọng báu), phía trên bảo cái lại có 1 hình tháp

nhỏ, thường làm bằng gạch hoặc đá. Những

tòa tháp hiện còn như tháp ở chùa Đại tháp

viện và tháp ở chùa Cực lạc trên núi Ngũ

đài, tháp ở chùa Vĩnh an tại Bắc bình, tháp

ở Tam hà kiều thuộc Tây giao và 4 tòa tháp

ở 4 ngôi chùa phía ngoài thành Thẩm

dương… đều được kiến trúc theo kiểu tháp

trên. Trong số các ngôi tháp vừa kể, tháp

của chùa Đại tháp viện cao khoảng 89 mét,

là tòa tháp to lớn nhất trong số tháp Lạt ma

hiện còn.

Chùa viện và cung điện thường làm

bằng gỗ, trên chỗ đất cao, quay mặt hướng

đông, trước chùa phần nhiều có hồ nước,

nóc chùa đều bằng phẳng. Cung điện của

Đạt lai Lạt ma ở Lhasa và cung điện của

Ban thiền Lạt ma ở Trát thập luân bố có

qui mô lớn nhất. Còn các ngôi chùa nổi

tiếng khác thì có: chùa Tang da, chùa Đại

chiêu, chùa Tiểu chiêu, chùa Cam đan, chùa

Biệt bạng, chùa Sắc lạp, v.v… Chùa được

chia làm 2 loại: Chùa chuyên việc cúng tế

cầu nguyện và chùa chuyên nghiên cứu về

học vấn. Việc nghiên cứu lại chia làm nhiều

LẠT MA GIÁO

 

L

2723

bộ: Hiển giáo học, Mật giáo học, Thiên văn

học, Y học, v.v…

Lạt ma giáo có rất nhiều pháp hội, quan

trọng hơn cả thì có:

1. Truyền chiêu đại pháp hội: Được

khai diễn vào ngày 15 tháng 01 hằng năm,

là 1 pháp hội lớn có tính chất toàn quốc. Từ

ngày mồng 3, mồng 4 tháng giêng, chúng

tăng tập hợp ở 3 ngôi chùa lớn tại Lhasa,

chọn ngày tụng kinh, thuyết giới Bố tát, tổ

chức hội Cách tây thi tuyển biện luận, cho

đến khoảng 20 tháng giêng thì kết thúc.

2. Tiểu chiêu tự tập hội: Khai diễn vào

tháng 2, về nghi thức, nhân số và trình tự

đều giống với pháp hội ở chùa Đại chiêu.

Nhưng học vị Cách tây được tuyển lựa ở

đây thuộc bậc thứ 2 sau học vị được tuyển

chọn ở Đại chiêu tập hội.

3. Dục Phật pháp hội: Lễ tắm Phật được

tổ chức long trọng vào ngày Phật đản mồng

8 tháng 4(nay là rằm tháng 4)mỗi năm.

4. Bảo bối Phật Niết bàn Đại pháp

hội: Được tổ chức vào ngày 25 tháng 10, kỉ

niệm ngày Đại sư Tông khách ba thị tịch.

Bảo bối Phật là tiếng tôn xưng ngài Tông

khách ba. Các chùa cử hành đại lễ này còn

trọng thể hơn cả ngày Phật đản. Vào dịp

này, tất cả mọi nhà đều thắp đèn sáng trưng,

cho nên cũng gọi là Đăng tiết.

5. Trai nguyệt: Tháng 1, tháng 2 là

những tháng Đại trai nguyệt, cũng gọi là

Đại tế nguyệt. Mồng 1 là tế Khiêu vũ, mồng

2 là tế Phi thằng, mồng 3 là tế Phiên chử,

từ ngày mồng 6 đến ngày 21 là tế Đại thí,

trong đó, ngày 15 là tế đèn, ngày 18 là tế

Xu mị, ngày 20 là tế Quan binh, ngày 25 là

tế Cạnh mã, ngày 30 là tế xua đuổi ma quỉ,

ngày 27 tháng 2 là tế Vũ đạo. Vào những

ngày trai tế này, bất luận trai gái già trẻ

đều tụng thần chú Đại minh “Án ma ni

bát di hồng”, trên mình đeo Hộ Phật, Xá

lợi, kinh Phật, tràng hạt, hộ phù, v.v…; tay

cầm bánh xe Ma ni (Tạng: Mani-hkhor),

thỉnh chư tăng làm đại Phật sự.

[X. luận Chương sở tri Q.thượng; Phật

tổ lịch đại thông tải Q.22; Mông cổ du mục

kí; Thánh vũ kí; Mông cổ địa chí Q.hạ;

Nguyên sử bản kỉ; Minh sử bản kỉ; Đại thanh

nhất thống chí; Cát lâm thông chí; Nhiệt hà

chí; Cận đại Mông cổ sử nghiên cứu;

Mongoliai Mongli (Pozdneyeff); Journey of

Friar William of Rubruck (W. W. Rockhill);

History of Mongols (Howarth)]. (xt. Tây

Tạng Phật Giáo Sử).

LẠT MA MIẾU

Chùa viện của Lạt ma giáo.

Thông thường, người Tâytạng dùng 2

chữDgon-pa(nơi yên tĩnh vắng vẻ, tương

đương với chữAraịyatrong tiếng Phạm)và

chữGlií(tương đương với chữDvìpatrong

tiếng Phạm, vốn có nghĩa là châu, được chuyển

thành nghĩa chùa)để chỉ cho chùa viện.

Ngoài ra, còn y cứ theo tính chất của các

chùa viện mà có những chữ như Gtzuglag-

khaí, tương đương với chữ Vihàra

trong tiếng Phạm, nghĩa là học đường;

Chos-sde là pháp bộ; Lha-khaí, nghĩa

là điện Phật, điện thần, v.v… Tùy theo

công dụng, chùa viện của Lạt ma giáo được

chia làm 2 loại:

1. Sùng tự miếu: Chỗ ở của Phật sống,

tức Hô đồ khắc đồ, là những chùa viện

chuyên về việc thờ cúng, do cá nhân hoặc

đoàn thể cúng dường duy trì. Một vị Phật

sống có năng lực thường kiêm nhiệm mấy

ngôi chùa viện, cho nên có quan hệ giữa

chùa chính và chùa phụ thuộc. Trong chùa

lấy cung điện của vị Phật sống làm trung

tâm, ngoài ra, có một số các Thương (Tạng:

TshaíhoặcSpiy-sa, Phog,là cơ sở để

chuẩn bị cho các công việc). Trong Sùng tự

miếu, cung Po-ta-la (Bố đạt lạp) ở Lhasa

(Lạp tát) là cung điện của Phật sống Đạt lai

Lạt ma, là trung tâm chính trị và tông giáo

LẠT MA MIẾU

 

L

2724

của Tây tạng. Còn ở Đa luân thuộc nội

Mông cổ thì lấy Chương gia hoạt Phật

thương(từ gọi chung cung điện của Phật sống

và các cơ quan làm việc)làm Đại tự miếu

trung tâm. Ngoài ra, như cung Ung hòa và

chùa Thừa đức ở Bắc kinh cũng đều thuộc

Sùng tự miếu. Những Sùng tự miếu nhỏ

thì không có Thương, phần nhiều vùng cao

nguyên Tây tạng và thảo nguyên Mông cổ,

là trung tâm tín ngưỡng tại địa phương.

2. Học vấn miếu: Chùa viện chuyên về

việc nghiên cứu giáo học của Lạt ma giáo.

Chư tăng ở đây chuyên tu hành, nghiêm trì

giới luật, học tập và giảng diễn giáo pháp,

cho nên Học vấn miếu xưa nay vốn là nơi

bảo tồn cái nền tảng của Lạt ma giáo. Học

vấn miếu cũng có Phật sống. Phần lớn các

Lạt ma trong Học vấn miếu suốt đời làm

học tăng, chuyên việc nghiên cứu giáo học,

đôi khi cũng kiêm cả việc lễ bái và làm các

pháp sự. Các Học vấn miếu thường có từ

vài trăm đến vài nghìn Lạt ma sinh hoạt

học tập; các môn học ở đây được chia làm 4

bộ: Hiển giáo bộ, Mật giáo bộ, Thời luân bộ

(Thiên văn bộ), Dược học bộ(Y học bộ), mỗi

học bộ chia ra 13 cấp. Như các chùa: Cam

đan (Tạng:Dga#-ldan), Sắc lạp (Tạng:Sera),

Biệt bạng (Phạm:Fbras-spuns), Trát

thập luân bố (Tạng: Bkra-zis-lhun-po),

Kim ngõa (Tạng:Sku-hbum), Lạp bốc lăng

(Tạng:Bla-braí), v.v… cùng với Ngũ đương

triệu, Bối tử miếu đều là những chùa viện

đại biểu cho Học vấn miếu.

[X. The Buddhism of Tibet or Lamaism

(L. A. Waddell); Religion of Tibet, 1931

(Ch. Bell); Mông cổ học vấn tự (Trường vĩ

Nhã nhân)]. (xt. Lạt Ma Giáo).

LẶC CÂN

…..

Cũng gọi Lặc bạch.

Cái đai thắt lưng.

Thiền uyển thanh qui quyển 9 (Vạn tục

111, 464 hạ), nói: “Nên dùng Lặc cân để

thắt lưng, không nên dùng buộc cánh tay”.

LẶC NA BẠT DI

………..

Phạm: Ratnavarman.

Hán dịch: Bảo khải.

Phụ vương của đức Phật ở đời quá khứ.

Thời ấy Phật là Thái tử Ca lương na già lê

(Hán dịch:Thiện sự).

Cứ theo phẩm Thiện sự thái tử nhập hải

trong kinh Hiền ngu quyển 9, Đề bà đạt đa

thường âm mưu hại đức Phật, nhưng Phật

thì lúc nào cũng thương xót ông ta; tôn giả

A nan trong lòng thắc mắc, bèn thỉnh vấn

xin Phật chỉ dạy, do đó, đức Phật kể lại câu

truyện bản sinh như sau: Vào thời quá khứ

xa xưa, ở cõi Diêm phù có một vị Quốc

vương tên là Lặc na bạt di, tuy có 500 phu

nhân thể nữ nhưng không có con. Một đêm

nọ, Hoàng hậu nằm mộng thấy 1 Thiên thần

mách bảo mà cảm được 2 vị tiên trong khu

rừng phía ngoài thành đầu thai vào nhà vua,

một người tên là Ba bà già lê (Hán dịch:Ác

sự), còn người kia tên là Ca lương na già lê.

Vua Lặc na bạt di thường nghe theo lời tâu

của Thái tử Thiện sự, đem thức ăn, áo mặc

và của báu trong kho ra bố thí cho những

người nghèo khổ, già lão, bệnh tật và cô đơn,

nên Ác sự ghen ghét, thường mang tâm mưu

hại. Thái tử Ca lương na già lê lúc bấy giờ là

LẶC NA BẠT DI

Toàn cảnh Ngũ Đương Triệu thuộc học vấn miếu ở Mông cổ

 

L

2725

đức Thích ca mâu ni hiện nay, vua Lặc na

bạt di là vua Tịnh phạn, Ba bà già lê là Đề

bà đạt đa.

[X. Phiên Phạm ngữ Q.4].

LẶC NA MA ĐỀ

………..

Phạm: Ratnamati.

Cũng gọi: Lặc na bà đề.

Gọi tắt: Lặc na.

Hán dịch: Bảo ý.

Cao tăng người Trung Ấn độ, đến Trung

quốc vào thời Bắc Ngụy, chuyên việc dịch

kinh. Ngài là người có học thức sâu rộng,

thông suốt sự lí, đặc biệt giỏi về pháp thiền.

Vào năm Chính thủy thứ 5 (508) đời

Tuyên vũ đế nhà Bắc Ngụy, ngài đến Lạc

dương, vâng mệnh vua, cùng với ngài Bồ đề

lưu chi dịch Thập địa kinh luận 12 quyển

của ngài Thế thân và Diệu pháp liên hoa

kinh luận ưu ba đề xá 1 quyển, v.v… thời ấy

có các vị Tăng lãng, Giác ý và quan Thị trung

là Thôi quang làm bút thụ, sau ngài lại dịch

luận Cứu cánh Nhất thừa bảo tính 4 quyển

tại tư gia của Thiệu hân.

Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 9 và

truyện Bồ đề lưu chi trong Tục cao tăng

truyện quyển1 chép, thì sau khi Lặc na ma

đề và Bồ đề lưu chi cùng dịch Thập địa kinh

luận, vì ý kiến bất đồng nên không hợp tác

với nhau nữa. Về sau, môn nhân của ngài

Lặc na ma đề là sư Tuệ quang theo học thuyết

của thầy, truyền bá tông Địa luận ở Nam bộ

Tương châu (tức Nghiệp đô thuộc huyện An

dương tỉnh Hà nam hiện nay) mà lập thành

Tương châu Nam đạo phái; còn sư Đạo sủng

đệ tử ngài Bồ đề lưu chi thì hoằng truyền

tông Địa luận ở miền Bắc gọi là Tương châu

Bắc đạo phái. Từ đó, tông Địa luận bèn hình

thành 2 phái đối nhau.

[X. Pháp kinh lục Q.5; truyện Đạo sủng

trong Tục cao tăng truyện Q.7; Hoa nghiêm

kinh truyện kí Q.2; Khai nguyên thích giáo

lục Q.6]. (xt. Thập Địa Kinh Luận, Địa

Luận Tông).

LẶC NA THỨC KÌ

Phạm: Ratnazikhi.

Hán dịch: Bảo kế.

Danh hiệu của đức Phật Bảo kế ở thời

quá khứ, khi Ngài còn là Thái tử, chưa xuất

gia học đạo.

Cứ theo phẩm Bần nữ Nan đà trong kinh

Hiền ngu quyển 3 chép, thì qua 2 a tăng kì

91 kiếp về quá khứ, ở cõi Diêm phù đề có 1

vị Quốc vương tên là Ba tắc kì, sinh được 1

người con là Thái tử Lặc na thức kì(Bảo kế),

về sau Thái tử xuất gia tu đạo và thành Phật,

hiệu là Phật Bảo kế. Lúc bấy giờ có vị tỉ khưu

tên là A lê mật la, hằng ngày thắp đèn cúng

dường Phật Bảo kế, Ngài bèn thụ kí cho vị

tỉ khưu đương lai sẽ thành Phật hiệu là Định

quang Như lai.

LẶC NA XÀ DA

Tên của đức Phật Thích ca ở thời quá khứ

khi tu đạo Bồ tát. Lặc na xà da từng xả thân

cứu giúp 5 người khỏi chết chìm trong biển.

Cứ theo phẩm Lặc na xà da trong kinh

Hiền ngu quyển 10 chép, thì 5 người ấy chính

là 5 vị tỉ khưu được đức Phật hóa độ đầu

tiên sau khi Ngài thành đạo. Mà phẩm Lặc

na xà da cũng chính là phẩm trong đó đức

Phật thuật lại nhân duyên đời trước giữa Ngài

và 5 vị tỉ khưu.

LẶC SA BÀ

……..

Phạm: Fwabha, Fwabhanatha.

Hán dịch: Ngưu tiên.

Con của vua A du xà, nước Kiêu tát la,

Trung Ấn độ, là 1 trong 3 vị tiên nhân của

ngoại đạo thịnh hành ở Ấn độ trước khi

đức Phật ra đời, tức là tổ khai sáng của ngoại

LẶC SA BÀ

 

L

2726

đạo Ni kiền tử(Kì na giáo). Trong Kì na giáo,

vị tiên này được tôn làm Sơ tổ của 24 đức

Phật ở quá khứ. Lặc sa bà chủ trương lấy

khổ hạnh làm pháp giải thoát, cho rằng nếu

chịu các nỗi khổ của đời hiện tại hết rồi thì

pháp vui tự sinh.

Cứ theo Chỉ quán phụ hành truyền

hoằng quyết quyển 10, Lặc sa bà cho số học

là thắng pháp, soạn 100.000 bài kệ. Lặc sa

bà vốn nghĩa là “bò”, nhưng về sau được

dùng để tôn xưng bậc Thánh, như Nhất bách

ngũ thập Phật tán tụng và Phiên dịch danh

nghĩa đại tập… đều cho rằng Lặc sa bà là tên

khác của Phật.

[X. phẩm Xả tội phúc trong Bách luận

Q.thượng; Bách luận sớ Q.thượng phần giữa].

(xt. Ni Kiền Tử Ngoại Đạo, Kì Na Giáo).

LẶC XOA NA

……..

Phạm: Lakwaịa.

Pàli: Lakkhana.

Hán dịch: Hộ dã.

Tên vị tỉ khưu đệ tử của đức Phật.

Tỉ khưu Lặc xoa na có lần cùng với tôn

giả Mục kiền liên vào thành Vương xá khất

thực, đang đi trên đường bỗng ngài Mục liên

mỉm cười, ngài Lặc xoa na trong lòng thắc

mắc, sau ngài Mục liên cho biết là lúc ấy

Ngài quán chiếu rõ suốt các pháp nhân

duyên mà chúng sinh phải chịu khổ não

trong 3 đường.

Khi biết điều này, đức Phật đã khen ngợi

tôn giả Mục kiền liên là trụ nơi thực nhãn,

thực trí, thực nghĩa, thực pháp, quyết định

thông suốt.

[X. kinh Tạp a hàm Q.19].

LĂNG GIÀ ĐẢO

Phạm:Laíkà-dvìpa.

Cũng gọi Sư tử châu, Chấp sư tử quốc,

Tăng già la, Bảo chử.

Tức là đảo Tích lan (nay là Sri Lanka)

nằm ở cực nam bán đảo Ấn độ. Ngài Pháp

hiển, vị cao tăng Trung quốc đời Đông Tấn,

trên đường từ Ấn độ trở về nước, có ghé

qua đảo này để chiêm bái các Thánh tích.

Hoặc có thuyết cho rằng đức Phật đã từng

nói kinh Lăng già tại đây, vì thế đảo này có

tên là Lăng già.

Đại đường Tây vực kí quyển 11 (Đại 51,

934 thượng), nói: “Ở góc Đông nam nước

ấy(tức Tích lan) có núi Lăng ca, hang núi

sâu thẳm, quỉ thần tụ tập; thủa xưa đức Như

lai đã nói kinh Lăng ca ở đây”.

[X. Từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện

Q.4]. (xt. Tích Lan Phật Giáo).

LĂNG GIÀ HUYỀN KÍ

Lời đoán trước của đức Thích tôn tại núi

Lăng già.

Lời huyền kí nói rằng: “Sau khi Như lai

nhập diệt, ở Nam Thiên trúc có Đại đức tỉ

khưu tên là Long thụ, chứng Hoan hỉ địa,

tuyên thuyết pháp Đại thừa vô thượng, được

sinh về nước Cực lạc”.

Thuyết này có xuất xứ từ kinh Lăng già

quyển 9, bản dịch đời Ngụy và kinh Lăng

già quyển 6, bản dịch đời Đường.

Kinh Lăng già (bản dịch đời Ngụy) quyển

9 (Đại 16,569 thượng), chép:

“Ta theo trí nội chứng

Chẳng phải cảnh vọng giác

Sau khi ta diệt độ

Ai sẽ vì ta nói?

Như lai diệt độ rồi

Vị lai sẽ có người

Đại tuệ ông lắng nghe

Có người trì pháp ta

Tại phương nam Thiên trúc

Có Đại đức tỉ khưu

Tên Long thụ bồ tát

Hay dẹp chấp Hữu, Vô

Tuyên thuyết cho mọi người

LĂNG GIÀ HUYỀN KÍ

 

L

2727

Pháp Đại thừa vô thượng

Chứng được Hoan hỉ địa

Sinh về nước An lạc”.

LĂNG GIÀ KINH

Phạm:Laíkàvatàrasùtra.

Gọi đủ: Lăng già a bạt đa la bảo kinh.

Kinh, 4 quyển, do ngài Cầu na bạt đà la

dịch vào năm 443 đời Lưu Tống, được thu

vào Đại chính tạng tập 16.

Lăng già là tên núi; A bạt đa la nghĩa là

vào. Tức là đức Phật nói bộ kinh quí báu

này khi Ngài vào núi Lăng già, là 1 trong 6

bộ kinh làm chỗ y cứ của tông Pháp tướng.

Nội dung kinh này thuyết minh thế giới

vạn hữu đều do tâm tạo, đối tượng nhận

thức của người ta không phải ở bên ngoài

mà là tại trong tâm. Kinh này kết hợp tư

tưởng Như lai tạng và tư tưởng thức A lại

da, là đại biểu cho các kinh thuộc hệ tư tưởng

Phật giáo Đại thừa hậu kì ở Ấn độ. Niên đại

thành lập kinh này vào khoảng trước sau

năm 400 Tây lịch. Toàn bộ kinh đã nhiều

lần nhấn mạnh đến nguồn gốc của si mê

chính là do tập khí từ vô thủy đến nay đã

không biết rõ các pháp là từ nơi tâm mình

hiển hiện. Nếu có thể thấu triệt được bản

tính của ý thức, xa lìa những đối lập năng

thủ, sở thủ, thì có thể đạt đến cảnh giới vô

phân biệt.

Nguyên bản tiếng Phạm của kinh này

được tìm thấy tại Nepal, học giả Nhật bản

là các ông Nam điều Văn hùng và Hà khẩu

Tuệ hải đã hiệu đính và xuất bản vào năm

1923. Có 3 loại bản Hán dịch đều được thu

vào Đại chính tạng tập 16:

1. Lăng già a bạt đa la bảo kinh, 4

quyển, cũng gọi Tứ quyển Lăng già kinh,

Tống dịch Lăng già kinh, do ngài Cầu na

bạt đà la dịch vào đời Lưu Tống.

2. Nhập lăng già kinh, 10 quyển, cũng

gọi Thập quyển Lăng già kinh, Ngụy dịch

Lăng già kinh, do ngài Bồ đề lưu chi dịch

vào đời Bắc Ngụy.

3. Đại thừa nhập lăng già kinh, 7 quyển,

cũng gọi Thất quyển Lăng già kinh, Đường

dịch Lăng già kinh, do ngài Thực xoa nan

đà dịch vào đời Đường.

Trong 3 loại bản dịch trên, bản Tứ

quyển Lăng già kinh được Tổ Bồ đề đạt

ma dùng để phó chúc cho ngài Tuệ khả, vì

thế xưa nay rất được Thiền tông đặc biệt

xem trọng.

Cứ theo Pháp xung truyện trong Tục cao

tăng truyện chép, thì sự thuyết giảng kinh

Lăng già 4 quyển có thể chia làm 2 chi phái:

Một phái từ ngài Tăng xán truyền xuống,

thì y cứ vào Nhất thừa tông của Nam thiên

trúc; một phái từ các ngài Đàm thiên, v.v…

thì y cứ vào luận Nhiếp đại thừa. Tuy nhiên,

vào thời đại Nam Bắc triều kinh này vẫn

chưa được nghiên cứu một cách phổ biến.

Đến đời Đường, với đà phát triển của Thiền

tông, thì kinh này mới được chú trọng, lúc

đó mới có những danh xưng như: “Lăng già

sư”, “Lăng già tông” xuất hiện. Rồi từ những

sách “Lăng già nhân pháp chí” của ngài

Huyền di và “Lăng già sư tư kí” của ngài

Tịnh giác mà chúng ta có thể biết được là

vào thời ấy kinh này đã được dùng làm biểu

tượng truyền thừa. Mãi đến khi các ngài

Thần hội, v.v… đưa ra chủ trương dùng Bát

nhã thay cho Lăng già thì kinh Kim cương

mới dần dần được xem trọng.

Ngoài các bản Hán dịch, kinh này còn

có bản dịch tiếng Tây tạng và bản dịch tiếng

Nhật. Riêng bản dịch Tây tạng có 2 loại,

một theo đúng nguyên văn chữ Phạm, một

theo bản Hán văn.

Kinh này có rất nhiều sách chú sớ, nhưng

quan trọng hơn cả thì có:

– Nhập Lăng già kinh sớ, 5 quyển, của

ngài Bồ đề lưu chi.

– Lăng già kinh sớ, 7 quyển, của ngài

Nguyên hiểu người Tân la.

LĂNG GIÀ KINH

 

L

2728

– Lăng già kinh sớ, 6 quyển, của ngài

Đàm thiên đời Tùy.

– Lăng già kinh chú, 5 quyển, của ngài

Trí nghiêm đời Đường.

– Nhập Lăng già tâm huyền nghĩa, 1

quyển, của ngài Pháp tạng đời Đường, và

– Thánh nhập Lăng già kinh chú (Phạm:

Àryalaíkavatàravftti) trong Đại tạng

kinh Tây tạng.

Ngoài ra, bộ Đại thừa nghĩa chương của

ngài Tuệ viễn chùa Tịnh ảnh là luận nghiên

cứu quan trọng về kinh này.

Sau hết, kinh này thu dụng rất nhiều

học thuyết của các học phái Phật giáo, đồng

thời, đứng trên lập trường của các học thuyết

ấy mà trình bày về sự thể nghiệm tôn giáo.

Những tư tưởng trọng yếu của kinh này là:

1. Kết hợp tư tưởng Như lai tạng với thức

A lại da, mở đầu cho tư tưởng của luận Đại

thừa khởi tín.

2. Kinh này chia Thiền làm 4 loại: Ngu

phu sở hành thiền, Quán sát nghĩa thiền,

Phan duyên như thiền và Như lai thiền.

Đây là tư liệu về lịch sử Thiền tông rất được

chú ý.

3. Đối với học thuyết Duy thức ở thời kì

sau, nhất là Duy thức của ngài Hộ pháp, có

ảnh hưởng rất lớn.

[X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Đại đường

tây vực kí Q.11; Khai nguyên thích giáo lục

Q.4, 5, 6, 9].

LĂNG GIÀ SƠN

Lăng già, Phạm,Pàli:Laíkà.

Cũng gọi Lăng ca sơn.

Hán dịch: Nam vãng sơn, Khả úy sơn,

Hiểm tuyệt sơn.

Tên núi, tương truyền là nơi đức Phật

giảng kinh Lăng già. Về vị trí núi này có

mấy thuyết khác nhau:

Theo kinh Lăng già a bạt đa la bảo

quyển 1, núi này nằm ở bờ biển Nam hải.

Theo Tuệ uyển âm nghĩa quyển hạ, núi

này nằm ở bờ biển thuộc biên giới phía nam

của Nam thiên trúc.

Theo Đại đường tây vực kí quyển 11 và

Tục cao tăng truyện quyển 4, thì Lăng già là

tên 1 ngọn núi ở đảo Tích lan.

Theo Đại sử (Pàli:Mahà-vaôsa, i),

Lăng già là tên riêng của Tích lan, nhưng đa

số các học giả hiện nay không thừa nhận

thuyết này.

Cứ theo phẩm Chư Phật trong kinh

Nhập lăng già quyển 1, núi này do các thứ

quí báu tạo thành, ánh sáng chói lọi giống

như trăm nghìn mặt trời cùng chiếu lên vàng.

Trong núi có vô số vườn hoa, gió hiu hiu

thổi, cành lá rung rinh, trăm nghìn hương

hoa ngào ngạt cùng lúc lan tỏa, trăm nghìn

âm thanh vi diệu đồng thời phát ra; ngọn

núi trùng điệp, quanh co, có vô lượng điện

đường, hang động, khám thờ đều do các thứ

báu tạo thành, trong ngoài trong suốt, sáng

rực, át cả ánh sáng của mặt trời mặt trăng.

Núi này thủa xưa là nơi các vị Tiên, Thánh

đắc đạo nhập tịch.

[X. kinh Hoa nghiêm Q.62 (bản dịch

mới); Hoa nghiêm kinh sớ Q.56; Huyền ứng

âm nghĩa Q.7; Đông Nam Ấn độ chư quốc

đích nghiên cứu].

LĂNG GIÀ SƯ TƯ KÍ

Cũng gọi Lăng già sư tư huyết mạch kí.

Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tịnh giác

biên tập khoảng năm Cảnh long thứ 2 (708)

đời Đường, được thu vào Đại chính tạng

tập 85.

Nội dung sách này tường thuật về 8 đời

truyền thừa kinh Lăng già. Vào thời kì đầu,

Thiền tông Trung quốc chia làm 2 tông

Nam, Bắc và mỗi tông đều cho tông mình

là chính thống nên có lịch sử truyền thừa

khác nhau. Sách này đứng trên lập trường

Thiền Bắc tông để ghi chép lịch sử truyền

LĂNG GIÀ SƯ TƯ KÍ

 

L

2729

thừa của Thiền tông vào thời đó. Tông sư

truyền pháp lúc bấy giờ đặc biệt coi trọng

kinh Lăng già và dùng kinh này làm biểu

tín để truyền pháp. Vì thế sách này lấy tên

là Lăng già sư tư kí để nói về 8 đời truyền

thừa thuộc hệ thống Thiền Bắc tông:

1. Cầu na bạt đà la, dịch giả kinh Lăng

già.

2. Bồ đề đạt ma.

3. Tuệ khả.

4. Tăng xán.

5. Đạo tín.

6. Hoằng nhẫn.

7. Thần tú, Huyền trách, Lão an.

8. Phổ tịch, Kính hiền, Nghĩa phúc, Huệ

phúc.

Sách này là tư liệu cơ bản để nghiên cứu

lịch sử Thiền tông Trung quốc thời kì đầu,

không phải chỉ đơn thuần là truyện kí mà

còn bao hàm nhiều tư tưởng Thiền, như

trong truyện Cầu na bạt đà la có thuyết “Tứ

chủng an tâm”, trong truyện Tăng xán có tư

tưởng Hoa nghiêm “Nhất tức nhất thiết”,

trong truyện Đạo tín có thuyết “Tức tâm

tức Phật”, “Nhất hạnh tam muội”, “Thủ nhất

bất di”. Ngoài ra, sách này còn bàn về công

phu tọa thiền.

Sau khi bộ truyện kí này được tìm thấy

ở Đôn hoàng, thì sự nghiên cứu về Thiền

Bắc tông phát triển rất nhanh. Sách này có

điểm đặc biệt là tường thuật về Tổ Hoằng

nhẫn truyền

pháp rất

khác với

những điều

được trình

bày trong

Pháp Bảo

Đàn Kinh

của Thiền

Nam tông.

Tức sách này

cho rằng Tổ

Hoằng nhẫn có 10 vị đệ tử là: Thần tú, Trí

tân, Huệ tạng, Huyền ước, Lão an, Pháp như,

Huệ năng, Trí đức, Nghĩa phương và Huyền

trách. Trong đó, 2 vị Thần tú và Huyền trách

được Tổ Hoằng nhẫn đặc biệt xem trọng,

còn địa vị của ngài Huệ năng thì không có

gì nổi bật.

Nguyên bản sách này hiện còn được cất

giữ tại viện bảo tàng Đại Anh ở Luân đôn

và thư viện Quốc dân ở Ba lê.

[X. Lịch đại pháp bảo kí; Minh sa dư

vận giải thuyết].

LĂNG GIÀ TÔNG

Tên riêng của Thiền tông Trung quốc ở

thời kì đầu, vì Tổ Đạt ma truyền cho ngài

Tuệ khả 4 quyển kinh Lăng già làm cốt tủy

của Thiền pháp nên gọi là Lăng già tông.

[X. Tăng khả truyện trong Tục cao tăng

truyện Q.16].

LĂNG NGHIÊM ĐẦU

……..

Chức vụ của vị tăng xướng Thánh hiệu,

lời tựa, chú Lăng nghiêm trong pháp hội

Lăng nghiêm. Chức vụ này thường chọn

người có giọng tiếng tốt để đảm nhiệm.

Điều Lăng nghiêm hội trong Sắc tu Bách

trượng thanh qui quyển 7 (Đại 48, 1151

trung), nói: “Duy na chọn người có giọng

tốt làm Lăng nghiêm đầu”.

[X. môn Chức vụ trong Thiền lâm tượng

khí tiên].

LĂNG NGHIÊM HỘI

……..

Trong Thiền lâm xưa, vào mùa kết hạ

an cư thì tổ chức hội Lăng nghiêm. Từ ngày

13 tháng 4 đến ngày 13 tháng 7 âm lịch,

chúng tăng lên điện Phật mỗi ngày, trì tụng

chú Thủ lăng nghiêm để cầu phúc, trừ tai.

Ngài Chân yết Thanh liễu đời Nam Tống

LĂNG NGHIÊM HỘI

Sách Lăng già sư tư kí

 

L

2730

ở núi Phổ đà, trong mùa an cư, tụng chú

cầu cho chúng tăng khỏi bệnh. Đây là nguồn

gốc của hội Lăng nghiêm. Bản đồ vẽ vị trí

chỗ ngồi của chúng tăng trên hội Lăng

nghiêm gọi là Lăng nghiêm đồ.

[X. hội Lăng nghiêm trong Thiền lâm bị

dụng thanh qui Q.3].

LĂNG NGHIÊM KINH

……..

Gọi đủ: Đại Phật đính Như lai mật nhân

tu chứng liễu nghĩa chư Bồ tát vạn hạnh

Thủ lăng nghiêm kinh.

Cũng gọi: Đại Phật đính Thủ lăng

nghiêm kinh, Đại Phật đính kinh.

Kinh, 10 quyển, do sa môn Bát lạt mật

đế, người Trung Thiên trúc dịch vào đời

Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19.

Thủ lăng nghiêm là tên của môn Tam

muội mà đức Phật đã chứng được, cũng là

tiếng gọi chung cho cả muôn hạnh.

Kinh này nói rõ lí “căn trần cùng một

nguồn, trói buộc và giải thoát chẳng phải

hai”, đồng thời giải thích pháp Tam ma đề

(Tam muội)và các giai vị của Bồ tát.

Nội dung kinh này trước hết kể chuyện

ngài A nan ra ngoại thành khất thực, bị nàng

Ma đăng già cám dỗ, mê hoặc đến nỗi gần

mất giới thể. Đức Phật biết A nan đang bị

dâm thuật làm khốn, liền sai ngài Văn thù

sư lợi đem thần chú đến hộ trì. Sau khi ngài

A nan trở về tinh xá, nàng Ma đăng già cũng

theo đến. Khi ấy đức Phật nói pháp chỉ dạy

Ma đăng già và khiến nàng xuất gia học đạo.

Phần nổi bậc nhất trong kinh này là 25 pháp

môn viên thông ở quyển 5, trong đó, pháp

môn thứ 24 bồ tát Đại thế chí trình bày về

pháp niệm Phật viên thông, rất thường được

tông Tịnh độ dẫn chứng.

Kinh Lăng nghiêm nói về các yếu chỉ của

pháp Thiền như: Khai thị tu thiền, Nhĩ căn

viên thông, Ngũ uẩn ma cảnh, v.v… nhưng

khác với kinh Thủ lăng nghiêm tam muội

do ngài Cưu ma la thập dịch.

Ở đầu mỗi quyển của bộ kinh này đều

ghi rõ (Đại 19, 106 trung): “Một tên là Trung

Ấn độ Na lan đà đại đạo tràng kinh được

chép riêng ra từ Quán đính bộ”. Quyển 1

ghi (Đại 19, 106 trung): “Ngày 23 tháng 5,

năm Ất tị, niên hiệu Thần long năm đầu,

đời Đường, sa môn người Trung Thiên trúc

tên là Bát lạt mật đế dịch tại đạo tràng Chế

chỉ ở Quảng châu, đệ tử Bồ tát giới, chức vụ

Tiền chính gián đại phu, Đồng trung thư

môn hạ Bình chương sự thanh hà Phòng

dung ghi chép, sa môn người nước Ô trành

tên là Di già Thích ca dịch lời”.

Các sư thuộc tông Pháp tướng đều cho

kinh này là ngụy tác, thời gần đây giới học

giả cũng tranh luận về vấn đề thật, giả của

kinh này, lí do là vì nó đã không được thu

vào Đại tạng của 4 triều: Đường, Tống,

Nguyên, Minh. Nhưng, cứ theo Khai nguyên

thích giáo lục, thì đương thời (đời Đường)

có kinh Đại Phật đính Như lai mật nhân tu

chứng liễu nghĩa chư Bồ tát vạn hạnh Thủ

lăng nghiêm 10 quyển. Ngoài ra, Tống sử

nghệ văn chí cũng có ghi tên kinh “Thủ lăng

nghiêm” 10 quyển.

Kinh này có nhiều sách chú sớ, nhưng

quan trọng hơn cả thì có: Nghĩa sớ chú kinh,

20 quyển, của ngài Tử tuyền, Nghĩa sớ thích

yếu sao, 6 quyển, của ngài Hoài viễn, Nghĩa

hải, 30 quyển, của ngài Hàm huy, Huyền

nghĩa, 2 quyển, của ngài Trí húc, Mô tượng

kí, 1 quyển, của ngài Châu hoành.

[X. Đại thừa tam luận đại nghĩa sao Q.3;

Đại đường nội điển lục Q.3; Trinh nguyên

tân định thích giáo mục lục Q.14; Kinh lục

môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].

LĂNG SƠN

Tên núi ở phía Bắc huyện Ô thập, tỉnh

Tân cương, Trung quốc, là ngọn Mục tạp

nhĩ đặc thuộc dãy núi Thiên sơn, có lẽ là

LĂNG SƠN

 

L

2731

ngọn Bạt đạt (Ba da) hiện nay.

Lăng nghĩa làbăng giá, đóng băng.

Theo Tây vực kiến văn lục quyển 1, Y lê

và Ô thập giao nhau tại Mục túc lỗ tháp

ban, núi ở vùng này tuyết phủ quanh năm,

trắng xóa như bạc, là ngã tư đường nối

liền Nam, Bắc.

Khi Tam tạng Huyền trang sang Ấn độ

cầu pháp có đi ngang qua núi này.

[X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư

truyện Q.2].

LĂNG VÂN SƠN ĐẠI PHẬT

Cũng gọi Lạc sơn đại Phật.

Tượng Phật lớn khắc vào núi Lăng vân,

huyện Lạc sơn, tỉnh Tứ xuyên, Trung quốc.

Khoảng năm Khai nguyên đời Đường,

Cao tăng Hải thông, thấy dòng sông uốn

khúc quanh co, nhiều chỗ nguy hiểm vì nước

chảy xiết, dâng cao, rất nguy hại cho thành

Lạc sơn, nên ngài kiến nghị khắc 1 pho tượng

Phật thật lớn trên sườn núi cheo leo, ở giữa

khoảng 2 dòng sông Đại độ và Mân giang

giao nhau. Ròng rã suốt 90 năm trời, từ niên

hiệu Khai nguyên năm đầu (713) đời Huyền

tông, đến năm Trinh nguyên 19 (803) đời

Đức tông nhà Đường công việc tạc tượng

mới được hoàn thành. Pho tượng lưng tựa

vào vách núi, mặt ngó ra sông, đầu ở đỉnh

núi, chân ở chân núi, mắt nhìn xuống dòng

nước đang chảy cuồn cuộn. Từ phần đầu

gối của pho tượng trở xuống tạo thành hình

chữ (ao) ngược, nước sông chảy vào chỗ

chữ Ao thì dòng nước bị bẻ gập, thế nước

yếu dần, chảy vòng ra phía sau rồi chầm

chậm hòa theo dòng nước, nhờ thế mà tránh

được nạn lũ lụt.

Tượng Phật cao 71 mét, vai rộng 28

mét, mắt dài 3 mét 5, lỗ tai sâu như hang

động, bề rộng của đỉnh đầu có thể đặt

được 8 cái bàn, trên bàn chân của tượng

có thể ngồi thành vòng tròn hơn 100

người.Đây là pho tượng Phật khắc vào đá

lớn nhất thế giới, người dân Trung quốc

thường

dùng câu

“Núi là 1

tượng

Phật,

Phật là 1

ngọn núi”

để nói về

sự cao lớn

hùng vĩ

của pho

tượng.

LĂNG VÂN TỰ

Chùa ở huyện Lạc sơn, tỉnh Tứ xuyên,

Trung quốc, nay gọi là chùa Đại Phật.

(xt. Đại Phật Tự).

LÂM

..

I. Lâm.

Rừng. Rừng vốn là nơi cây cối um tùm,

vắng vẻ, yên tĩnh, về sau thường được dùng

để chỉ nơi tu hành.

II. Lâm.

Từ phiên âm tiếng Tây tạng, người Tàu

dịch là Châu, đảo, sau được dùng làm tên

gọi chung chùa viện của Phật giáo Tây tạng.

Chẳng hạn như: Cụ hỉ tôn thắng châu tức

là chùa Cam đan, Sắc lạp Đại thừa châu tức

là chùa Sắc lạp…

LÂM ẤP QUỐC

Tên một nước xưa nằm ở đông bộ bán

đảo Trung nam, nay là vùng Trung và nam

bộ Việt nam.

Vùng đất này vốn là căn cứ địa của dân

tộc Chàm. Nhà Tây Hán đặt huyện Tượng

lâm, quận Nhật nam, gọi là Tượng lâm ấp,

LÂM ẤP QUỐC

Đại Phật ở núi Lăng vân

 

L

2732

gọi tắt là Lâm ấp. Vào những năm cuối đời

Đông Hán, có người tên là Khu liên, giết

quan huyện, tự xưng là Lâm ấp quốc vương.

Từ đời nhà Tấn về sau, Lâm ấp thường triều

cống Trung quốc. Khoảng năm Đại nghiệp

(605-616) đời Tùy, tướng nhà Tùy là Lưu

phương đánh chiếm nước này đặt làm quận

Lâm ấp. Khoảng năm Chí đức (756-757) đời

Đường, đổi tên là Hoàn vương, đóng đô ở

Chiêm thành (Chamthanh), vì thế Lâm ấp

còn được gọi là Chiêm ba (Champa), Chiêm

bà, Ma ha chiêm ba, Chiêm bất lao (Champura).

Vào năm Thuần hóa thứ 2 (991) đời

Bắc Tống, vị sa môn nước này tên là Tịnh

giới đến Trung quốc dâng ngọc như ý,

chuông đồng và hương long não.

Ngoài ra, cứ theo văn bia Nhật bản

Nam thiên trúc Bà la môn tăng chính và

Đại an tự Bồ đề truyền lai kí trong Đông

đại tự yếu lục quyển 2 ghi chép, thì vào

năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường, sa

môn nước Lâm ấp tên là Phật triết (Phật

triệt) cùng đi với ngài Bồ đề tiên na đến

Nhật bản, truyền vào vũ điệu Bồ tát, Bạt

đầu, nhạc Lâm ấp, v.v… Đến đời Minh,

Chiêm thành bị Việt nam thôn tính. Vào

năm Quang tự 12 (1886) thì trở thành

thuộc địa của nước Pháp.

Phật giáo được truyền vào Chiêm thành

thời nào không được rõ. Nhưng theo Tùy

thư Nam man liệt truyện thứ 47, thì phần

đông nhân dân nước này tin theo Phật giáo,

văn tự giống với văn tự Thiên trúc. Còn Cựu

đường thư Nam man liệt truyện thứ 147

cũng cho biết, nhân dân đặc biệt tin Phật

pháp và rất nhiều người xuất gia. Như vậy,

ta có thể suy đoán trước đời Tùy, Phật giáo

đã được truyền vào Chiêm thành rồi.

Ngoài ra, cứ theo Nam hải kí qui nội

pháp truyện quyển 1, thì tại Chiêm thành

Phật giáo Tiểu thừa, đặc biệt là Kinh lượng

bộ, rất thịnh hành.

[X. Đại đường tây vực kí Q.10; Đại

đường cầu pháp cao tăng truyện Q.hạ; Phật

tổ thống kỉ Q.43; Lương thư chư di liệt

truyện thứ 48].

LÂM CHUNG

Lúc hấp hối sắp chết.

Trong tinh xá Kì hoàn tại Ấn độ có thiết

lập viện Vô thường cho các vị tăng bị bệnh

nặng không thể cứu chữa nằm an nghỉ, khiến

họ lúc lâm chung xả bỏ tâm tham đắm đối

với phòng xá, áo bát và các đồ dùng khác.

Trong viện Vô thường thờ tượng Phật A di

đà đứng, tay trái của Ngài rủ xuống, cầm lá

phan 5 sắc, người lâm chung nắm lấy đầu lá

phan, biểu thị ý nghĩa theo Phật vãng sinh.

Nhà Diên thọ, gác Trọng bệnh, v.v… ở đời

sau chính là phỏng theo mô thức viện Vô

thường ngày xưa.

Ngoài ra, lúc lâm chung, cần diệt trừ

những ý niệm tạp nhạp mà chỉ chuyên chú

niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh độ, đây gọi là

Lâm chung chính niệm.

[X. luận Câu xá Q.9, 10].

LÂM CHUNG CHÍNH NIÊM

Người tu hành, lúc mệnh chung, xả bỏ

tất cả tà niệm, chỉ chuyên tâm nhiếp ý vào

việc tu trì Phật đạo.

Tông Tịnh độ cho rằng lúc người ta hấp

hối, không nên để cho cái khổ về chết làm

cho tâm sinh điên đảo, mà chỉ một lòng niệm

Phật cầu được sinh về cõi Tịnh độ.

Trong Quán niệm pháp môn, ngài Thiện

đạo thuộc tông Tịnh độ nói rằng: Nếu lúc

lâm chung mà để mất chính niệm thì quỉ

thần có cơ hội làm não loạn, người bệnh

chết trong sự điên cuồng và bị rơi vào 3

đường ác.

Tại Nhật bản, niệm Phật lúc lâm chung

gọi là Lâm chung niệm Phật, nhờ đó mà

được vãng sinh thì gọi là Lâm chung

LÂM CHUNG CHÍNH NIÊM

 

L

2733

nghiệp thành. Trái lại, nếu sự vãng sinh

Tịnh độ nhờ vào tín nguyện lúc bình sinh

mà được xác lập, thì gọi là Bình sinh

nghiệp thành.

[X. luận Câu xá Q.9; Long thư tịnh độ

văn Q.4; Lạc bang văn loại Q.1; A di đà kinh

lược kí; Thái bình kí Q.16].

LÂM CHUNG CHÍNH NIÊM QUYẾT

Cũng gọi Lâm chung yếu quyết, Lâm

chung chính niệm kí, Thiện đạo hòa thượng

lâm chung chính niệm quyết.

Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Thiện đạo

soạn vào đời Đường được thu vào Long thư

tịnh độ văn quyển 12 trong Đại chính tạng

tập 47.

Nội dung sách này nói rằng lúc lâm chung

cần phải giữ chính niệm, một lòng chuyên

niệm danh hiệu của Phật, thì chắc chắn sẽ

được vãng sinh. Sách được chia thành 4 mục

vấn đáp.

1. Lúc lâm chung phải dụng tâm như

thế nào?

2. Tìm thầy uống thuốc có ích lợi gì

không?

3. Cầu thần cầu phúc thì như thế nào?

4. Lúc bình thường trong cuộc đời không

hề niệm Phật, đến lúc lâm chung mới niệm

Phật thì công đức và quả báo ra sao?

LÂM CHUNG HIÊN TIỀN NGUYÊN

Cũng gọi Lâm chung nghinh tiếp

nguyện, Nhiếp thủ tu đức dục sinh nguyện,

Lai nghinh dẫn tiếp nguyện, Thánh chúng

lai nghinh nguyện, Hiện kì nhân tiền

nguyện.

Nguyện thứ 19 trong 48 nguyện của đức

Phật A di đà.

Tức hành giả niệm Phật, phát tâm bồ

đề, tu các công đức, nguyện sinh về Tịnh

độ phương Tây, lúc lâm chung, đức Phật A

di đà và các Thánh chúng cùng đến trước

tiếp dẫn.

[X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Quán

niệm pháp môn; Vô lượng thọ kinh sao Q.3;

Tịnh độ tông yếu tập Q.thượng (Lương

trung); Tịnh độ thuật môn sao]. (xt. Lai

Nghinh Tiếp Dẫn Nguyện).

LÂM CHUNG NGHIÊP THÀNH

Đối lại: Bình sinh nghiệp thành.

Đến lúc lâm chung mới thành tựu sự

nghiệp vãng sinh. Nghĩa là tin tưởng rằng

đến lúc hấp hối, thì Phật A di đà và các Bồ

tát hiện ra trước mắt, tiếp dẫn về cõi Tịnh

độ. Từ ngữ “Lâm chung nghiệp thành” có

xuất xứ từ tác phẩm “Tán thiện nghĩa vấn

đáp” quyển 6 của ngài Long khoan ở chùa

Trường lạc, Nhật bản. Nghiệp thành là

nghiệp sự thành biện, nghiệp đạo thành biện,

nghĩa là thành tựu sự nghiệp tu đạo.

Bởi vì, đối với việc cầu vãng sinh Tịnh

độ thì một niệm lúc lâm chung rất là quan

trọng. Người tu hành, lúc bình sinh niệm

Phật liên tục, không gián đoạn, đó là hành

vi chuẩn bị cho việc lâm chung nghiệp thành,

dẫu người ấy chưa thể thành tựu nghiệp

nhân vãng sinh, nhưng vẫn tiếp tục siêng tu

đến một niệm cuối cùng, thì chắc chắn cũng

được lâm chung nghiệp thành.

[X. Quán kinh huyền nghĩa phần tha bút

sao Q.hạ; Tịnh độ thuật văn sao; Tuyển trạch

bản nguyện niệm Phật tập bí sao Q.5].

LÂM ĐÀN

…..

Các vị Trưởng lão tăng hoặc ni lên đàn

để cử hành nghi thức truyền giới. Các vị

này được gọi là Lâm đàn đại đức. Lâm đàn

đại đức bắt đầu được đặt ra vào niên hiệu

Vĩnh thái năm đầu (765) đời Đường, khi

vua Đại tông ban sắc kiến lập giới đàn

Phương đẳng (Đại thừa) ở chùa Đại hưng

LÂM ĐÀN

 

L

2734

thiện tại Trường an, đồng thời, sắc lệnh cho

tăng ni trong kinh thành mỗi bộ lập ra 10 vị

Lâm đàn đại đức, tức là Tam sư thất chứng.

Từ khoảng năm Hội xương đến năm Đại

trung (841-859) lại chia ra Nội lâm đàn đại

đức(những vị Đại đức đăng đàn truyền giới trong

cung), Ngoại lâm đàn đại đức(những vị Đại

đức đăng đàn truyền giới tại các chùa viện)và

Nội ngoại lâm đàn đại đức. Ngài Huyền

sướng là vị Đại đức nổi tiếng của Nội ngoại

lâm đàn thời bấy giờ.

[X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí

Q.thượng phần 2; Đại Tống tăng sử lược

Q.hạ; Tống cao tăng truyện Q.16, 17].

LÂM GIAN LỤC

Gọi đủ: Thạch môn Hồng giác phạm lâm

gian lục.

Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Giác phạm

Tuệ hồng (1071-1128) soạn vào đời Tống,

được xếp trong Vạn tục tạng tập 148.

Nội dung sách này ghi lại các cuộc đàm

luận của ngài Tuệ hồng với các bậc cao sĩ

trong chốn tùng lâm về công hạnh của

các bậc tôn túc, những di huấn trong tùng

lâm, ý chỉ vi diệu của chư Phật, Bồ tát và

những lời nghị luận của các bậc hiền sĩ,

đại phu, v.v…tất cả gồm hơn 100 thiên yếu

ngữ. Đây là bộ sách chỉ nam cho người tham

thiền học đạo, xưa nay được lưu truyền rộng

rãi trong các tùng lâm.

Ngoài ra, ngài Tuệ hồng còn trứ tác Lâm

gian hậu lục 1 quyển, cũng gọi Lâm gian lục

hậu tập, Tân biên lâm gian hậu lục, cũng

được thu vào Vạn tục tạng tập 148.

[X. Thiền tịch chí Q.hạ].

LÂM HẠ

…..

Lâm chỉ cho tùng lâm hay Thiền lâm,

còn hạ tức là ở trong tùng lâm.

Ngoài ra, tại Nhật bản, những Thiền viện

thuộc Ngũ sơn nằm dưới quyền thống trị

của Mạc phủ(bọn quân phiệt) được gọi là

tùng lâm, còn những Thiền viện nằm ngoài

phạm vi thống trị của Mạc phủ thì được gọi

là Lâm hạ.

[X. chương Giáp sơn Thiện hội trong Tổ

đường tập Q.7].

LÂM HÃN

…..

Chỉ cho sự tắm gội trong khoảng 3 tháng

mùa hạ, từ tháng 7 đến tháng 9.

Điều Dục chủ trong Thiền uyển thanh

qui quyển 4 (Vạn tục 111, 448 hạ), nói: “Đến

ngày tắm, đun nước nóng, treo bảng Khai

dục(bảng báo giờ tắm gội) ở trước nhà Trai

để thông báo cho đại chúng tắm rửa hoặc

gội đầu”.

[X. môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng

khí tiên].

LÂM LÊ QUANG (1902-1945)

Học giả Phật giáo Trung quốc, người Hạ

môn, tỉnh Phúc kiến.

Lúc còn ít tuổi, ông theo giáo sư Paul

Damieville, một nhà Hán học người Pháp,

nghiên cứu tiếng Phạm ở Đại học Hạ môn.

Sau khi tốt nghiệp, ông đến Đại học Bắc

kinh làm trợ giáo cho giáo sư Cương hòa

thái. Ngoài việc giúp phiên dịch kinh điển

ra, ông còn nghiên cứu tiếng Phạm và tiếng

Tây tạng.

Năm 1933, ông sang Pháp, nhận chức

Giảng sư môn Trung văn ở Đại học Ngôn

ngữ Đông phương tại Paris. Ở đây, ông theo

học kinh điển Phật bằng tiếng Phạm với 2

vị giáo sư Ấn độ học người Pháp là S. Levi

và L. Rerrou. Sau đó, ông đạt được học vị

Tiến sĩ Quốc gia nước Pháp.

Công trình nghiên cứu của ông chủ yếu

là kinh Chư pháp tập yếu và kinh Chính

pháp niệm xứ. Ngoài ra, ông còn xem tới

LÂM LÊ QUANG

 

L

2735

hơn 200 bộ kinh điển trong tạng kinh

Trung văn, chuyên tâm nghiên cứu, tìm tòi

và so sánh văn học, và lí luận trong kinh

điển. Những kết quả của việc nghiên cứu

này đều được ghi chép trong phần phụ lục

của luận án Tiến sĩ của ông. Rất tiếc công

trình nghiên cứu của ông đang được tiến

hành, thì không may ông lâm bệnh nặng

và qua đời tại Paris.

Sau khi ông mất, các di phẩm của ông

được giáo sư Paul Damieville sửa chữa và

lần lượt cho xuất bản, tất cả có 4 tập, do sở

nghiên cứu khoa học và viện Bảo tàng nước

Pháp ấn hành. Tập 1 là luận án Tiến sĩ của

ông, trình bày mối quan hệ giữa kinh Chư

pháp tập yếu với giáo nghĩa Tiểu thừa, rồi

so sánh với kinh Chính pháp niệm xứ và bổ

sung những chỗ thiếu sót của kinh này trong

bản dịch Tây tạng, cũng như những điểm

sai lầm trong bản Hán dịch hiện còn. Tập 2

đến tập 4 thì nghiên cứu và giải thích một

cách rất tỉ mỉ rõ ràng 2500 bài tụng trong

kinh Chư pháp tập yếu, đối chiếu với 4 thứ

ngữ văn là: Hán, Phạm, Tạng, Pháp. Công

trình này của ông được giáo sư Paul

Damieville hết lời khen ngợi là: “Bất thế

Thánh tăng”(Thánh tăng để tóc).

LÂM NGẠN MINH (1868-1945)

Danh tăng kiêm học giả Nhật bản thuộc

tông Tịnh độ, hiệu Hương dự, tự là Mai thụ,

Qui đường.

Sư xuất gia năm lên 8 tuổi, 19 tuổi sư

đến Đông kinh thờ các ngài Y đạt Linh kiên

và Hắc điền Chân động làm thầy, theo học

Phật pháp ở trường Phật học của tông Tịnh

độ. Về sau, sư lại chuyên nghiên cứu Duy

thức học.

Năm 27 tuổi, sư trụ trì chùa Đại tú ở

Thiển thảo và giữ các chức vụ như: Giáo

thụ và Hiệu trưởng trường Tịnh độ tông,

Chủ nhiệm giáo học kiên giáo sư học viện

Cao đẳng, Thượng thủ Đạo tràng Tổng bản

sơn chuyên tu, Giảng sư môn Triết học của

trường Đại học Đế quốc tại Đông kinh, Đại

tăng chính, Tổng thư kí hội Nghiên cứu Phật

giáo Nhật hoa, v.v… Sư sáng lập các tạp chí

Phù tông công luận, Nhật Hoa Phật giáo

nghiên cứu hội, ra sức phát triển sự giao lưu

Phật giáo giữa 2 nước Nhật Trung; suốt đời

chuyên nghiên cứu tông học của Tịnh độ và

đặt nền tảng vững chắc cho sự nghiên cứu

này. Ngoài ra, sư cũng thông hiểu Duy thức

và Nhân minh.

Năm Chiêu hòa 20 (1945) sư tịch, thọ

78 tuổi.

Sư có các trứ tác: Chuyển thức luận chi

nghiên cứu,

Tân đính thụ

Bồ tát giới

nghi. Niệm

Phật Pháp hoa

luận, Ất hợi

phỏng Hoa lục,

Kỉ mão phỏng

Hoa lục, Đại

thừa khởi tín

luận tân

nghiên cứu.

[X. Mai thụ truy tưởng; Cận đại Tịnh độ

tông tăng anh truyện].

LÂM SÂM (1868-1943)

…..

Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người huyện

Mân hầu, tỉnh Phúc kiến, tự Tử siêu, hiệu

Thiên ba, biệt hiệu Thanh chi lão nhân.

Năm Dân quốc 21 (1932), ông được bầu

làm Chủ tịch Chính phủ Quốc dân. Ông

thường kinh lí các tỉnh, đến đâu cũng tỏ

thái độ hòa nhã và dùng lời từ ái an úy vỗ

về quân dân. Ông sống cuộc đời giản dị,

cần kiệm, hâm mộ Phật pháp, ăn chay,

không sát sinh.

Ông thường cùng chư tăng đàm luận Phật

LÂM SÂM

Lâm Ngạn Minh

 

L

2736

pháp, ủng hộ và giao hảo thân thiện với các

bậc danh đức đương thời như các ngài Thái

hư, Từ hàng, Viên anh, v.v… Ông tận lực

can thiệp để giữ gìn tài sản của chùa chiền,

bảo vệ chúng tăng trong phong trào Miếu

sản hưng lọc(tài sản của chùa chiền biến làm

trường học) do nhóm Chu phật hải và Cáp

sảng thu, v.v… ở tỉnh Giang tô chủ xướng.

Năm Dân quốc 21 (1932), lầu chứa kinh

được xây cất ở trong vườn lăng Tôn trung

sơn tại Nam kinh, ông cùng Đại sư Thái hư

vận động in 15 bộ Long tạng gửi tặng cho

các thư viện của các trường Đại học trong

nước. Đối với sự nghiệp truyền bá Phật pháp,

ông đã có những cống hiến rất lớn.

Năm Dân quốc 32 (1943) ông qua đời

tại Trùng khánh, thọ 75 tuổi.

LÂM TÁNG

…..

Cũng gọi Dã táng.

Bỏ xác chết trong rừng cho chim, thú

ăn thịt, là 1 trong 4 cách chôn cất của người

Ấn độ.

Hiện nay, tín đồ Ba tư giáo ở Ấn độ còn

có phong tục xây tháp cao, đem xác chết để

lên trên cho chim đến rỉa ăn, đây là biến

tướng của Lâm táng.

(xt. Tứ Táng).

LÂM TẾ CHÂN NHÂN

Tên công án trong Thiền tông.

Nội dung công án này nói về cơ duyên

vấn đáp giữa Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền

với 1 vị tăng trong khi Ngài đang dạy chúng.

Lâm tế lục (Đại 47, 496 hạ), ghi: “Sư lên

pháp đường nói: Trong khối thịt đỏ au có 1

Vô vị chân nhân thường ra vào nơi mặt mũi

của các ông, người chưa được chứng thấy,

thì hãy xem! Hãy xem!

Lúc đó có 1 vị tăng bước ra hỏi: Thế nào

là Vô vị chân nhân?

Sư bước xuống giường Thiền, nắm lấy vị

tăng bảo: Nói mau! Nói mau! Vị tăng suy

nghĩ, sư xô ra, nói:“Vô vị chân nhân là cái

cục phân khô gì”, rồi quay về phương trượng”.

[X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.12;

Nhân thiên nhãn mục Q.thượng; tắc 38

trong Thung dung lục].

LÂM TẾ HÁT ĐỨC SƠN BỔNG

Cũng gọi Lâm tế kim cương vương, Đức

sơn mộc thượng tọa.

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Chỉ cho tiếng hét(hát) của Thiền sư Lâm

tế và cây gậy(bổng) của Thiền sư Đức sơn ở

đời Đường.

Khi tiếp dẫn người học, Thiền sư Lâm

tế Nghĩa huyền thường dùng tiếng hét, còn

Thiền sư Đức sơn Tuyên giám thì hay dùng

cây gậy đánh để khai ngộ. Trong Thiền

tông, 2 tông phong này có 1 địa vị trọng

yếu và 2 ngài Lâm tế, Đức sơn được xem

như ngang nhau, xứng đáng là đại biểu cho

các Thiền sư.

Tắc 87 Bích nham lục (Đại 48, 212

thượng), nói: “Đức sơn gậy đánh như mưa

đổ, Lâm tế hát vang tựa sấm rền”.

[X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.15;

Trung phong quảng lục Q.12 thượng; Viên

ngộ tâm yếu Q.thượng; Đại tuệ pháp ngữ

ngữ lục Q.20].

LÂM TẾ HẠT LƯ

Tên công án trong Thiền tông.

Nội dung công án này nói về cơ duyên

vấn đáp giữa Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền

lúc sắp thị tịch với vị đệ tử của Ngài là Tam

thánh Tuệ nhiên.

Lâm tế lục (Đại 47, 506 hạ), nói: “Lúc

sắp tịch, sư ngồi trên tòa, dặn sau khi ta

diệt độ, không được làm mất chính pháp

nhãn tạng của ta”.

LÂM TẾ HẠT LƯ

 

L

2737

Tam thánh bước ra thưa:

–Đâu dám để mất chính pháp nhãn tạng

của Hòa thượng.

Sư nói:

–Sau này, nếu có người hỏi thì ngươi sẽ

trả lời họ thế nào?

Tam thánh liền hét.

Sư nói:

–Ai ngờ chính pháp nhãn tạng của ta bị

con lừa mù(hạt lư) này diệt mất!

Nói xong, sư ngồi ngay thẳng thị tịch”.

[X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.12; Tổ

đình sự uyển Q.2; Ngũ đăng hội nguyên

Q.11; tắc 13 Thung dung lục].

LÂM TẾ LỤC

Gọi đủ: Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu

thiền sư ngữ lục.

Cũng gọi: Lâm tế Nghĩa huyền thiền sư

ngữ lục.

Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tam thánh

Tuệ nhiên biên tập vào đời Đường, được

thu vào Đại chính tạng tập 47.

Nội dung sách này thu chép các pháp

ngữ của Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền, được

tông Lâm tế coi là bộ Ngữ lục quan trọng

nhất. Sách này được chia làm 3 phần: Ngữ

lục, Khám biện và Hành lục. Phần Ngữ lục

trình bày về Tứ hát, Tứ tân chủ, Tam huyền

tam yếu, Tứ liệu giản v.v…; phần Khám biện

nói về cơ duyên vấn đáp với các bậc tôn túc

khi Thiền sư Lâm tế du phương tham vấn

các nơi; còn phần Hành lục thì nói về hành

trạng và truyện kí của Ngài.

Phần nổi tiếng nhất trong nội dung sách

này là Tứ liệu giản, đó là: Đoạt nhân bất

đoạt cảnh, Đoạt cảnh bất đoạt nhân, Nhân

cảnh câu đoạt, Nhân cảnh câu bất đoạt…

Sau khi Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền

thị tịch được 254 năm, thì ngài Viên giác

Tông diễn ở núi Cổ sơn thuộc Phúc châu

mới khắc lại bộ Ngữ lục này vào năm Tuyên

hòa thứ 2 (1120) đời Bắc Tống. Vấn đề nội

dung bản Ngữ lục khắc lại này với bộ Ngữ

lục trước năm Tuyên hòa thứ 2 có giống

nhau hay không thì không thể khảo chứng

được, vì thiếu tư liệu. Bản lưu hành hiện

nay là bản khắc lại.

LÂM TẾ NGHĨA HUYỀN (?-867)

Thiền sư Trung quốc, Tổ khai sáng của

tông Lâm tế, sống vào đời Đường, người Nam

hoa, Tào châu (Hà nam), họ Hình.

Sư xuất gia từ thủa nhỏ và rất hâm mộ

Thiền tông. Sau

khi thụ giới Cụ

túc, sư đến Giang

tây tham yết ngài

Hoàng bá Hi vận,

sau đó, tham lễ

ngài Cao an Đại

ngu, ngài Qui sơn

Linh hựu, v.v…,

cuối cùng lại trở

về Hoàng bá và

được ấn khả.

Năm Đại trung thứ 8 (854) đời vua Tuyên

tông nhà Đường, sư đến trụ ở viện Lâm tế

tại Trấn châu thuộc tỉnh Hà bắc, đặt ra cơ

pháp Tam huyền tam yếu, Tứ liệu giản, v.v…

để tiếp dắt người học. Khi hướng dẫn người

học, sư thường dùng tiếng hét để hiển bày

đại cơ đại dụng. Đối với hành giả tham

Thiền, sư rất nghiêm khắc, nhưng người học

lại theo về rất đông, môn phong hưng thịnh,

gây thành 1 phái thiền Lâm tế nổi tiếng ở

Trung quốc.

Sư tịch vào năm 867 Tây lịch, không rõ

tuổi thọ, vua ban thụy hiệu “Tuệ Chiếu

Thiền Sư”. Đệ tử nối pháp gồm có 22 vị

như: Hưng hóa Tồn tưởng, Tam thánh Tuệ

nhiên, Quán khê Chí nhàn, v.v… đều là

những bậc tông tượng trong Thiền lâm.

[X. Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư tháp kí;

LÂM TẾ NGHĨA HUYỀN

Ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền

 

L

2738

Tống cao tăng truyện Q.12; Cảnh đức

truyền đăng lục Q.12; Truyền pháp chính

tông kí Q.7].

LÂM TẾ PHẬT PHÁP ĐẠI Ý

Cũng gọi Định thượng tọa trừ lập, Định

thượng tọa vấn Lâm tế, Lâm tế thác khai,

Cầm Định thượng tọa.

Tên công án trong Thiền tông.

Công án này nói về cơ duyên vấn đáp

giữa Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền và

Thượng tọa Định.

Tắc 32, Bích nham lục (Đại 48, 171

trung), chép: “Thượng tọa Định hỏi ngài Lâm

tế: Thế nào là đại ý Phật pháp? Ngài Lâm tế

bước xuống giường thiền, nắm chặt lấy

Thượng tọa Định, đánh 1 tát, rồi buông ra.

Thượng tọa Định đứng lặng thinh, vị tăng

bên cạnh nói:

–Thượng tọa Định sao không lễ bái đi!

Thương tọa Định liền lễ bái, bỗng nhiên

đại ngộ”.

[X. điều Khám biện trong Trấn châu Lâm

tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục; Hoành trí thiền

sư quảng lục Q.1; Ngũ đăng hội nguyên Q.11].

LÂM TẾ TÀI TÙNG

Tên công án trong Thiền tông.

Nội dung nói về cơ duyên vấn đáp giữa

Thiền sư Hoàng bá Hi vận và ngài Lâm tế

Nghĩa huyền đời Đường.

Lâm tế lục (Đại 47, 505 thượng), chép:

“Một hôm, sư đang trồng tùng, ngài Hoàng

bá hỏi:

–Trong chốn núi sâu mà trồng nhiều

tùng để làm gì?

Sư đáp:

–Một là để tạo cảnh đẹp cho chùa, hai

là làm vật tiêu biểu cho người đời sau.

Nói xong, sư dộng đầu cái mai xuống

đất 3 cái.

Thiền sư Hoàng bá nói:

–Tuy nhiên như thế, nhưng ông đã ăn

30 gậy của ta rồi.

Sư lại dộng đầu mai 3 cái nữa, miệng

mấp máy: Hư, hư.

Ngài Hoàng bá nói:

–Tông của ta đến đời ông sẽ rất hưng

thịnh”.

[X. Ngũ đăng hội nguyên Q.11].

LÂM TẾ TAM CÚ

Tên công án trong Thiền tông.

Ba câu nói rõ 3 phương pháp hướng dẫn

người học của Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền

đời Đường.

Ba câu ấy là:

1. Tam yếu ấn khai chu điểm trắc, vị dung

nghĩ nghị chủ tân phân(Tam yếu mở bàytâm

ấn Phật, chưa kịp nghĩ bàn thì địa vị chủ và

khách đã phân chia rõ).

Tam yếu, chỉ cho Phật chân thực trước

khi có lời nói; Ấn khai là mở bày tâm ấn

Phật. Tam yếu ấn khai chỉ cho 1 niệm khai

ngộ thì Phật chân thực hiện tiền, cho đến

thành Phật.

2. Diệu giải khởi dung Vô trước vấn, âu

hòa tranh phụ tiệt lưu cơ(Thấu suốt không

cần Vô trước hỏi, phương tiện được dùng diệt

não phiền).

Câu thứ 2 này chỉ bày sự liễu ngộ Phật

chân thực hiện tiền trong câu thứ 1. Sự liễu

ngộ này thuộc về tuyệt đối, không thể hỏi

đáp, không cần bất cứ thứ phương tiện nào.

Âu hòa là dịch âm tiếng PhạmUpàya, nghĩa

là phương tiện; tiệt lưu cơ là đoạn trừ phiền

não, được giải thoát, tức là dùng các phương

tiện để cầu giải thoát tuyệt đối.

3. Khán thủ bằng đầu lộng ổi lỗi, trừu

khiên đô lai lí hữu nhân (Hãy xem con rối

đùa trên gác, cử động đều do người điều khiển).

Câu thứ 3 này là nói về các pháp môn

phương tiện được bày đặt ra, dành riêng cho

LÂM TẾ TAM CÚ

 

L

2739

những người độn căn cầu đạo, không giống

với câu thứ 1 và thứ 2, có những pháp môn

phương tiện giống như những người gỗ đầu

thần mặt quỉ do ổi lỗi sư(người chuyên làm

các con rối) chế tạo ra.

[X. điều Thướng đường trong Trấn châu

Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục; Nhân

thiên nhãn mục Q.1].

LÂM TẾ TÔNG

Gọi tắt: Tế tông.

Tông Lâm tế, 1 trong Ngũ gia thất tông

của Thiền tông Trung quốc, do ngài Lâm tế

Nghĩa huyền (?-867) thuộc pháp hệ ngài Nam

nhạc Hoài nhượng sáng lập, cũng là 1 trong

13 tông phái của Phật giáo Nhật bản.

Sau khi ngài Lâm tế Nghĩa huyền được

Thiền sư Hoàng bá Hi vận ấn chứng, vào

năm Đại trung thứ 8 (854) đời vua Tuyên

tông nhà Đường, ngài đến trụ ở viện Lâm tế

tại Trấn châu, đặt ra Tam huyền tam yếu,

Tứ liệu giản, v.v… để tiếp dẫn đồ chúng,

môn phong hưng thịnh và, từ thời Trung

Đường về sau, đã phát triển thành 1 tông

phái lớn, gọi là tông Lâm tế.

Những phương pháp truyền giáo như: Tứ

tân chủ, Tứ liệu giản, Tứ chiếu dụng, v.v…

thường được tông này sử dụng. “Tứ tân chủ”

là thông qua những câu vấn đáp giữa thầy

và trò(hoặc chủ và khách) để so sánh, đánh

giá sự sâu cạn về cảnh giới chứng ngộ của

đôi bên, còn “Tứ liệu giản”, “Tứ chiếu dụng”

là căn cứ vào trình độ liễu ngộ khác nhau

của người học mà lập ra phương thức giáo

hóa. Cơ phong của tông này rất bén nhạy

và mạnh mẽ. Từ ngài Nghĩa huyền dùng

phương pháp đánh hét, đến ngài Tông cảo

đề xướng phương thức khán thoại đầu(tức

tham cứu công án), đều dùng thủ đoạn thần

tốc, mãnh liệt, hoặc những lời nói sắc bén,

khiến người học ngay đó tỉnh ngộ. Nhờ có

cơ phong thần tốc, mãnh liệt, cộng với phong

cách tự do, nên Thiền pháp của tông Lâm

tế rất được giới vũ sĩ, tướng quân và chính

khách ưa thích và đến đời nhà Thanh thì

tông này trở thành dòng phái chính yếu của

Thiền tông Trung quốc.

Các đệ tử nối pháp của ngài Nghĩa

huyền có 22 vị, như các sư Hưng hóa Tồn

tưởng, Tam thánh Tuệ nhiên, Quán khê

Chí nhàn, v.v… Sư Tồn tưởng là Thủ tọa,

sư Tuệ nhiên được ngài Nghĩa huyền phó

chúc biên tập ngữ lục. Dưới sư Tồn tưởng,

có sư Bảo ứng Tuệ ngung truyền đến sư

Phong huyệt Diên chiểu. Năm Trường hưng

thứ 2 (931) đời Hậu Đường, sư Phong huyệt

Diên chiểu trụ ở chùa Quảng tuệ lãnh

chúng tu học, đệ tử nối pháp là Thủ sơn

Tỉnh niệm thường tu hạnh đầu đà. Môn

phong của sư Thủ sơn rất hưng thịnh, lan

ra khắp nước, đệ tử gồm có 16 người như:

Diệp huyền Qui tỉnh, Quảng tuệ Nguyên

liễu, Cốc ẩn Uẩn thông, Phần dương Thiện

chiêu, v.v… Môn hạ của sư Qui tỉnh có 8

người, trong đó, Phù sơn Pháp viễn đề

xướng thuyết Cửu đới, Thập lục hiển. Sư

Thiện chiêu mới đầu, lần lược tham vấn

71 vị thiện tri thức, sau cùng, đến chỗ Thiền

sư Thủ sơn Tỉnh niệm thì được khế ngộ,

trụ chùa Thái bình ở Phần châu, dùng các

cơ dụng như Tam cú tứ cú, Tam quyết,

Thập bát xướng, v.v… để tiếp dẫn người

học, được tôn xưng là Thiên Hạ Đệ Nhất,

dưới cửa sư có rất nhiều nhân tài, như các

vị: Thạch sương Sở viên, Lang da Tuệ giác,

Đại ngu Thủ chi, v.v… Sư Tuệ giác và sư

Tuyết đậu Trùng hiển được gọi chung là

“Nhị Cam Lộ Môn”. Sư Sở viên nhờ dùng

pháp lệnh nghiêm túc, cơ pháp hiểm hóc

siêu tuyệt mà nổi tiếng, dưới cửa sư có các

vị Hoàng long Tuệ nam và Dương kì

Phương hội là nổi bật hơn cả; sư Tuệ nam

sáng lập phái Hoàng long, còn sư Phương

hội thì sáng lập phái Dương kì, từ đời Tống

về sau 2 phái này rất thịnh, sánh ngang với

LÂM TẾ TÔNG

 

L

2740

các tông Tào động, Vân môn, v.v…

Vàothời Tống, vị tăng Nhật bản là

Minh am Vinh tây đến Trung quốc tham

yết pháp tôn đời thứ 7 của ngài Hoàng long

là sư Hư am Hoài sưởng và được truyền

Thiền pháp phái Hoàng long. Sau khi về

nước, sư Vinh tây sáng lập chùa Kiến nhân

ở Kinh đô (Kyoto), gồm tu cả Viên tông,

Mật tông và Thiền tông. Ngoài ra, sư Tuấn

nhận (1166-1227) cũng đến Trung quốc vào

đời Tống, thụ pháp nơi ngài Mông am

Nguyên thông đời thứ 7 thuộc phái Dương

kì; sau khi trở về Nhật bản, sư Tuấn nhận

truyền bá giới luật và Thiền pháp ở chùa

Tuyền dũng. Vào những năm cuối đời Nam

Tống, Thiền sư Trungquốcsang Nhật rất

đông, phần nhiều hoằng truyền Thiền pháp

của pháiDương kì. Trong 24 dòng phái

Thiền tông của thời kì Liêm thương (1192-

1333) tại Nhật bản, thì có tới 20 dòng phái

thuộc hệ thống phái Dương kì, còn phái

Hoàng long thì chỉcó một dòng của sư

Vinh tây. Rồi đến cuối đời Minh đầu đời

Thanh, ngài Ẩn nguyên Long kì là đời thứ

24 thuộc phái Dương kì, vào năm Thừa

ứng thứ 3 (1654) vượt biển sang Nhật lập

riêng tông Hoàng bá.

[X. Lâm tế tông chỉ; Ngũ đăng hội nguyên

Q.11, 12, 17-20; Bản triều tăng bảo truyện;

Diên bảo truyền đăng lục; Phù tang thiền

lâm tăng bảo truyện].

LÂM TẾ TÔNG CHỈ

Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Giác phạm

Tuệ hồng (1071-1128) soạn vào đời Tống,

được đưa vào Vạn tục tạng tập 111.

Trong sách này, ngài Tuệ hồng viện dẫn

những lời đề xướng của các bậc cổ đức, tôn

túc mà bàn rõ về các pháp yếu: Tam huyền

tam yếu, Thập trí đồng chân, Tứ tân chủ,

v.v… để dắt dẫn người học ngộ được yếu chỉ

đặc thù của tông Lâm tế.

LÂM TẾ TỨ HÁT

Tên công án trong Thiền tông.

Bốn tác dụng của tiếng hét mà Thiền sư

Lâm tế Nghĩa huyền sử dụng để tiếp dẫn

người học.

Lâm tế lục (Đại 47, 504 thượng), chép:

“Sư nói với 1 vị tăng: Có khi 1 tiếng hét như

thanh kiếm báu Kim cương vương, có khi 1

tiếng hét như sư tử lông vàng ngồi chồm

hổm trên đất, có khi 1 tiếng hét như cần

câu lùa dưới bóng bè cỏ, có khi 1 tiếng hét

không có tác dụng của tiếng hét. Ông có

hiểu không? Vị tăng suy nghĩ, sư liền hét”.

Tiếng hét thứ nhất là tiếng hét phát ra

đại cơ, khi đối với người học chấp trước vào

sự hiểu biết, tính lường, mắc kẹt trong danh

tướng, lời nói, câu văn, thì dùng tiếng hét

này, lúc ấy tiếng hét giống như thanh bảo

kiếm chặt đứt các vật.

Tiếng hét thứ hai là tiếng hét đại cơ đại

dụng, khi người học muốn thăm dò chỗ thấy

biết của bậc thầy, mà bày tỏ cái kiến giải

nhỏ hẹp, nông cạn của mình, thì bậc thầy

hét tiếng hét này để dẹp trừ, như khi sư tử

rống thì đầu cáo chồn bị vỡ.

Tiếng hét thứ ba là tiếng hét dùng để trắc

nghiệm sự tu hành của người học, hoặc người

dùng tiếng hét này để trắc nghiệm sư gia.

Tiếng hét thứ tư là tiếng hét hướng

thượng, tuy không thuộc trong ba tiếng hét

trước, nhưng lại có khả năng gồm thâu cả

ba tiếng hét trước.

[X. Nhân thiên nhãn mục Q.2; Cảnh đức

truyền đăng lục Q.12].

LÂM TẾ TỨ TÂN CHỦ

Cũng gọi Tế tông tứ tân chủ.

Bốn câu nói về khách và chủ(tức là mối

quan hệ giữa bậc thầy và người học)do Thiền

sư Lâm tế Nghĩa huyền đề ra để hướng dẫn

LÂM TẾ TỨ TÂN CHỦ

 

L

2741

người học, là 1 trong các tư tưởng căn bản

của Thiền Lâm tế.

Bốn câu ấy là:

1. Tân khán chủ: Người học biết suốt

kiến giải của thầy.

2. Chủ khán tân: Bậc thầy thấy rõ nội

tâm của người học.

3. Chủ khán chủ: Hai người có đủ đạo

nhãn gặp nhau.

4. Tân khán tân: Hai người không có

đạo nhãn gặp nhau.

Về sau, Thiền sư Phong huyệt Diên chiểu

đổi 4 câu trên thành là “Khách trong chủ,

chủ trong khách, chủ trong chủ, khách trong

khách”, nhưng vẫn cùng một ý nghĩa.

Cảnh đức truyền đăng lục quyển 13 (Đại

51, 303 hạ), chép:

“Hỏi:

–Thế nào là khách trong chủ?

Sư đáp:

–Vào chợ 2 mắt mù.

Hỏi:

–Thế nào là chủ trong khách?

Sư đáp:

–Về cung mặt trời mặt trăng chiếu.

Hỏi:

–Thế nào là khách trong khách?

Sư đáp:

–Nhướng mày ngồi nhìn mây trắng.

Hỏi:

–Thế nào là chủ trong chủ?

Sư đáp:

–Mài dao trên cối đá, đợi chém người

bất bình”.

[X. Hoành trí thiền sư quảng lục Q.8;

Đầu tử nghĩa thanh ngữ lục Q.thượng; Nhân

thiên nhãn mục Q.10]. (xt. Tứ Tân Chủ).

LÂM TẾ TỰ

I. Lâm Tế Tự.

Chùa Lâm tế, ở huyện Chính định, tỉnh

Hà bắc, Trung quốc. Vốn có tên là viện Lâm

tế, được sáng lập vào năm Hưng hòa thứ 2

(540) đời Hiếu tĩnh đế nhà Đông Ngụy.

Khoảng năm Đại trung (847-859) đời vua

Tuyên tông nhà Đường, Thiền sư Lâm tế

Nghĩa huyền về trụ chùa này, đại chấn Thiền

phong, người học từ khắp nơi tụ về rất đông.

Cứ theo Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền

sư ngữ lục, thì chùa này ở góc Đông nam thành

Trấn châu, tỉnh Hà bắc, mặt nhìn xuống(lâm)

sông(tế) Hô đà, vì thế có tên là Lâm tế.

Năm Hàm thông thứ 8 (867), ngài Nghĩa

huyền thị tịch đệ tử xây tháp để thờ áo bát

của Ngài, gọi là tháp “Lâm Tế Thiền Sư”.

Đến các đời Kim, Nguyên, tháp được trùng

tu nhiều lần. Khoảng năm Thiên thuận

(1457-1464) đời vua Anh tông nhà Minh,

có đúc thêm

hồng chung.

Hiện này chùa

có Phật điện,

tháp, hồng

chung, v.v…

Tháp được gọi

là Thanh tháp,

hình 8 góc,

bằng gạch, 9

tầng, cao

khoảng 100

thước.

II. Lâm Tế Tự.

Chùa ở núi Viên sơn, Đài bắc, Đài loan,

được sáng

lập vào

năm 1909.

Chùa

này nguyên

là đạo tràng

trọng yếu

của tông

Lâm tế,

Nhật bản.

Năm Dân

quốc 34

LÂM TẾ TỰ

Tháp ở chùa Lâm tế, Hà bắc

Cảnh bên ngoài của Đại Hùng Bảo Điện

của chùa Lâm tế, Đài Bắc

 

L

2742

(1945), được pháp sư Bản viên ở núi Quan

âm tiếp quản. Về sau, có các sư: Thịnh mãn,

Tâm ngộ, Bạch thánh, v.v… lần lượt trụ trì,

sửa sang, mở mang thêm mới có qui mô như

ngày nay. Bắt đầu từ năm Dân quốc 71

(1982), chùa này là nơi họp hội nghị của

Hội Tăng già Phật giáo Thế giới.

LÂM TRAI

…..

Đến giờ ngọ trai, hay khi tiếp nhận sự

cúng dường của tín đồ.

Tùng lâm hiệu định thanh qui tổng yếu

quyển thượng (Vạn tục 112, 12 hạ), ghi:

“Hoặc đi xa vừa về, gặp giờ ngọ trai, thì đi

thẳng vào Tăng đường để cùng thụ trai với

đại chúng”.

Ngoài ra, vào giờ ngọ trai, tụng kinh

hồi hướng cho người chết, gọi là Lâm trai

phúng kinh.

[X. môn Phúng xướng trong Thiền lâm

tượng khí tiên].

LÂN A GIÀ SẮC

Phạm: Agha-sàmantaka.

Cũng gọi Lân ngại sắc, Lân a ca sắc.

Màu sắc của hư không. Có 3 thuyết.

1. Thuyết thứ nhất: Chủ trương rằng

Lân a già tức chỉ cho kẽ hở lấy sáng, tối làm

thể của nó, mà kẽ hở thì tức là không giới,

vì thế, Lân a già sắc tức là màu của hư không.

2. Thuyết thứ hai: A già (Phạm:Agha)

chỉ cho sự tích tụ vật chất(sắc pháp) có hình

tướng mà thô tạp; nó đã bị những vật chất

khác làm trở ngại thì nó cũng sẽ làm cho

những vật chất khác bị trở ngại. Cứ theo đó

thì màu sắc của hư không gần kề với loại vật

chất(A già) có tính chướng ngại, cho nên gọi

là Lân a già sắc, nghĩa gần với màu sắc a già.

3. Thuyết thứ 3: A già (Phạm: Agha)

nghĩa là không ngăn ngại, chỉ cho màu sắc

của hư không vô hình nhỏ nhiệm, màu sắc

này của hư không gần sát với những vật chất

khác có tính chướng ngại, vì thế gọi là Lân a

già sắc.

Loại màu sắc hư không này, trong các

kinh Phật chữ Hán thường được dịch là Lân

a già sắc, hoặc dịch thẳng là Không giới sắc,

nhưng chưa xác định nó thuộc nghĩa nào

trong 3 nghĩa nêu trên, cho nên các bộ luận

sớ hoặc các sách âm nghĩa đời sau, khi đề

cập đến A già sắc hoặc Không giới sắc, thì

cứ tự do chú giải. Nhưng luận Câu xá bản

dịch Tây tạng thì dịch màu sắc a già làthogsmed-

ĩe-#khor, nghĩa là Lân vô ngại, tức

là dùng theo thuyết thứ ba.

[X. Câu xá thích luận Q.1; Câu xá luận

quang kí Q.1; Câu xá luận bảo sớ Q.1 phần

dưới; Huyền ứng âm nghĩa Q.24]. (xt. A

Già Sắc).

LÂN CẬN THÍCH

Phạm: Avyayì-bhàva.

Hán dịch: Bất biến hóa.

Từ được dùng để giải thích những danh

từ kép trong Tiếng Phạm, là 1 trong 6 hợp

thích (Lục hợp thích).

Khi giải thích về nghĩa Lân cận thích,

thì Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễnnghĩa sao

quyển 38 theo nghĩa “lân cận” (ở gần kề)

mà lập danh; chẳng hạn như “Tứ niệm trụ”

vốn lấy “Tuệ” làm thể, tức là dùng trí tuệ

quán xét thân, thụ, tâm, pháp. Nhưng ở

đây lại dùng “Niệm”, có nghĩa ghi nhớ rõ

ràng không quên, còn “Tuệ” thì có nghĩa

soi rọi chọn lựa.Vì nghĩa của Niệm và Tuệ

gần kề nhau(tương tự như nhau) nêngiấu

Tuệđimà nói Tứ niệm trụ thay vì Tứ tuệ

trụ, cũng như “Ý” và “Thức” đều thuộc loại

này, cho nên gọi là Lân cận thích. Lân cận

thích lại được chia làm 2 loại là: Y chủ lân

cận và Hữu tài lân cận.

Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao

quyển 38 (Đại 36, 288 trung) nói: “Thứ nhất

LÂN CẬN THÍCH

 

L

2743

là Y chủ lân cận, như có người ở gần Trường

an, người ta hỏi ở đâu thì ông ta trả lời là ở

Trường an, chỉ vì ở gần Trường an mà nói ở

Trường an, bởi thế gọi là Y chủ lân cận. Thứ

2 là Hữu tài lân cận, như hỏi: Người ở đâu?

Đáp: Trường an. Vì lấy toàn địa danh để gọi

tên người nên là hữu tài, vì gần Trường an

nên là lân cận”.

[X. Câu xá luận quang kí Q.1; Tổng liệu

giản ngữ trong Đại thừa pháp uyển nghĩa

lâm chương Q.1; Lục li hợp thích pháp thức

lược giải (Trí húc)]. (xt. Lục Hợp Thích).

LÂN CỰC

…..

Giai vị gần kề cực quả, như Đẳng giác

gần sát với giai vị Diệu giác(tức là Phật quả)

nên gọi là Lân cực.

Ngoài ra, vị Đại đệ tử của đức Phật là

ngài Xá lợi phất còn có tên là Lân Cực Á

Thánh.

[X. Tam luận huyền nghĩa]. (xt. Đẳng

Giác).

LÂN ĐƠN

Cũng gọi Lân vị, Liên đơn, Lân kiên.

Chỉ chỗ ngồi hoặc chỗ nằm 2 bên phải

và trái của mình trong Tăng đường và

Chúng liêu.

Điều Nhật dụng quĩ phạm trong Sắc tu

Bách trượng thanh qui quyển 6 (Đại 48, 1145

thượng), nói: “Lúc ăn uống (…) không được

gãi đầu, sợ gió làm bay gàu(vật dơ) vào trong

bát của người ngồi bên cạnh(lân đơn)”.

[X. môn Tọa vị trong Thiền lâm tượng

khí tiên]. (xt. Đơn).

LÂN GIÀ

Phạm:Liíga.

Cũng gọi Lâm già.

Chỉ cho sinh thực khí của nam tính, là

đối tượng sùng bái của phái Thấp bà và

phái Tính lực ở Ấn độ. Các tín đồ của phái

Tính lực thường đeo biểu tượng Lân già

trong mình.

LÂN GIÁC DỤ ĐỘC GIÁC

Cũng gọi: Lân giác độc giác, Lân dụ

độc giác.

Đối lại: Bộ hành độc giác.

Chỉ cho bậc Duyên giác một mình tu

hành chứng ngộ, là một trong 2 bậc Độc

giác(Duyên giác).

Cứ theo Câu xá luận quyển 12 và Câu

xá luận quang kí quyển 12, thì bậc Lân giác

dụ trong Độc giác cần phải tu 100 đại kiếp,

tích tụ tư lương bồ đề mới thành Lân giác

dụ độc giác. Vì ở 1 mình tu tập mà ngộ đạo,

giống như con lân chỉ có 1 sừng, nên gọi là

Lân giác dụ độc giác.

(xt. Bộ Hành Độc Giác, Duyên Giác).

LẬP

Tiếng dùng trong Nhân minh.

Trong luận thức Nhân minh, Lập, tức

là đưa ra chủ trương, đó là tiêu đích tranh

luận của đôi bên. Nếu chủ trương ấy chính

xác, cả hình thức và nội dung đều không

phạm lỗi, có thể chứng minh sự thật, được

đối phương thừa nhận, thì gọi là Năng lập

hoặc Chân năng lập(lập luận đúng); còn

nếu chủ trương ấy sai lầm, không chứng

minh được chân lí, thì gọi Tự năng lập(lập

luận sai).

Ngườiđề xuất chủ trương, gọi là Lập

giả, tổ chức một luận thức hoàn chỉnh, gọi

là Lập lượng. Lượng, tức là phương thức

lập luận.

[X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân

minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển

thích (Trần đại tề)]. (xt. Tự Năng Lập, Chân

Năng Lập).

LẬP

 

L

2744

LẬP BÁ

Phạm: Repha, Repa.

Hán dịch: Lí phúc y, Lí phục y.

Chỉ cho cái áo lót mặc bên trong.

Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 2

(Đại 54, 214 hạ), nói: “Tiếng Phạm là Lập

bá, Hán dịch là Lí phúc y”.

LẬP CHÍNH AN QUỐC LUẬN

Gọi tắt: An quốc luận.

Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Nhật liên,

tổ khai sáng tông Nhật liên, Nhật bản, soạn

vào năm 1243.

Mục đích của luận này nhắm bài trừ tà

pháp, xác lập chính pháp, tiêu trừ tai nạn,

đem lại an ninh cho quốc gia. Từ các thiên

tai địa biến, sư bàn về đạo trị nước an dân

rồi đem trình lên Bắc điều thời lại, giới quân

phiệt cầm quyền ở Nhật bản lúc bấy giờ.

Trong luận, sư Nhật liên còn bài xích các

tông phái khác ngoài tông Nhật liên, chủ

trương chỉ hoằng dương kinh Diệu pháp liên

hoa mà thôi.

Về hình thức, luận này dùng thể biền

ngẫu của Hán văn, triển khai thể tài chủ

khách hỏi đáp, đứng trên lập trường tín

ngưỡng cá nhân để trình bày về việc sửa đổi

quốc gia xã hội.

Luận này cùng với Khai mục sao và Bản

tôn sao là 3 bộ lớn của sư Nhật liên, rất

được người đương thời coi trọng.

[X. Tổ sư cương yếu sách lược Q.2; Nhật

liên tông tông học chương sớ mục lục].

LẬP CHÍNH ĐẠI HỌC

Trường Đại học Tông lập của tông Nhật

liên, nằm ở khu Phẩm xuyên, thủ đô Đông

kinh, Nhật bản, được sáng lập vào năm

Thiên chính thứ 8 (1580).

Trường Đại học này là cơ cấu giáo dục

của tông Nhật liên, mở các khoa bộ như

Đại học viện Văn học khoa, gồm các môn

Phật giáo, Xã hội, Quốc sử, Quốc văn,

Địa lí.

– Bộ thứ nhất(học ban ngày), gồm các

môn; Phật giáo học(Phật giáo học, Tông học);

Văn học(Triết, Sử, Quốc văn, Anh văn, Xã

hội); Kinh tế học(Kinh tế).

– Bộ thứ hai (học ban đêm), gồm: Phật giáo

học(Tông học), Văn học(Sử, Quốc văn, Anh

văn, Xã hội, Địa lí);Kinh tế học(Kinh tế);

Đại học đoản kì (Tông học, Xã hội, Thương

mại, Kinh tế).

Ngoài ra, còn các trường Cao đẳng,

trường Trung học, v.v… trực thuộc.

LẬP CHÍNH GIẢO THÀNH HỘI

Một chi phái thuộc tông Nhật liên mới

được thành lập trong Phật giáo Nhật bản,

do các ông Trường chiểu Diệu giảo và Đình

dã Nhật kính tách khỏi hội Linh hữu và

sáng lập vào năm 1938.

Lúc đầu gọi là Lập chính giao thành hội,

lấy ý “lập theo chính pháp, giao tiếp với

người, thành tựu quả Phật”. Đến năm 1960,

để kỉ niệm ông Trường chiểu Diệu giảo, nên

mới đổi tên hội như hiện nay.

Hội này lấy kinh Pháp hoa làm giáo

nghĩa cơ bản, đức Phật Thích ca là Bản

tôn, lấy việc thực hiện Tịch quang độ(nước

Phật) làm mục đích, coi trọng việc thờ cúng

tổ tiên, tin vào các phương thuật như: Cửu

tự, Phương vị, Cửu diệu, Thất thần, v.v…

chịu ảnh hưởng sâu đậm của Thần đạo và

tín ngưỡng dân tộc. Hội này cũng đề ra lí

luận “Diệu, Thể, Chấn”, cho rằng Diệu

(mầu nhiệm) là Thần, Phật không thể thấy

được;Thể là tất cả hiện tượng mà Thần

Phật hiển bày ở thế gian; còn Chấn là sự

vận động của muôn vật. Con người thông

qua Chấn mà biết được Thể, cảm đến sự

LẬP CHÍNH GIẢO THÀNH HỘI

 

L

2745

tồn tại chân thực của Diệu; nhân duyên

tạo thành sự thành công hay thất bại do

hành vi của con người là Thể, nếu muốn

tránh khỏi nhân duyên xấu, được nhân

duyên tốt, thì nên tin thờ Thần Phật và

cầu xin sự che chở của các Ngài.

LẬP ĐỊA

Có 3 nghĩa:

1. Đứng.

Chương Vân nham Đàm thạnh trong Tổ

đường tập quyển 5 chép: “Động sơn đến,

không rõ đứng đâu(bất thẩm lập địa), sư nói:

Bên đó còn có cái này sao?”

2. Ngay đó, tức khắc(như lập địa thành

Phật, nghĩa là ngay đó thành Phật).

Chương Sơn cốc Hành sùng trong Tổ

đường tập quyển 13 chép: “Chỉ như ngay

chỗ ấy nghiệm lấy biết lấy, thì có lỗi lầm gì”.

3. Những Phật sự đơn giản (như khai

quang, an tọa, niêm hương, nhập bài, v.v… chỉ

cần thời gian rất ngắn, làm trong chốc lát là xong,

cho nên gọi là Lập địa).

Bài tựa trong sách Thập thiền chi lục

của ngài Hổ quan nói: “Khảo đính các sách

Thiền xưa nay, thấy có đủ cả 10 môn: Khai

đường, Thướng đường, Tiểu tham phụ thăng

tòa, Thập đề, Phổ thuyết, Pháp ngữ, Đối cơ,

Lập địa, Kệ tán, Bỉnh phất.

[X. môn Thùy thuyết trong Thiền lâm

tượng khí tiên].

LẬP GIÁO

Các bậc Tổ sư xưa nay căn cứ vào giáo

pháp do đức Phật nói trong 1 đời mà lập ra

các giáo môn, gọi là Lập giáo. Như tông

Thiên thai phán lập 5 thời, 8 giáo, tông Hoa

nghiêm phán lập 5 giáo, v.v… Việc làm này

gọi là “Giáo tướng phán thích”.

Ngoài ra, khai sáng tông chỉ của giáo

tướng, gọi là Lập giáo khai tông.

LẬP GIÁO THẬP NGŨ LUẬN

Tác phẩm, 1 quyển, do ông Vương trùng

dương (1112-1170) soạn vào đời Tống, được

thu vào Đạo tạng tập 789.

Ông Vương trùng dương là người sáng

lập Toàn chân giáo, sách này nói về tinh

thần căn bản lập giáo khai tông của ông.

Toàn sách chia làm 15 điều: Trụ am, Vân

du, Học thư, Hợp dược, Cái tạo, Hợp đạo

bạn, Đả tọa, Hàng tâm, Luyên tính, Thất

phối ngũ khí, Hỗn tính mệnh, Thánh đạo,

Siêu tam giới, Dưỡng pháp thân và Li phàm

thế, vì nội dung có 15 điều nên gọi là Lập

giáo thập ngũ luận.

Có thuyết cho rằng sách này chưa chắc

đã do chính ông Vương trùng dương soạn,

mà là do các đệ tử dựa theo tinh thần lập

giáo của ông mà biên soạn thành. Mục

đích của sách này nhằm dung hòa tam giáo

Nho, Phật, Đạo để xây dựng lại tinh thần

Đạo giáo. Sách này chịu ảnh hưởng Phật

giáo rất sâu đậm, nhất là ảnh hưởng của

Thiền tông.

[X. Nam Tống sơ Hà bắc tân đạo giáo

khảo (Trần viên); Đạo giáo đích nghiên

cứu (Cát cương Nghĩa phong); Sơ kì Toàn

chân giáo đoàn đích nhất tính cách (Oa

đức trung)].

LẬP LƯỢNG PHÁ

Đối lại với Hiển quá phá.

Tiếng dùng trong Nhân minh.

Lập luận thức để bác bỏ chủ trương của

đối phương. Trong Nhân minh, khi đôi bên

tranh luận, nếu đối phương thấy luận thức

(lượng) của người lập luận không chính xác,

thì có thể tự mình lập ra một luận thức khác

để bác lại, như thế gọi là Lập lượng phá.

Còn nếu không cần lập luận thức khác, mà

chỉ cần vạch ra những sai lầm trong luận

LẬP LƯỢNG PHÁ

 

L

2746

thức của người lập luận để bác bỏ, thì gọi là

Hiển quá phá.

[X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ

Q.thượng]. (xt. Năng Phá, Hiển Quá Phá).

LẬP NHÂN

Phạm:Sthàna.

Chỉ cho cái nhân giữ gìn các sắc pháp do

4 đại chủng đất, nước, lửa, gió tạo thành,

khiến chúng đứng vững, cũng giống như bức

vách giữ gìn bức tranh, khiến không xiêu

đổ, là 1 trong 5 nhân (Sinh nhân, Y nhân,

Lập nhân, Trì nhân, Dưỡng nhân).

Ngoài ra, các sắc pháp do các đại chủng

tạo thành, có năng lực tạo tác 5 nghiệp: Sinh

khởi, y chỉ, kiến lập, nhậm trì và tăng trưởng.

Trong 5 nghiệp này, nghiệp kiến lập tức là

Lập nhân.

[X. luận Thuận chính lí Q.20; luận Du

già sư địa Q.54]. (xt. Ngũ Nhân).

LẬP PHÁP

Đồng nghĩa với Hiển chính.

Xác lập chính lí(pháp)sau khi phá trừ

những kiến giải mê lầm về muôn pháp.

(xt. Hiển Chính).

LẬP TĂNG THỦ TỌA

Chỉ cho vị tăng có ngôi vị cao nhất trong

hàng chúng tăng, sau vị Thủ tọa.

Chức vụ này không nhất định là người

nào, nghĩa là ngoài vị Thủ tọa chủ chốt ra,

có thể thỉnh 1 vị tôn túc đạo cao đức trọng,

học thức uyên bác ở Tây đường, ở Tiền

đường, hoặc thỉnh 1 vị tôn túc ở nơi khác

đến đảm nhiệm. Trách nhiệm của chức vụ

này rất nặng nề.

Điều Thỉnh lập tăng trong Thiền uyển

thanh qui quyển 7 (Vạn tục 111, 457

thượng), nói: “Vị tôn túc, Thủ tọa, Tạng chủ

đã thoái viện(nghỉ việc), nếu như hợp với sự

mong cầu của đại chúng, thì có thể thỉnh

làm Lập tăng. Tức vị Trụ trì thăng tòa cử

bạch xong, vị Tri sự và đại chúng đến liêu lễ

thỉnh(Văn thỉnh như sau: Đại chúng hết lòng,

từ lâu mong được dạy bảo, cúi mong ngài từ bi

hứa khả cho), xem thế đủ biết việc lễ thỉnh

rất là cẩn trọng.

Ngoài ra, nơi vị Lập tăng thủ tọa ngồi

thiền, gọi là Lập tăng sàng, Lập tăng thủ tọa

sàng, Lập tăng bản đầu. Khi vị Lập tăng thủ

tọa thuyết pháp xong, muốn lui về liêu Thủ

tọa, thì đại chúng đưa 2 tấm bảng Phổ thuyết

và Nhập thất vào phương trượng, gọi là Lập

tăng nạp bài.

[X. chương Chúc li trong Sắc tu Bách

trượng thanh qui Q.thượng; các chương

Lưỡng tự, Đông tự tri sự, Thỉnh lập tăng

thủ tọa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui

Q.hạ; môn Điện đường, môn Tọa vị, môn

Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

LẬP THAM

Cũng gọi Vãn tham.

Chỉ cho thời tham vấn ngắn trong lúc

chiều tối,thông thường không có nơi chỗ nhất

định, hoặc trong phòng ngủ, hoặc ở pháp

đường, vị thầy nhóm chúng để khai thị.

Môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng

khí tiên nói: “Vì thường đứng để nói pháp

nên gọi là Lập tham, tức chỉ cho thời tham

vấn lúc chiều tối”.

LẬP THẾ A TÌ ĐÀM LUẬN

Cũng gọi Lập thế a tì đàm tạng, Thiên

địa kí kinh, Thiên địa kí kinh lục.

Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Chân đế

dịch vào đời Trần, Trung quốc, được thu

vào Đại chính tạng tập 32.

Nội dung sách này bàn giải về vũ trụ luận

của Phật giáo, nói rõ nguồn gốc của thuyết

LẬP THẾ A TÌ ĐÀM LUẬN

 

L

2747

núi Tu di (Phạm:Sumeruvàda), tức là trình

bày sự thành lập thế giới và tướng trạng hữu

tình ở thế gian.

Toàn bộ luận chia làm 25 phẩm, bao gồm

các vấn đề như: Pháp môn cộng thông của

Đại thừa, bậc Thánh Trung bát Niết bàn,

Trung ấm, các tầng trời cõi Sắc, vị trí các địa

ngục, địa ngục lạnh, số lượng của kiếp và

những quan hệ phân phái…

Còn về chỉ thú của luận này thì đại khái

cũng giống với kinh Thế kí trong Trường a

hàm và phẩm Thế gian trong luận Câu xá,

nhưng phần Kí sự của luận này thì tinh tường

hơn. Riêng phẩm Vân hà dùng thể tài vấn

đáp gạn hỏi nhiều lần là điểm đặc sắc của

luận này.

[X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Khai nguyên

thích giáo lục Q.7; Tiểu thừa Phật giáo tư

tưởng luận (Mộc thôn Thái hiền)].

LẠP TỤNG BÁT Ý

Đức Phật nói kệ tụng có 8 ý nghĩa.

Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 5,

thì 8 ý nghĩa là:

1. Kệ tụng có thể dùng ít chữ mà bao

hàm nhiều nghĩa.

2. Dùng để khen ngợi công đức.

3. Dùng kệ lập lại ý nghĩa trong kinh

cho người độn căn dễ hiểu.

4. Tùy thuận ý thích của chúng sinh

muốn nghe kệ, nên đức Phật nói kệ.

5. Dùng kệ lập lại để cho người đến sau

được nghe.

6. Những đoạn trường hàng (văn xuôi)

khó nhớ, nên đức Phật dùng kệ cô đọng lại

để cho dễ nhớ.

7. Nói kệ để làm rõ nghĩa mà văn trường

hàng chưa nói hết.

8. Không dùng văn trường hàng, mà trực

tiếp nói kệ tụng, đây là thể tụng cô khởi.

[X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí

Q.2].

LẬP TƯỚNG TRỤ TÂM

Đối lại với Vô tướng li niệm.

Chỉ cho Sự quán, tức là kiến lập các tướng

tốt đẹp của Phật rồi chú tâm vào đó mà quán

tưởng thân Phật và các cõi Tịnh độ.

Lập tướng là nói về cảnh sở quán, Trụ

tâm là nói về tâm năng quán, đây là pháp

môn quan trọng của Tịnh độ giáo. Đức Phật

vì chúng sinh phàm phu đời mạt pháp, mà

lập ra tướng sai biệt báo độ, báo thân, v.v…

để cho họ an trụ nơi hữu tâm hữu niệm mà

quán tưởng cảnh ấy.

Quán kinh định thiện nghĩa (Đại 37, 267

trung), nói: “Môn quán này duy có chỉ

phương lập tướng, trụ tâm mà quán cảnh,

chứ không nói đến vô tướng li niệm. Bởi vì

đức Như lai đã biết trước, chúng sinh phàm

phu ở đời mạt thế ô trược, lập tướng trụ

tâm còn khó, huống hồ lìa tướng mà quán

cảnh, thì cũng giống như người chẳng biết

thuật gì mà muốn làm nhà giữa hư không”.

LẬP TƯỢNG

Tượng Phật, Bồ tát nói chung trong tư

thế đứng.

Tượng 2 chân đều đứng thẳng gọi là Đẳng

túc lập, đây là tư thế đứng của tượng Phật.

Những tượng thị giả của Tam tôn, thân

thường hơi nghiêng, còn các tượng thần Thủ

hộ thì phần nhiều đứng trong tư thế đầu gối

hơi co và đạp lên mình loài thú.

LẬP XUYÊN LƯU

Cũng gọi Lập hà lưu.

Dòng Lập xuyên, 1 tà phái phát sinh từ

tông Chân ngôn và tông Thiên thai của Phật

giáo Nhật bản, do ông Nhân khoan sáng lập.

Nhân khoan là đệ tử(hoặc là em ruột)

của ông Thắng giác ở viện Đề hồ tam bảo

LẬP XUYÊN LƯU

 

L

2748

thuộc tông Chân ngôn. Vào niên hiệu Vĩnh

cửu năm đầu (1113), Nhân khoan bị lưu đày

đến Y đậu, đổi tên là Liên niệm. Bấy giờ có

vị thầy âm dương ở thôn Lập xuyên, quận

Đa ma, phía tây nước Vũ tạng, theo Liên

niệm học Mật pháp, rồi đem pháp âm dương

vào Mật pháp. Đây là sự mở đầu cho việc

tông Chân ngôn và đạo âm dương hỗn hợp

thành 1 phái. Đến đời sau, lấy tên đất mà

đặt tên phái, gọi là Lập xuyên lưu. Vào đầu

thời kì Nam Bắc triều, Nhật bản, ông Văn

quán Hoằng chân (1278-1357) đưa phái Lập

xuyên đến chỗ hoàn bị.

Giáo phái này chủ trương lấy việc giao

hội nam nữ làm Phật sự, cho rằng dâm dục

tức là đạo và lấy những bản kinh nói về việc

này làm chứng cứ, mà phối thuộc nam nữ

với 2 bộ Kim cương giới, Thai tạng giới, tức

dùng đường âm dương nam nữ làm bí thuật

“tức thân thành Phật”! Tư tưởng này cũng

ảnh hưởng phần nào đến tông Tịnh độ và

Chân tông Nhật bản.

[X. Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.9].

LẬP YẾU XẢO PHƯƠNG TIÊN

Chỉ cho phương tiện khéo léo mà Bồ tát

thệ nguyện lập ra để dắt dẫn chúng sinh vào

Phật đạo, 1 trong 6 thứ phương tiện thiện

xảo của hàng Bồ tát.

Bồ tát thệ nguyện ban phát cho chúng

sinh những thứ cần dùng như: ruộng vườn,

nhà cửa, của cải, v.v…, sau đó chỉ bảo họ

làm những việc tốt lành rồi dần dần đưa

dẫn họ vào Phật đạo. “Yếu” nghĩa là thề ước,

tức là Bồ tát ước ban sự lợi ích cho chúng

sinh nào biết giữ gìn thiện pháp.

(xt. Lục Chủng Xảo Phương Tiện).

LẬT ĐÀ

Phạm: Hfdaya.

Cũng gọi Hãn lật đà.

Hán dịch: Nhục đoàn tâm.

Là trái tim, chỗ nương gá của ý căn.

(xt. Nhục Đoàn Tâm).

LÂU CÁC

Phạm,Pàli:Kùỉàgàra.

Lầu gác, hoặc dùng để tàng trữ kinh sách,

tranh tượng, hoặc làm chỗ đứng nhìn ra xa

để thưởng ngoạn cảnh vật.

Kinh Trường a hàm quyển 20 (Đại 1,

131 thượng), nói: “Thành có 4 cửa, cửa có

lan can, trên thành có lầu gác, đài quan bao

bọc chung quanh”.

Kinh A di đà (Đại 12, 347 thượng), nói:

“… Trên có lầu gác, đều được trang sức bằng

vàng bạc, lưu li, pha lê, xà cừ, xích châu,

mã não…”

LÂU CHÍ PHẬT

Lâu chí, Phạm: Rudita, Rucika.

Cũng gọi Lô già Phật, Lô chí Phật, Lỗ

chi Phật, Lâu do Phật.

Hán dịch: Ái nhạo Phật, Đề khốc Phật.

Đức Phật ra đời sau cùng trong số 1.000

đức Phật thuộc kiếp Hiền.

Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 18,

đức Phật này tức là thần Chấp kim cương

(Lực sĩ Kim cương), nhưng thuyết này là do

người đời sau truyền lầm.

Thung dung lục tắc 77 (Đại 48, 276 hạ),

ghi: “Tiếng phạm là Lâu chí, Trung quốc

dịch là Đề khấp. Một nghìn vị Phật ở kiếp

Hiền là một nghìn vị Vương tử. Trong đó,

vị Vương tử cuối cùng được thụ kí thành

Phật là ngài Lâu chí, nên ngài khóc mà than

rằng: Tại sao ta bạc phúc được thụ kí sau

cùng? Nhưng rồi ngài bỗng cười mà nói: Ta

sẽ được hưởng hết những phương tiện trang

nghiêm của 999 vị Phật!”.

[X. Pháp uyển châu lâm Q.10; Tuệ lâm

âm nghĩa Q.11]. (xt. Hiền Kiếp Thiên Phật).

LÂU CHÍ PHẬT

 

L

2749

LÂU MAN NGOẠI ĐẠO

Một trong các ngoại đạo ở Ấn độ.

Loại ngoại đạo này dùng xương đầu lâu

của người làm vòng đeo quanh cổ. Thông

thường họ ở những nơi cây khô, đống đá, gò

mả, v.v…

[X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư

truyện Q.4].

LÂU THÁN KINH

Gọi đủ: Đại lâu thán kinh.

Kinh, 6 quyển, do các ngài Pháp lập, Pháp

cự cùng dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào

Đại chính tạng tập 1.

Nội dung kinh này nói về quá trình

thành hoại của thế giới.

Những bản dịch khác của kinh này còn

có: Kinh Thế kí trong Trường a hàm, kinh

Khởi thế, do ngài Xà na quật đa dịch vào

đời Tùy, kinh Khởi thế nhân bản, do ngài

Phạm ma cấp đa dịch vào đời Tùy.

LẬU

..

Phạm:Àsrava.

Pàli:Àsava.

Hàm ý rò rỉ hoặc tiết ra ngoài, là tên khác

của phiền não…………. Khi phiền não bị diệt hết,

gọi là Lậu tận. Vì chúng sinh sống trong

phiền não, cho nên từ 6 căn như mắt, tai,

mũi, lưỡi… thường tiết ra những tội lỗi, khiến

phải sống chết trôi lăn trong 3 cõi, do đó mà

phiền não được gọi là Lậu.

Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 47, thì

Lậu có 6 nghĩa:

1. Lưu trụ: Có năng lực khiến cho hữu

tình ở mãi(lưu trụ) trong 3 cõi.

2. Yêm trữ(cất chứa): Hạt giống nghiệp

được cất chứa trong phiền não, để dẫn sinh

thân đời sau.

3. Lưu phái(trôi chảy): Phiền não từ 6

giác quan trôi chảy ra.

4. Cấm trì(giam giữ): Chúng sinh bị

phiền não giam cầm khiến trôi lăn trong

các cõi, không được tự do hướng tới Niết

bàn.

5. Mị hoặc: Bị phiền não làm mê hoặc

mà phát khởi 3 nghiệp ác.

6. Túy loạn(say loạn): Bị phiền não làm

cho say loạn, giống như uống rượu say sưa,

không biết hổ thẹn, điên đảo, buông thả.

Bởi vì tiếng PhạmÀsrava(lậu) có hàm

nghĩa là chảy, cho nên được cắt nghĩa là rỉ

chảy, lại hàm nghĩa là “ngồi” cho nên được

cắt nghĩa là lưu giữ, cất chứa.

Về phân loại các Lậu, trong kinh điển

có nhiều thuyết khác nhau.

– Kinh Trường a hàm quyển 8 nêu ra

3 lậu.

1. Dục lậu: Chỉ cho các phiền não ở cõi

Dục.

2. Hữu lậu: Chỉ cho phiền não ở cõi Sắc,

cõi Vô sắc.

3. Vô minh lậu: Gọi chung phiền não vô

minh trong 3 cõi.

– Theo luận Đại tì bà sa quyển 47, các

nhà Thí dụ chỉ lập 2 lậu là:

1. Vô minh lậu

2. Hữu ái lậu.

– Theo luận Đại tì bà sa quyển 48, các

nhà Phân biệt luận lập 4 lậu:

1. Dục lậu.

2. Hữu lậu.

3. Kiến lậu

4. Vô minh lậu.

– Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập

quyển 3 nêu ra 6 lậu:

1. Tự tính lậu

2. Tương thuộc lậu

3. Sở phược lậu

4. Sở tùy lậu

5. Tùy thuận lậu

6. Chủng loại lậu

LẬU

 

L

2750

– Kinh Đại bát niết bàn quyển 22, 23

(bản Bắc) liệt kê 7 lậu:

1. Kiến lậu

2. Tu lậu

3. Căn lậu: Từ 6 căn tiết ra lỗi lầm.

4. Ác lậu: Những phiền não do vua ác,

nước loạn lạc, tri thức ác mà sinh ra.

5. Thân cận lậu: Những phiền não do

những vật dụng gần gũi như: y phục, phòng

xá, v.v… gây ra.

6. Thụ lậu: Những phiền não do các cảm

nhận sinh ra.

7. Niệm lậu: Những phiền não do tà niệm

sinh ra.

[X. luận Câu xá Q.20; phẩm Tạp phiền

não trong luận Thành thực Q.10; luận

Nhập a tì đạt ma Q.thượng]. (xt. Thất Lậu,

Tam Lậu, Lục Lậu, Hữu Lậu, Vô Lậu,

Phiền Não).

LẬU CHẤT

Thể chất hữu lậu, chỉ cho thân chúng

sinh có phiền não nhiễm ô.

Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư

ngữ lục (Đại 47, 500 thượng), nói: “Không

thể trói buộc đạo nhân vô trụ này, tuy mang

thân ngũ uẩn lậu chất, nhưng lại có thần

thông đi trên mặt đất”.

LẬU GIỚI

Đánh mất giới luật không chịu giữ gìn,

tức phá giới, phạm giới.

Một vị tỉ khưu giữ gìn giới luật, một khi

phá giới thì cũng giống như cái bồn chứa

nước bị rò rỉ, giới thể liền mất.

Kinh Đại tập quyển 9 (đại 13, 57

thượng), nói: “Theo giới mà học là người

mới phát tâm, không để lậu giới gọi là Tác

(không phạm); hiểu rõ giới, chẳng chấp giới

là khéo tư duy, theo giới trí tuệ mà an trụ

đúng như pháp”.

LẬU PHƯỢC

…..

Lậu là rỉ chảy, phược là trói buộc, đều là

tên khác của phiền não. Lậu phược nghĩa là

thân tâm bị phiền não trói buộc.

An lạc tập (Đại 47, 8 trung), ghi: “Có

người nói: Đại thừa vô tướng, không nên

nghĩ đây, kia; nếu nguyện vãng sinh Tịnh

độ thì là chấp tướng rồi, như vậy chỉ tăng

thêm lậu phược, thì còn cầu làm gì?”.

LẬU TẬN

…..

Phạm: Àsrava-kwaya, Kwìna-àsrava.

Đồng nghĩa: Vô lậu.

Dùng Thánh trí dứt hết phiền não, gọi

là Lậu tận.

Luận Đại trí độ quyển 3 (Đại 25, 80

trung), nói: “Ba lậu trong tam giới đã hết

sạch, nên gọi là Lậu tận”.

[X. luận Du già sư địa Q.2; luận Câu xá

Q.24, 25]. (xt. Vô Tận).

LẬU TẬN TỈ KHƯU

Cũng gọi Lậu tận A la hán.

Chỉ cho bậc A la hán đã dứt sạch phiền

não, đối với hết thảy các pháp không bị dính

mắc, không còn chấp trước, vĩnh viễn vào

Niết bàn, không chịu quả báo sống chết nữa,

vì thế gọi là Tỉ khưu lậu tận.

[X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa;

kinh Vô lượng thọ Q.thượng]. (xt. A La Hán).

LẬU TẬN TRÍ CHỨNG MINH

Phạm:Àsrava-kwaya-jĩàna-sàwàtkriya-

vidyà.

Pàli:Àsavàna-khaya-ĩàịa-vijjà.

Cũng gọi Lậu tận trí minh, Lậu tận minh,

Lậu tận trí.

Trí tuệ biết rõ chắc chắn mình đã chứng

LẬU TẬN TRÍ CHỨNG MINH

 

L

2751

được lí Tứ đế, đã xa lìa phiền não hữu lậu

và dứt hết sự trói buộc của sinh tử trong 3

cõi, là 1 trong 3 loại trí sáng suốt mà đức

Phật và các bậc A la hán đã đạt được.

Lậu tận trí này có năng lực đối trị sự ngu

mê trong đời hiện tại. Nếu phối hợp với sáu

thần thông thì trí này thuộc về Lậu tận trí

chứng thông.

(xt. Tam Minh).

LẬU TẬN TRÍ CHỨNG THÔNG

Phạm: Àsrava-kwaya-jĩànasàkwàtkriyàbhijĩà.

Cũng gọi Lậu tận thần thông, Lậu tận

thông chứng, Lậu tận thông.

Thần thông dứt trừ tất cả phiền não hoặc

nghiệp, vĩnh viễn xa lìa sanh tử luân hồi,

tức là đã chứng được lậu tận trí, đoạn diệt

hết thảy phiền não hữu lậu, an trụ trong

thiền định mà hiển hiện đầy đủ uy đức, là 1

trong 6 thứ thần thông.

Luận Xá lợi phất A tì đàm quyển 10 (Đại

28, 597 trung), nói: “Nếu trí tuệ sinh, hữu

lậu đã hết, đạt được vô lậu, tâm giải thoát,

tuệ giải thoát, hiện đời tự chứng biết, công

hạnh đã thành tựu, sự sinh của ta đã hết,

phạm hạnh đã viên mãn, việc làm đã xong,

không còn chịu thân sau nữa, thì đó gọi là

Lậu tận trí chứng thông”.

Ngoài ra, theo luận Câu xá quyển 27,

trong 6 loại thần thông thì 5 loại trước, hàng

phàm phu dị sinh cũng có thể chứng được,

còn Lậu tận thông thì chỉ có bậc Thánh mới

chứng được.

Lại theo luận Đại trí độ quyển 28, Lậu

tận thông có thể được chia làm 2 loại:

1. Lậu tập câu tận: Phiền não và tập

khí đều đã dứt. Loại này chỉ có Phật chứng

được.

2. Lậu tận nhi tập vị tận: Phiền não đã

hết nhưng tập khí chưa dứt. Loại này hàng

Bồ tát chứng được.

[X. kinh Tăng nhất trong Trường a hàm

Q.9; kinh Ca hi na trong Trung a hàm Q.20;

luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.14; luận

Đại tì bà sa Q.102; luận Du già sư địa Q.37].

(xt. Lục Thần Thông).

LẬU TẬN TRÍ LỰC

………..

Phạm:Àsrava-kwaya-jĩàna-bala.

Cũng gọi Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực,

Kết tận lực.

Sức trí tuệ biết rõ tất cả phiền não hoặc

nghiệp đều đã vĩnh viễn bị đoạn trừ, không

còn chịu trôi lăn trong sinh tử nữa, là 1 trong

10 lực của đức Như lai.

Trí lực của đức Như lai ngoài khả năng

tự chứng biết đã dứt hết tất cả các phiền

não, còn có thể biết rõ người khác đã đoạn

trừ phiền não hay chưa.

[X. luận Câu xá Q.29; luận Đại trí độ

Q.25]. (xt. Thập Lực).

LẬU TẬN Ý GIẢI

Dứt sạch các phiền não, tâm được giải

thoát, là sự chứng quả của bậc A la hán.

Phẩm Phật quốc kinh Duy ma (Đại 14,

539 thượng), nói: “Tám nghìn tỉ khưu không

chấp trước các pháp, được lậu tận ý giải”.

[X. kinh Chính pháp hoa Q.4; kinh Vô

lượng thọ Q.hạ; Chú Duy ma kinh phẩm

Phật quốc].

LẬU VĨNH TẬN VÔ SỞ ÚY

Phạm: Àsrava-kwaya-jĩànavaisàradya.

Cũng gọi Lậu tận vô sở úy, Nhất thiết

lậu tận vô sở úy.

Tự tin đã dứt hết tất cả phiền não, không

còn gì để sợ hãi. Một trong 4 đức Vô sở úy

của Phật.

[X. luận Đại trí độ Q.25]. (xt. Tứ Vô SởÚy).

LẬU VĨNH TẬN VÔ SỞ ÚY

 

L

2752

LẬU VÔ LẬU

……..

Gọi đủ: Hữu lậu pháp vô lậu pháp.

Các pháp trong 3 cõi là pháp hữu lậu,

Thánh đạo và Niết bàn của Tam thừa là

pháp vô lậu. Như trong Tứ đế, Khổ, Tập là

pháp hữu lậu, Diệt, Đạo là pháp vô lậu.

(xt. Hữu Lậu, Vô Lậu).

LÊ CÂU PHÊ ĐÀ

Phạm: Fg-veda.

Hán dịch: Tán tụng minh luận, Tác minh

thực thuyết.

Cũng gọi Hà lực bì đà, Ức lực tì đà.

Kinh điển căn bản và xưa nhất của Bà la

môn giáo Ấn độ, gồm 10 quyển, là 1 trong 4

bộ Thánh điển Phệ đà. Lê câu nghĩa là sáng

sủa, rõ ràng.

Nội dung sách này phần nhiều là những

bài tán ca của dân tộc Aryan tán tụng thần

thánh, không phải do 1 người làm, cũng

chẳng phải

làm trong 1

thời. Trong

đó, quyển 9

thutậpcác tán

ca của tế lễ Tô

ma, được

hoàn thành

vào khoảng từ

1.400 năm

đến khoảng

1.000 năm

trước Tây lịch.

Kinh Lê câu phệ đà hiện còn được hình

thành vào khoảng 1.000 năm đến 800 năm

trước Tây lịch.

Những bài tán ca gồm 1017 thiên, sau

tăng thêm 11 thiên, thành 1028 thiên, với

tổng số 10580 bài. Đây là bản Phệ đà xuất

hiện sớm nhất, trong 3 bản Phệ đà khác cũng

có bản được trích dẫn từ bản này, hoặc do

sửa đổi bản này mà ra.

(xt. Tứ Phệ Đà, Phệ Đà).

LÊ NÔ BẠCH CỔ

Cũng gọi Li nô bạch cổ.

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Lê nô là loài mèo đen, Bạch cổ là bò đực

trắng, đều là động vật vô tri. Thiền tông dùng

nhóm từ này để ví dụ những người căn cơ

thấp kém, không hiểu Phật pháp.

Điều Trì châu Cam chí hành giả trong

Cảnh đức truyền đăng lục quyển 10 (Đại 51,

279 trung), ghi: “Hành giả Cam chí sắp cháo

cho ngài Nam tuyền xong, thưa: Thỉnh Hòa

thượng niệm tụng. Ngài Nam tuyền nói:

“Hành giả Cam chí đã sắp cháo, mời đại chúng

vì Li nô bạch cổ mà niệm Ma ha bát nhã ba

la mật”. Cam chí liền lễ bái rồi lui ra”.

[X. Thung dung lục tắc 69].

LÊ SƯ ĐẠT ĐA PHÚ NA LA

Lê sư đạt đa,Pàli:Isidatta.

Hán dịch: Tiên thụ, Tiên thí, Tiên dư.

Phú na la,Pàli:Puràịa.

Cũng gọi Bố ra noa, Phú lan na.

Hán dịch: Túc cựu, Cựu.

Hai anh em quan đại thần của vua Ba tư

nặc thời đức Phật còn tại thế, là những người

giầu có nhất ở nước Câu tát la. Ông Phú lan

na là anh của Lê sư đạt đa, cả hai anh em

không kể gì đến tài sản sở hữu của mình,

mà đem cúng dường đức Phật và 4 bộ chúng

cùng thụ dụng.

LÊ SƯ ĐẠT ĐA PHÚ NA LA

Lê Câu Phệ Đà bản tiếng Phạm viết tay

Lê Câu Phệ Đà bản in

 

L

2753

Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 35, thì

Phú lan na chuyên tu phạm hạnh, xa lìa dục

lạc, không đeo hương hoa, không gần trần

tục, lấy hạnh giữ giới làm đầu. Còn Lê sư

đạt đa thì không chuyên tinh phạm hạnh,

nhưng có đầy đủ trí tuệ, thông suốt Tứ thánh

đế, cho nên lấy trí tuệ làm đầu. Sau khi họ

mệnh chung, đức Phật thụ kí 1 người giỏi

trì giới, 1 người giỏi trí tuệ, đều sẽ được quả

Tư đà hàm ở đời sau và sinh lên cung trời

Đâu suất.

[X. kinh Tạp a hàm Q.30].

LÊ ĐỌA TÔN GIẢ

Tôn giả rơi lệ, tên tôn xưng 1 vị Đại A la

hán sống sau thời đức Phật nhập diệt. Vị A

la hán này chứng được Túc mệnh trí,(trí

biết rõ các việc đời trước), tự thấy mình ở đời

quá khứ phải chịu khổ trong 3 đường (địa

ngục, quỉ đói, súc sinh) cho nên khởi tâm đại

bi thương xót tất cả chúng sinh còn đang

phải chịu khổ, vì thế mà Ngài thường bị rơi

lệ, bởi vậy gọi Ngài là Lệ đọa tôn giả.

[X. Quán kinh huyền nghĩa phần truyền

thông kí Q.1].

LÊ THỜI TÁC PHÁP

Cũng gọi Lệ thời sám pháp, A di đà sám

pháp, Niệm Phật sám pháp.

Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản.

Chỉ cho pháp cúng dường được thực

hành hàng ngày của tông Thiên thai và của

phái Bản nguyện tự thuộc tông Chân ngôn,

Nhật bản. Pháp tu này do ngài Viên nhân

mang từ núi Ngũ đài của Trung quốc về

Nhật bản và lần đầu tiên được tổ chức tu

tập tại Thường hành tam muội đường ở

trên núi Tỉ duệ. Pháp tu này lấy việc tụng

kinh A di đà, hoặc niệm danh hiệu Phật

theo nhịp điệu chậm rãi, khoan thai làm

trọng tâm tu tập.

LỄ

..

Cũng gọi Lễ bái, bái.

Cử chỉ bày tỏ lòng cung kính đối với

Phật, Bồ tát, Tôn giả, Trưởng giả, tháp

Phật, v.v…

Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2,

tại Ấn độ có 9 cách lễ bái, gọi là Thiên trú

cửu nghi:

1. Cất lời thăm hỏi.

2. Cúi đầu tỏ vẻ cung kính.

3. Đưa tay lên cao vái chào.

4. Chắp tay cúi chào.

5. Co đầu gối.

6. Quì thẳng.

7. Hai tay và 2 đầu gối đặt sát đất.

8. Hai khuỷu tay, 2 ống chân và trán đều

co lại.

9. Hai khuỷu tay, 2 ống chân và trán đều

sát đất.

Thứ tự của 9 cách lễ trên cho thấy rõ

cách lễ bái từ khinh đến trọng.

Cách lễ quì cũng có nhiều hình thức:

1. Đầu gối bên phải quì sát đất.

2. Đầu gối bên phải sát đất, đầu gối

bên trái dựng đứng. Tỉ khưu thường lễ

theo cách này.

3. Hai đầu gối quì sát đất, các đầu ngón

chân cũng sát đất. Cách lễ này dễ thực hành

hơn cách thứ 2 và tỉ khưu ni thường lễ theo

cách này.

4. Quì lạy, cách lễ này đơn giản nhất và

được người các xứ Tây vực và Ấn độ quen

dùng.

5. Trán, 2 khuỷu tay và 2 đầu gối đều

đặt sát đất, đây là cách lễ bái biểu lộ lòng

tôn kính cao nhất.

Ở Ấn độ, khi tín đồ lễ Phật hay tháp

Phật, trước hết lễ 1 lễ, sau đó chắp tay đi

vòng quanh theo phía bên phải, gọi là Nhiễu

Phật(hoặc hành đạo), Hữu nhiễu, Toàn hữu,

Toàn táp. Hoặc đi quanh 1 vòng, hoặc 3 vòng.

LỄ

 

L

2754

Đi 3 vòng gọi là Hữu nhiễu tam táp(3 vòng

quanh bên phải).

Ở Trung quốc thời xưa, trong Thiền lâm,

các sư thường trải tọa cụ để lễ bái, gọi là

Triển bái. Trải hết tọa cụ và lễ 3 lễ, gọi là

Đại triển tam bái; nếu lễ 9 lễ thì gọi là Đại

triển cửu bái. Chúng tăng đồng loạt trải tọa

cụ lễ 3 lễ gọi là Đồng triển tam bái. Nếu

không trải tọa cụ mà chỉ gấp tư lại rồi đặt

trán lên đó mà lễ thì gọi là Xúc lễ. Ở Ấn độ

thường chỉ lễ 1 lễ, nhưng ở Trung quốc thì

lễ 3 lễ, thậm chí 9 lễ, 18 lễ, 100 lễ…

Còn có cách lễ “Hòa Nam” (Phạm:

Vandana), cũng gọi Bà nam, Bàn na mị,

Bàn đồ vị. Hán dịch: Lễ, qui lễ. Tức là cách

lễ bái bày tỏ lòng cung kính đối với bậc

Trưởng thượng.

Cứ theo luật Ma ha tăng kì quyển 27,

Hòa nan có 3 hình thức:

1. Thân lễ bái.

2. Miệng nói “Hòa nam”.

3. Tâm cung kính.

Trong đó, hình thức thứ 2 là nguyên thủy

nhất.

Ngoài ra, khi cử người khác đi lễ thay

cho mình, thì trước hết mình phải lễ người

mình cử đi(tức là gửi lễ), đây gọi là Đại lễ

(lễ thay).

[X. phẩm Bất khả tư nghị trong kinh Văn

thù sư lợi vấn Q.thượng; kinh Phạm võng

Q.hạ; Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.1;

luận Thập trụ tì bà sa Q.10; Thích thị yếu

lãm Q.trung; chương Tôn tổ trong Sắc tu

Bách trượng thanh qui Q.thượng]. (xt. Hòa

Nam, Lễ Bái).

LỄ BÁI

Gọi tắt: Lễ, Bái.

Cử chỉ chắp tay cúi đầu bày tỏ ý cung

kính.

Thân lễ bái, miệng đọc tụng, xưng niệm,

tán thán và ý quán xét là 5 chính hành đối

với Phật. Nhưng nói theo nghĩa rộng, đối

tượng lễ bái không phải chỉ giới hạn đối với

Phật, mà đối với tháp, Trưởng lão, Hòa

thượng, v.v… đều có thể dùng lễ bái để biểu

tỏ lòng tôn kính. Như kinh Phạm võng

quyển hạ bảo: Nếu thấy Thượng tọa, Hòa

thượng, A xà lê, người đồng học, đồng hành…

đều phải nghinh tiếp, lễ bái, thăm hỏi. Còn

Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 thì

nói: Đức Phật từng dạy các đệ tử, phàm khi

đứng trước Tam bảo và các tỉ khưu lớn tuổi

đều phải lễ bái.

Tuy nhiên, phép lễ bái không phải lúc

nào cũng hợp nghi, mà theo luật, những lúc

đại tiểu tiện, ở trần, cạo tóc, thuyết pháp,

súc miệng, ăn, uống, v.v… đều không được

làm lễ.

Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển

thượng nêu ra năm trường hợp không được

làm lễ:

1. Đọc kinh: Khi vị Thượng tọa đang

tụng kinh, không được làm lễ.

2. Thượng tọa ở dưới thấp, mình ở trên

cao, không được làm lễ.

3. Thượng tọa ở phía trước, mình đi đàng

sau, không được làm lễ.

4. Không được ngồi trên tòa ngồi của

mình hướng về phía Thượng tọa để làm lễ.

5. Lúc đội mũ, không được lễ Phật.

Phép lễ bái vốn để bày tỏ ý cung kính, vì

thế không được mang lòng kiêu ngạo.

Theo thiên Trí kính trong Pháp uyển

châu lâm quyển 20, thì ngài Lặc na ma đề

đời Bắc Ngụy có nêu ra 7 cách lễ như sau.

1. Ngã mạn kiêu tâm lễ: Lễ bái với tâm

kiêu mạn.

2. Xướng họa cầu danh lễ: Lễ bái để cầu

danh.

3. Thân tâm cung kính lễ: Lễ bái với tâm

cung kính.

4. Phát trí thanh tịnh lễ: Lễ bái vì mong

cầu phát trí tuệ thanh tịnh.

5. Biến nhập pháp giới lễ: Khi tâm của

LỄ BÁI

 

L

2755

chúng sinh và Phật thông nhau mà đạt được

lí pháp giới, thì lễ 1 đức Phật tức là lễ bái tất

cả các đức Phật.

6. Chính quán tu thành lễ: Trong khi lễ

Phật thông qua chính quán, thì cũng như lễ

bái tính Phật trong chính mình vậy.

7. Thực tướng bình đẳng lễ: Lấy “Không”

làm đối tượng lễ bái, đây là nghĩa lễ bái “mình

người không hai”.

Trong 7 trường hợp lễ bái trên, 2 trường

hợp đầu được xem là tà lễ, còn trường hợp

5, 6, 7 là chính lễ. Về sau, trong Hoa nghiêm

kinh sớ quyển 27, ngài Trừng quán thêm

vào 3 cách lễ nữa là: Đại bi lễ, Tổng nhiếp lễ

và Vô tận lễ, thành là 10 phép lễ. Trong đó,

Vô tận lễ là phép lễ cao tột nhất.

Như đã trình bày ở trên, chủng loại và

nghi thức lễ bái tuy nhiều và khác nhau,

nhưng nói một cách đại thể, thì trong các

cách lễ bái được truyền từ Ấn độ, cách lễ “5

vóc gieo xuống đất”(Ngũ thể đầu địa) là trịnh

trọng và cung kính nhất.

Ngoài ra, lễ bái Phật, Pháp, Tăng gọi là

Tam bảo lễ; lễ bái 3 thân: Bản nguyện thành

tựu, Quang minh nhiếp thủ, Lai nghinh tiếp

dẫn của đức Phật A di đà, gọi là Tam thân

lễ; lễ bái Phật Thích ca, Phật A di đà, chư

Phật 10 phương cho đến tất cả Hiền Thánh,

gọi là Thất kính lễ. Còn trong Mật tông, lễ

khắp tất cả các đức Phật, gọi là Phổ lễ; bài

chân ngôn được tụng khi thực hành Phổ lễ,

gọi là Phổ lễ chân ngôn.

[X. phẩm Tà tụ trong kinh Tăng nhất a

hàm Q.27; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.15;

luật Ma ha tăng kì Q.27, 35; Thiện kiến luật

tì bà sa Q.18, môn Lễ tắc trong Thiền lâm

tượng khí tiên]. (xt. Hòa Nam, Lễ).

LỄ BÁI NGŨ CÔNG ĐỨC

Năm công đức của sự lễ bái.

Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển

24, người cung kính lễ bái đức Như lai, do

thấy thân tướng tốt đẹp của Ngài mà phát

tâm hoan hỉ, sinh lòng khát ngưỡng, xưng

niệm danh hiệu, rải hoa, thắp đèn, bố thí,

cúng dường, nhờ đó mà đời sau sẽ được 5

thứ công đức thù thắng:

1. Hình tướng xinh đẹp.

2. Giọng nói hay.

3. Có nhiều của báu.

4. Sinh vào nhà cao sang.

5. Sinh lên các cõi trời.

[X. Pháp uyển châu lâm Q.20].

LỄ BÀN

…..

Cũng gọi Cao tòa, Sư tử tòa.

Chỗ tòa cao để lên ngồi lễ Phật hay

thuyết pháp.

Lễ bàn đã có từ thời đức Phật còn tại

thế. Chiều cao của tòa này không nhất định,

hoặc vuông vức mỗi chiều 3 thước (Tàu),

hoặc chiều dài 6 thước, chiều ngang 3 thước,

trên tòa trải 1 tấm nệm. Trong Thiền lâm,

khi ngồi thiền thường dùng tòa này.

Trong Mật giáo, khi tu pháp, phần

nhiều lễ bàn được đặt ở mặt chính của đàn

Tu di, phía trước lễ bàn đặt án kinh, bên

phải để khánh, bên trái để lư hương(có khi

để lư hương ở chính giữa). Hành giả lên lễ

bàn này, lạy Phật 3 lạy rồi tụng kinh hoặc

làm lễ tác bạch. Bốn mặt của lễ bàn có chữ

(a) xếp thành cờ xí của địa luân, tượng

trưng của đại địa Bồ đề, ý nghĩa này khiến

hành giả khi tu quán, làm cho 3 nghiệp

của mình khế hợp với tam mật của bản

tôn, mà an trụ nơi tâm đại Bồ đề thanh

tịnh vốn sẵn có.

Lễ bàn có 2 loại: Lễ bàn hình cái rương

(hòm) và lễ bàn chân mèo. Lễ bàn hình cái

rương lại có 2 kiểu: Lễ bàn 8 sư tử và lễ

bàn 1 sư tử. Tức 4 mặt lễ bàn mỗi mặt đều

có khắc(hoặc vẽ) 2 con sư tử, gọi là Lễ bàn

8 sư tử; ở mặt chính của lễ bàn chỉ khắc

(hoặc vẽ) 1 con sư tử thì gọi là Lễ bàn 1 sư

LỄ BÀN

 

L

2756

tử. Sư tử khắc tượng trưng cho tòa Sư tử.

Sư tử có nghĩa là tâm Bồ đề cho nên tòa 1

sư tử biểu thị cho tâm Bồ đề của “Độc nhất

thực tướng”; còn tòa

8 sư tử thì biểu thị 8

thức của tâm Bồ đề ở

“Nhân vị”. Ngoài ra,

cũng có thể dùng hình

mẫu đơn, chim công

thay cho sư tử.

[X. Phật đính tôn thắng đà la ni niệm

tụng nghi quĩ pháp; Hữu bộ tì nại da Q.28].

(xt. Sư Tử Tòa, Cao Tòa).

LỄ KÍNH

…..

Cũng gọi Kính lễ.

Tức là cung kính lễ bái chư Phật, là đại

nguyện thứ nhất trong 10 hạnh nguyện của

bồ tát Phổ hiền.

[X. kinh Hoa nghiêm Q.13 (bản 40

quyển); kinh Đại bảo tích Q.43; luận

Phương tiện tâm]. (xt. Hòa Nam, Kính

Lễ, Lễ).

LỄ SÁM

…..

Cũng gọi Bái sám.

Lễ bái chư Phật, Bồ tát để sám hối những

nghiệp ác mà mình đã gây ra.

Ngài Trí thăng đời Đường đã tổng hợp

các bản sám pháp từ trước mà soạn thành

“Tập chư kinh lễ sám nghi” 2 quyển, gần

đây, trong Thiền lâm thường dùng các bản

lễ sám như: Lương hoàng bảo sám, Từ bi

thủy sám, Dược sư sám, Tịnh độ sám, Kim

cương sám, v.v… để lễ tụng và khá thịnh

hành.

Lễ sám thời xưa thì hoặc tự mình lễ sám,

hoặc thỉnh chư tăng lễ thay. Còn hiện nay

thì lễ sám phần nhiều thỉnh tăng, chứ ít khi

tự mình lễ sám.

(xt. Sám Pháp, Sám Hối).

LỄ TÁN

…..

I. Lễ Tán.

Cung kính, lễ bái và tán thán công đức

của Tam bảo. Bài văn lễ tán gọi là Lễ tán

văn, như Vãng sinh lễ tán của ngài Thiện

đạo đời Đường, Thích ca Như lai Niết bàn

lễ tán của ngài Nhân nhạc đời Tống, v.v…

II. Lễ Tán.

Gọi đủ: Vãng sinh lễ tán kệ.

Cũng gọi: Lục thời lễ tán.

Tác phẩm, do ngài Thiện đạo soạn vào

đời Đường, nói rõ về nghi thức hành trì cầu

vãng sinh Tịnh độ.

(xt. Vãng Sinh Lễ Tán Kệ).

LỄ THOẠI

Lời hỏi thăm sức khỏe trong Thiền lâm.

Điều Quải đáp trong Thiền uyển thanh

qui quyển 1 (Vạn tục 111, 440 hạ), ghi:

“Tham đầu cúi mình đến gần phía trước (…)

vái 1 vái rồi thưa: “Trong mùa lạnh(hay ấm

tùy theo mùa) này, cúi mong tôn thể của Hòa

thượng được bình an vạn phúc”.

[X. môn Phúng xướng trong Thiền lâm

tượng khí tiên].

LỄ TÚC

…..

Cũng gọi Đính lễ, Tiếp túc tác lễ, Đầu

diện lễ túc, Khể thủ lễ túc, Đính lễ song

túc.

Người lễ đặt đỉnh đầu của mình chạm

vào chân đức Phật, cách lễ này biểu thị thân

tâm người lễ bái tuyệt đối qui y.

Cứ theo Thích môn qui kính nghi quyển

hạ, đầu mặt lễ chân Phật là nghi thức lễ bái

chính. Trong các kinh luật phần nhiều gọi

là “Đầu diện lễ túc” hoặc “đính lễ Phật túc”

(đỉnh đầu lễ chân). Bởi vì chỗ cao nhất trong

thân thể của mình là đỉnh đầu, chỗ thấp

LỄ TÚC

Lễ Bàn 8 Sư Tử

 

L

2757

nhất trong thân thể của người là chân, cho

nên đem chỗ cao nhất của mình tôn kính

chỗ thấp nhất của người là bày tỏ sự kính lễ

cùng tột.

Luật Ma ha tăng kì quyển 33 (Đại 22,

496 thượng), nói: “Đến chỗ đức Phật, đầu

mặt lễ chân Ngài”.

[X. kinh Đại bát nhã Q.1; kinh Vô lượng

thọ Q.thượng; Hữu bộ bách nhất yết ma

Q.1; luận Câu xá Q.1]. (xt. Tiếp Túc Tác Lễ,

Lễ).

LI BÀ ĐA

Phạm: Revata.

I. Li Bà Đa.

Cũng gọi Li việt đa, Lệ bà đá, Lí phạ đế,

Li bà, Li viết, Li việt, Hiệt li phạt đa, Hạt li

phiệt đa.

Hán dịch: Thường tác thanh, Sở cúng

dường, Kim, Thất tinh, Thích thời.

Tên một vị đệ tử Phật, em của ngài Xá

lợi phất.

Tương truyền, cha mẹ Ngài cầu đảo sao

Li bà đa mà sinh được Ngài, cho nên lấy vì

sao này đặt tên cho Ngài. Có lần Ngài gặp

mưa, ngủ lại trong miếu thờ thần, đến khuya

thấy 2 con quỉ tranh giành nhau ăn xác chết,

Ngài suy nghĩ về thân người hư huyễn. Hôm

sau, Ngài đến chỗ đức Phật, được nghe đức

Phật nói về thân người do 4 đại giả hòa hợp

mà có, Ngài liền xuất gia vào đạo. Từ đó

ngài thường ngồi thiền nhập định, tâm

không tán loạn.

Khi du hành đến nước Bà đà, Ngài gặp

tuyết lạnh, vì không mang giày dép nên

chân Ngài bị thương tổn, đức Phật khen

Ngài là người thiểu dục tri túc. Nhân đó,

về sau, đức Phật cho phép các vị tỉ khưu ở

xứ lạnh được mangPhú la(giày ống) hoặc

giày dép.

[X. kinh Trung a hàm Q.8; phẩm Đệ tử

trong kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Phật

bản hạnh tập Q.47; luật Ngũ phần Q.21;

Pháp hoa văn cú Q.2; Huyền ứng âm nghĩa

Q.6, 22; Tuệ lâm âm nghĩa Q.8, 23, 26].

II. Li Bà Đa.

Cũng gọi Lê bà đa, Li ba đa.

Đệ tử của ngài A nan, có tuổi thọ rất

cao, tinh thông giới luật, Ngài từng ở Tăng

già xa (Pàli:Saíkassa).

Sau khi đức Phật nhập diệt khoảng 100

năm, các thầy tỉ khưu Bạt xà tử (Pàli:

Vajjiputta) ở nước Tì xá li đề xướng 10 điều

trái với giới luật mà cho là hợp pháp. Bởi

thế, Trưởng lão Da xá (Pàli:Yassa) mới

đến Tăng già xa thỉnh ngài Li bà đa cùng

đến nước Tì xá li để quyết nghị 10 điều ấy là

phi pháp.

[X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; luật Tứ

phần Q.54; luật Ngũ phần Q.30; Đại đường

tây vực kí Q.7]. (xt. Bạt Xà Tử).

LI BỐ ÚY NHƯ LAI

Phạm: Abhayaôkara-tathàgata.

Danh hiệu của 1 trong 5 đức Như lai

được thờ cúng trong pháp hội Thí ngã quỉ.

Theo Thí chư ngã quỉ ẩm thực cập thủy

pháp, nếu hành giả xưng niệm danh hiệu

của 5 đức Như lai, thì có thể khiến tất cả

ngã quỉ diệt trừ Vô lượng tội mà sinh Vô

lượng phúc, những thức ăn uống đều biến

thành vị cam lộ vi diệu.

Sách Bí tạng kí đem 5 đức Như lai phối

hợp với 5 đức Phật, trong đó, Vô bố úy

Như lai tức là đức Phật Thích ca ở phương

Bắc. Li bố úy Như lai là dụng của trí

Thành sở tác, cho nên là thân Biến hóa,

hóa hiện khắp trong 6 ngả, 4 loài làm các

phương tiện khiến cho tất cả chúng sinh

đều được yên vui, không còn gì phải sợ

hãi, cho nên Ngài được gọi là Vô bố úy

Như lai.

[X. Du già tập yếu diệm khẩu thí thực

nghi].

LI BỐ ÚY NHƯ LAI

 

L

2758

LI CÁI

Lìa các phiền não mà được thanh tịnh.

Cái, chỉ cho Ngũ cái (Phạm: Paĩca

àvaraịàni) là 5 thứ phiền não ngăn che

tâm tính, hoặc chỉ chung cho các phiền

não.

[X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Đại tì

bà sa Q.48].

LI CẤU

Phạm,Pàli:Vìta-mala.

Cũng gọi Viễn trần li cấu.

Xa lìa phiền não nhớp nhúa.

Lí tứ đế và duyên khởi là nhân sinh

quan, thế giới quan của Phật giáo. Nếu hiểu

được tứ đế và duyên khởi một cách chính

xác thì có thể thấy rõ chân lí, đạt được pháp

nhãn, tức là đạt được đạo Tu đà hoàn(Dự

lưu hướng). Có được pháp nhãn này thì xa

lìa Kiến hoặc, cho nên gọi là Viễn li trần

cấu (Phạm,Pàli:Viraja vìtamala,xa lìa

bụi bẩn).

Trong kinh điển của Phật giáo Nguyên

thủy, có rất nhiều người nghe đức Phật và

các vị đệ tử của Ngài nói pháp mà được pháp

nhãn viễn li trần cấu, như tỉ khưu Sai ma

trong kinh Tạp a hàm quyển 5, Am bà bà lê

nữ trong kinh Trường a hàm quyển 2. Về

sau, kinh điển của Đại thừa cũng sử dụng từ

ngữ này, như phẩm Phật quốc trong kinh

Duy ma cật sở thuyết quyển 1 (Đại 14, 539

thượng), nói: “Viễn trần li cấu, được pháp

nhãn thanh tịnh”.

[X. kinh Tạp a hàm Q.15; Hữu bộ luật

phá tăng sự Q.7; Chú duy ma cật kinh Q.1].

LI CẤU ĐỊA

Phạm:Vimalà-bhùmi.

Hán âm: Duy ma la phổ.

Cũng gọi: Li cấu, Vô cấu địa, Tịnh địa,

Cụ giới địa.

Địa vị giữ gìn được giới hạnh thanh tịnh,

xa lìa các phiền não nhơ nhớp, là địa thứ 2

của Thập địa trong 52 giai vị tu hành của

Bồ tát. Vì địa này đầy đủ 3 tụ tịnh giới nên

cũng gọi là Cụ giới địa.

[X. kinh Hoa nghiêm Q.23 (bản 60

quyển); luận Thành duy thức Q.9].

LI CẤU NHÃN

Chỉ cho pháp nhãn thanh tịnh, xa lìa

phiền não cáu bẩn mà thấy được Thánh đạo.

Pháp uyển châu lâm quyển 86 (Đại 53,

918 hạ), nói: “Thấy được đức Phật rồi,

nguyện đắc Li cấu nhãn, thành Bồ đề vô

thượng, độ khắp cả chúng sinh”.

LI CẤU THẾ GIỚI

Thế giới thanh tịnh, xa lìa mọi cấu nhiễm,

là cõi nước của ngài Xá lợi phất trong vị lai,

khi Ngài thành Phật và làm giáo chủ trong

thế giới ấy.

Cứ theo phẩm Thí dụ trong kinh Pháp

hoa thì ngài Xá lợi phất, trong đời vị lai qua

Vô lượng vô biên bất khả tư nghị kiếp, cúng

dường nghìn muôn ức Phật, vâng giữ chính

pháp, đầy đủ đạo hạnh Bồ tát, sẽ được thành

Phật hiệu là Hoa quang Như lai, tên nước là

Li cấu, mặt đất bằng phẳng thanh tịnh, yên

ổn phong nhiêu, trời người đông đảo. Bấy

giờ, đức Hoa quang Như lai dùng cả 3 thừa

giáo hóa chúng sinh.

LI CƠ HIỀM DANH NGUYÊN

Cũng gọi Vô chư bất thiện nguyện.

Nguyện trong cõi Tịnh độ không có

những lời chê cười dèm pha và những tiếng

độc ác xấu xa, là nguyện thứ 16 trong 48

nguyện của đức Phật A di đà.

LI CƠ HIỀM DANH NGUYÊN

 

L

2759

Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại

12, 268 thượng), nói: “Khi ta thành Phật,

nhân dân trong đất nước của ta, nếu nghe

đến một tiếng xấu, thì ta thề chẳng lên ngôi

Chính giác”.

LI DIÊN KỊ

Cũng gọi Tiểu luyện kị, Tiểu phạn kị.

Lễ truy tiến cầu phúc cho người chết vào

tuần thất thứ 5, theo nghi thức của Phật

giáo Nhật bản.

Theo điều Truy kị danh số thứ đệ trong

Chư hồi hướng thanh qui quyển 4, vào ngày

này, thân quyến vì người chết làm lễ Truy

thiện, cúng dường để cầu phúc và diệt tội

cho vong linh, gọi là “Li diên kị”.

LI DỤC ĐỊA

Phạm:Vìta-ràga-bhùmi.

Cũng gọi Li tham địa, Diệt dâm nộ si

địa.

Giai vị tu hành của Bồ tát, lìa tất cả tham

dục, ô nhiễm, là địa thứ 6 trong Thập địa

của Tam thừa. Bồ tát ở địa này có thể đoạn

trừ Tư hoặc và xa lìa hết thảy phiền não của

cõi Dục.

Cứ theo phẩm Phát thú trong kinh Ma

ha bát nhã ba la mật quyển 6, thì Bồ tát

trụ ở địa thứ 6, đầy đủ lục Ba la mật,

nhưng cũng còn có 6 pháp không nên làm.

Đó là:

1. Không nên có ý muốn làm Thanh văn

và Bích chi phật.

2. Khi bố thí, không nên sinh tâm lo

buồn.

3. Khi có người đến cầu xin điều gì, không

nên từ chối.

4. Không nên tích góp tài vật mà phải

đem ra bố thí.

5. Không nên hối tiếc sau khi bố thí.

6. Không nên ngờ vực các pháp sâu xa.

LI DỤC THOÁI

Bậc Thánh đã dứt hết 9 phẩm Tu hoặc

của cõi Dục, đạt được quả Bất hoàn, nhưng

rồi lại khởi các phiền não ở cõi Dục mà thoái

đọa(lui sụt), gọi là Li dục thoái.

[X. luận Câu xá Q.6; Q.21].

LI GIÁN NGỮ

Phạm: Paizunya.

Pàli:Pisuịà-vàcà.

Cũng gọi Lưỡng thiệt(nói 2 lưỡi).

Lời nói chia rẽ giữa người này và người

kia, là 1 trong 10 nghiệp ác.

Luận Du già sư địa quyển 8 (Đại 30, 316

thượng), ghi: “Li gián ngữ là lời nói có ý phá

hoại, nghĩa là đem lời người này nói với người

kia, đem lời người kia nói với người này,

làm cho họ ghét bỏ nhau”.

[X. luận Tập dị môn Q.2; luận Câu xá

Q.16]. (xt. Lưỡng Thiệt).

LI HÊ

Phạm,Pàli:Vi-saôyoga.

Cũng gọi: Li diệt.

Đồng nghĩa: Giải thoát.

Chỉ cho Trạch diệt vô vi, nghĩa là do

đoạn trừ phiền não mà xa lìa sự trói buộc

của các pháp hữu lậu.

Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 1 hạ), nói:

“Trạch diệt lấy li hệ làm tính, xa lìa sự trói

buộc của các pháp hữu lậu mà đạt được giải

thoát, gọi là Trạch diệt”.

[X. luận Đại tì bà sa Q.31; luận Thuận

chính lí Q.6]. (xt. Trạch Diệt).

LI HÊ ĐẮC

Tức là được quả Li hệ. Tông Hữu bộ dùng

từ Li hệ đắc để chỉ cho Trạch diệt vô vi.

LI HÊ ĐẮC

 

L

2760

Nghĩa là dùng trí tuệ vô lậu giản trạch(chọn

lựa)lí Tứ đế mà được pháp Niết bàn, gọi là

Li hệ đắc.

Theo luận Câu xá quyển 6, thì Li hệ cũng

có nghĩa là đoạn, là giải thoát, chỉ cho Niết

bàn; Đắc là tên của tâm sở bất tương ứng.

Trạch là nhân lựa chọn, Diệt là quả Li hệ

chứng được.

Còn theo luận Thành duy thức quyển

8, thì Li hệ tức là pháp thiện vô vi nhờ

đoạn trừ những pháp chướng ngại đạo vô

lậu mà chứng được. Pháp này do xa lìa sự

trói buộc (li hệ) của lậu hoặc mà chứng

được, cho nên gọi là quả Li hệ; lại vì xa lìa

sự trói buộc mà chứng được nên gọi là Li

hệ đắc.

[X. luận Câu xá Q.10; luận Hiển dương

thánh giáo Q.18].

LI HÊ QUẢ

Phạm: Visaôyoga-phala.

Cũng gọi Giải thoát quả.

Do sức lựa chọn(giản trạch)của trí tuệ

mà đoạn trừ các phiền não, xa lìa sự trói

buộc(li hệ)của pháp hữu lậu, chứng được

quả vị Niết bàn của Trạch diệt vô vi, gọi là

Li hệ quả, là 1 trong 5 quả.

Luận Câu xa quyển 6 (Đại 29, 35 trung),

nói: “Do trí tuệ đoạn trừ hết các pháp hữu

lậu, nên gọi là Li hệ quả; Diệt nên gọi là

Tận, Trạch nên gọi là Tuệ, tức Trạch diệt

gọi là Li hệ quả”.

[X. luận Đại tì bà sa Q.121; luận Nhập a

tì đạt ma Q.hạ; luận Thuận chính lí Q.18].

LI HÊ TỬ

Phạm: Nirgrantha-zràvaka.

Cũng gọi Ni kiền tử, Vô tàm ngoại đạo.

Ngoại đạo khỏa hình(ở truồng), chủ

trương tu khổ hạnh, cởi bỏ tất cả mọi cái

ràng buộc của thế gian. Li hệ chỉ cho thầy,

Tử chỉ cho môn đồ. Vì chủ trương ở truồng,

nên bị người đời gọi là Ngoại đạo không

hổ thẹn(vô tàm).

[X. Duy thức thuật kí Q.1 phần đầu; Đại

từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.4]. (xt.

Ni Kiền Tử Ngoại Đạo).

LI HÍ LUẬN BỒ TÁT

Li hí luận, Phạm: Nisprapaĩca.

Hán âm: Nễ sắt ba la bán tả.

Cũng gọi Trụ vô hí luận bồ tát.

Vị Bồ tát thứ 5 ngồi ở bên phải hàng

ngoài cùng của viện Kim cương thủ trong

Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật

giáo.

Vị Bồ tát này xa lìa tất cả vọng tưởng hí

luận, hiển bày Nhất thực chân tri. Mật hiệu

là Chân hành kim cương, chủng tử là

(hùô), hình Tam muội da là chày 1 chĩa.

Hình tượng của Ngài thân màu da người,

ngồi trên tòa sen đỏ, tay phải nắm lại dựng

đứng ngang ngực, ngón trỏ duỗi thẳng

đứng, lòng bàn tay hướng ra ngoài; tay trái

nắm lại úp xuống, cầm chày 1 chĩa hướng

lên trên, đầu dưới cây chày chống trên tòa

sen, đầu gối phải

dựng đứng, bàn

chân phải úp lên

trên bàn chân

trái. Chân ngôn

của vị Bồ tát này

là chân ngôn

Nhất thiết trì kim

cương trong

phẩm Phổ thông

chân ngôn tạng

trong kinh Đại

nhật quyển 2.

[X. phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật Q.1;

phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật Q.5;

Huyền pháp tự nghi quĩ Q.2; Thanh long tự

nghi quĩ Q.trung].

LI HÍ LUẬN BỒ TÁT

Bồ Tát Li Hí Luận

(Mạn đồ la Thai tạng giới)

 

L

2761

LI HỈ DIÊU LẠC ĐỊA

Tức là cõi trời Thiền thứ 3 của Sắc giới,

một trong 9 địa của Tam giới.

Hành giả ở cõi trời Thiền thứ 3 này, đã

xa lìa cảm thụ vui mừng thô động của cõi

trời Thiền thứ 2, mà an trụ trong cảm thụ

vui mừng tĩnh lặng, vi diệu, thù thắng.

[X. luận Đại tì bà sa Q.31, 141; luận Câu

xá Q.28].

LI NGÔN CHÂN NHƯ

Cũng gọi: Tuyệt ngôn chân như.

Đối lại: Y ngôn chân như.

Pháp thể của chân như dứt tuyệt nói

năng, suy nghĩ, là 1 trong 2 chân như.

Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 576

thượng), nói: “Tất cả các pháp từ xưa đến

nay, lìa tướng nói năng, lìa tướng văn chữ,

lìa tướng tâm duyên; rốt ráo bình đẳng,

không có biến đổi, không thể phá hoại, chỉ

là nhất tâm, nên gọi chân như”.

[X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung].

LI NGÔN TRUNG ĐẠO

Đối lại: Ngôn thuyên trung đạo.

Chỉ cho Trung đạo chẳng phải có chẳng

phải không, tức ở trong Thắng nghĩa để dứt

tuyệt mọi sự nói năng, suy tính, là 1 trong

Nhị trùng trung đạo do tông Pháp tướng

lập ra.

(xt. Nhị Trùng Trung Đạo).

LI NHỊ BIÊN PHÂN BIÊT CHỈ

Cũng gọi Tức nhị biên phân biệt chỉ,

Tức nhị biên chỉ.

Pháp Chỉ hành chấm dứt mọi sự chấp

trước phân biệt về 2 bên, là 1 trong 3 pháp

Chỉ hành do tông Thiên thai lập ra.

Tông Thiên thai dựa vào 3 pháp quán

Không, Giả, Trung mà đặt ra 3 thứ Chỉ hành,

trong đó, Li nhị biên phân biệt chỉ hành

(lìa chấp trước 2 bên) là căn cứ vào pháp quán

Trung đạo mà thành lập, tức là dứt hết các

tướng phân biệt đối đãi 2 bên: Có, không;

mê, ngộ; sinh tử, Niết bàn; v.v…

(xt. Tam Chỉ).

LI NHIỄM

Phạm:Viràga.

Cũng gọi Li tham, Li dục.

Xa lìa tham nhiễm.

Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 28, nói

theo nghĩa hẹp, Li nhiễm nghĩa là xa lìa tham

dục, mà nói theo nghĩa rộng, thì là xa lìa

phiền não, cho sự li nhiễm bao gồm tất cả

thiện pháp hữu vi.

[X. kinh Tạp a hàm Q.1, 2, 3; phẩm Phổ

môn kinh Pháp hoa; kinh Tứ thập nhị

chương; luận Phát trí Q.1; luận Câu xá Q.23].

LI NHIỄM ĐẮC

Đối lại: Thụ sinh đắc, Gia hạnh đắc.

Nhiễm là chỉ cho phiền não. Khi người

tu hành lìa khỏi các phiền não ở cõi dưới,

thì chứng được định của cõi trên.

Theo luận Câu xá quyển 28, thì Tịnh

định, Vô lậu định và Vị định là do li nhiễm

mà được.

[X. luận Câu xá Q.5].

LI NHIỄM PHỤC

Tên khác của áo ca sa, nghĩa là áo xa lìa

phiền não tạp nhiễm.

Theo kinh Tâm địa quán quyển 5, ca sa

cứng chắc như áo giáp dù cho phiền não

bén nhọn như mũi tên cũng không thể nào

xuyên qua được.

Còn theo Kim cương bát nhã sớ quyển

LI NHIỄM PHỤC

 

L

2762

2, ca sa cũng gọi là Li trần phục(áo lìa bụi

bặm), vì là hoại sắc(màu xấu xí) nên khi mặc

vào không sinh lòng tham; cũng gọi là Tiêu

sấu y(áo còm cõi), vì khi mặc áo này thì mọi

phiền não đều tiêu tan hết.

[X. Thích thị yếu lãm Q.thượng].

LI SINH

Vĩnh viễn thoát lìa sự đầu thai sinh ra

trong 3 cõi.

Người trong Tam thừa, khi vào được

giai vị Kiến đạo, thấy rõ chân lí(Tứ đế),

dứt hết Kiến hoặc, vĩnh viễn lìa sự thác

sinh trong 3 cõi, gọi làChính tính li sinh.

Chính tính của các bậc Thánh thoát li sinh

tử này, gọi là Chính tính li sinh tính, gọi

tắt là Li sinh tính.

Luận Câu xá quyển 23 (Đại 29, 120 hạ),

nói: “Người được pháp Thế đệ nhất, tuy trụ

ở giai vị Dị sinh(phàm phu)tính, nhưng có

thể tiến vào Chính tính li sinh”.

[X. Vạn thiện đồng qui tập Q.6]. (xt.

Chính Tính Li Sinh).

LI SINH HỈ LẠC ĐỊA

Nơi tu hành của những người xa lìa phiền

não ở cõi Dục, phát sinh cảm giác vui mừng,

là địa thứ 2 trong 9 địa, tức là cõi Sơ thiền

của Sắc giới.

Kinh Tạp a hàm quyển 17 (Đại 2, 123

thượng), nói: “Tỉ khưu lìa tham dục, lìa ác

và các pháp bất thiện, có giác, có quán, lìa

cõi Dục, phát sinh cảm nhận vui mừng, đầy

đủ điều kiện trụ ở cõi Sơ thiền”.

[X. luận Tập dị môn Q.5; luận Câu xá

Q.12; Câu xá tụng sớ Q.10]. (xt. Cửu Địa).

LI TÁC NGHIÊP QUÁN ĐÍNH

Đối lại: Tác nghiệp quán đính, Sự nghiệp

quán đính, Cụ chi quán đính.

Chỉ cho pháp Quán đính, khi tu,

không cần phải thực hành các việc như:

Lựa đất, đắp đàn, vẽ Mạn đồ la, tung hoa

chọn Phật, v.v… tức là 2 pháp quán đính:

Ấn pháp và Dĩ tâm trong 3 loại pháp Quán

đính của Mật giáo.

1. Ấn pháp quán đính: Đối với các đệ

tử có tâm thành tha thiết, nhưng không có

khả năng thực hiện đầy đủ các loại sự nghiệp

tác pháp, thì cho phép họ được thụ Quán

đính bằng cách kết ấn và tụng chân ngôn để

trao truyền.

2. Dĩ tâm quán đính: Đối với hành giả

đã thông suốt, thì dùng tâm truyền tâm, mà

không cần tất cả các tác pháp hình thức.

Tuy nhiên, có thuyết cho rằng khi

truyền trao Ấn pháp quán đính, người đệ

tử vẫn cần sắm sửa chút ít lễ vật để cúng

dường Tam bảo. Vả lại, Ấn pháp quán đính

tuy là Li tác nghiệp quán đính, nhưng trong

các kinh điển đều có ghi các việc như: Vị

A xà lê hướng dẫn đệ tử vào trong đàn tung

hoa, trao cho đạo cụ bí mật, v.v… Như vậy,

Ấn pháp quán đính tuy được mệnh danh

là Li tác pháp quán đính, nhưng trên thực

tế, chưa hẳn đã không có tác pháp, mà

nên hiểu là không được cử hành với đầy

đủ các nghi thức như pháp Cụ chi quán

đính mà thôi.

[X. Đại nhật kinh sớ Q.15].

LI TÁC PHÁP

Phạm: Vyatireka.

Đối lại: Hợp tác pháp.

Cũng gọi Li, Già khiển.

Tiếng dùng trong Nhân minh.

Trong Nhân minh, khi áp dụng Đồng

dụ thì gọi là Hợp tác pháp, còn khi áp

dụng Dị dụ thì gọi là Li tác pháp. Đồng

dụ là dụ về Đồng phẩm, Dị dụ là dụ về

Dị phẩm.

Trong một luận thức, đã dùng Đồng dụ

LI TÁC PHÁP

 

L

2763

để chứng minh, lại đưa thêm Dị dụ ra nữa,

thì nghĩa của Tông lại càng rõ ràng hơn, làm

cho đối phương(người vấn nạn)không còn

nói quanh được nữa.

Ví dụ:

Hợp tác pháp:

Tông: Âm thanh là vô thường.

Nhân: Vì do sự tác động mà có

Dụ: Nhữnggì do sự tác động mà có

đều là vô thường, ví như cái bình, v.v…

(đồng dụ).

Li tác pháp:

Tông: Âm thanh là vô thường

Nhân: Vì do sự tác động mà có

Dụ: Những gì không phải là vô thường

đều không phải do sự tác động mà có, ví

như hư không (dị dụ).

Như vậy, ta thấy sự khác nhau giữa

Hợp tác pháp và Li tác pháp là hoàn toàn

ở phầnDụ.

Về phần Đồng dụ, trước hết phải nói

Nhân– nghĩa là nói: Tất cả những gì có cái

Nhân ấy thì đều là có tính cách của danh từ

sau(hậu trần)trong Tông.

Về phần Dị dụ, trước hết phải nóidanh

từ sau– nghĩa là nói: Tất cả những gì không

có tính cách của danh từ sau ấy thì đều không

có tính cách Nhân.

Cho nên, Đồng dụ, vì trước phải nói

Nhân, sau mới nói Tông, nên thuật ngữ

Nhân minh gọi là Nhân trước, Tông sau;

Dị dụ, vì trước phải nói đến Tông (Tông

đây là chỉ cho danh từ sau)rồi sau mới nói

Nhân, nên gọi là Tông trước, Nhân sau.

Khác với Đồng dụ, Dị dụ nói “Không”

tức là nếukhôngcó tính cách của Tông

thì cũng khôngcó tính cách của Nhân.

Vì thế, về Đồng dụ phải dùng Đồng

phẩm của Tông để ví dụ, về Dị dụ phải

dùng Dị dụ.

[X. Nhân minh luận sớ minh đăng sao

Q.6 phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy

nguyên kí Q.7].

LI TẠNG

Cũng gọi Cao li bản, Cao li tạng, Li bản,

Tiên bản.

Đại tạng kinh do Vương triều Cao li,

Triều tiên khắc in chia làm 4 loại:

1. Sơ điêu bản: Bản đầu tiên, tương

truyền được khắc vào năm Cao li Hiển tông

thứ 2 (1011).

2. Cao li tục tạng bản: Được khắc ở chùa

Hưng vương vào năm Tuyên tông thứ 7

(1090).

3. Tái điêu bản: Bản khắc lại, tức là

bản của chùa Hải ấn, được khắc vào năm

Cao li Cao tông năm 23 đến năm 38

(1236-1251) để phòng ngừa sự xâm lăng

của Mông cổ.

4. Cao li Khất đan tạng phỏng khắc

bản: Bản phỏng theo tạng Cao li Khất

đan, được khắc vào năm Văn tông 12

(1063).

(xt. Trung Văn Đại Tạng Kinh).

LI THAM TÂM

Đối lại: Hữu tham tâm.

Tâm xa lìa phiền não tham dục.

Luận Câu xá quyển 26 (Đại 29, 35

hạ), nói: “Li tham tâm nghĩa là đối trị

tâm tham. Nếu tâm không tương ứng với

tham, thì gọi là Li tham tâm (tâm lìa

tham)”.

LI THÂN HÀNH

Đoạn trừ phiền não của cõi Dục, được

quả Tứ thiền của cõi Sắc, thoát li khỏi

sắc thân.

Luận thành thực quyển 2 (Đại32, 253

trung), nói: “Dứt trừ phiền não ở cõi Dục,

chứng được Tứ thiền ở cõi Sắc, gọi là Li

thân hành”.

LI THÂN HÀNH

 

L

2764

LI TÍNH VÔ BIÊT PHẬT

Lìa tính không có Phật riêng, vì tính tức

là Phật.

Hoàng bá Đoạn tế thiền sư uyển lăng

lục (Đại 48, 387 thượng), nói: “Tự tính

thiên chân vốn không mê ngộ, nó bao trùm

tất cả 10 phương thế giới trong cõi hư

không, từ xưa đến nay nó chính là tâm thể

của chúng ta”.

Luận Đốn ngộ nhập đạo yếu môn quyển

hạ, nói: “Ngoài tâm ra, không có Phật”.

Luận Đạt ma đại sư huyết mạch (Vạn

tục 110, 405 hạ), nói: “Trong tất cả thời, ở

tất cả chỗ, đều là tâm của ngươi, đều là Phật

của ngươi”.

[X. Lục tổ đàn kinh].

LI TRUNG TRI

Đối lại: Hợp trung tri.

Chỉ cho các căn (giác quan)không cần

tiếp xúc sát với các cảnh(đối tượng)mà cũng

nhận biết được, gọi là Li trung tri, nghĩa là

cách xa mà biết, đó là: Mắt, tai, ý thức.

Mắt có thể thấy màu sắc từ đàng xa,

nhưng đối với thuốc nhỏ vào mắt thì không

thấy được; tai có thể nghe những tiếng từ

xa, nhưng nếu những âm thanh dội vào tai

thì không nghe được. Trái lại, căn và cảnh

phải tiếp xúc sát nhau mới có thể phát sinh

nhận biết, thì gọi là Hợp trung tri, nghĩa là

hợp lại mới biết. Như mũi ngửi mùi, lưỡi

nếm vị, thân chạm xúc, v.v…

(xt. Hợp Trung Tri).

LI TƯỚNG GIỚI

Cũng gọi: Vô tướng giới.

Đối lại: Tùy tướng giới.

Người trì giới tâm không chấp trước, xem

các giới cũng như hư không, xa lìa hết các

tướng trì và phạm.

[X. Đại phương quảng Phật hoa nghiêm

kinh sớ Q.5].

LI VI

Thể của pháp tính xa lìa các tướng, tịch

diệt vô dư, gọi là Li; dụng của pháp tính vi

diệu chẳng thể nghĩ bàn, gọi là Vi.

Phẩm Li vi thể tịnh trong luận Bảo tạng

(Đại 45, 147 thượng), nói: “Không mắt,

không tai gọi là Li, có thấy, có nghe gọi là

Vi. Không có ta, không tạo tác gọi là Li,

vẫn có trí, vẫn có dụng gọi là Vi. Không

tâm, không ý gọi là Li, có thông, có đạt gọi

là Vi. Li là Niết bàn, Vi là bát nhã. Vì là

bát nhã nên khởi lên đại dụng; vì là Niết

bàn nên tịch diệt vô dư. Vì là vô dư nên

phiền não trừ sạch, vì là đại dụng nên thánh

hóa vô cùng”.

[X. Tông kính lục Q.92; Vô môn quan].

LI XA TÌ

Phạm,Pàli:Licchavi, Lecchavi.

Cũng gọi Li xa, Lật chiếp bà, Li xa tử,

Lợi xa, Lê xương, Tùy xá lợi, Luật xa, Li

xiết, Lí gia, Lật sa.

Hán dịch: Bạc bì, Đồng bì, Tiên tộc

vương, Biên địa chủ.

Chủng tộc Sát đế lợi ở thành Tì xá li

(Phạm:Vaizàli) thuộc Trung Ấn độ, là 1

bộ phận của chủng tộc Bạt kì (Phạm:Vfji).

Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển

10, thủa xưa, phu nhân của nước Ba la nại

sinh ra 1 bọc thịt, lấy làm xấu hổ vì nó khác

thường nên cho người ném xuống sông. Bọc

thịt ấy được 1 đạo sĩ vớt lên đem về để ở 1

chỗ, nửa tháng sau, bọc thịt tự nhiên chia

làm 2 phần, nửa tháng sau nữa 1 phần biến

thành con trai, 1 phần biến thành con gái,

nhờ sức từ bi của đại sĩ, nên từ đầu ngón tay

của ông tự nhiên chảy ra sữa để nuôi 2 đứa

LI XA TÌ

 

L

2765

bé, khi chúng bú sữa này thì bụng của chúng

trở nên trong suốt từ trong đến ngoài, đạo sĩ

bèn đặt tên cho chúng là Li xa tử(nghĩa là

da mỏng). Khi đến 16 tuổi, 2 đứa trẻ sống

bằng nghề chăn bò, làm nhà ở chung, kết

hôn với nhau,tôn đứa trai làm vua, bé gái

là phu nhân. Về sau họ sinh ra nhiều vương

tử và vì 3 lần xây nhà rộng thêm nên gọi là

Tì xá li(nghĩa là rộng rãi trang nghiêm).

Theo kinh Trường a hàm quyển 4, sau

khi đức Phật vào Niết bàn, dân chúng Li

xa cũng được chia 1 phầnxá lợi Phật, xây

tháp cúng dường. Có thuyết cho rằng chủng

tộc này vốn đồng chủng với người Tây tạng,

khi đức Phật còn tại thế, họ theo chế độ

Cộng hòa, nước mạnh dân giầu, sánh ngang

với nước Ma kiệt đà ở phía nam, về sau thế

nước mỗi ngày một suy dần. Mãi đến khi

ông Chiên đà la cấp đa (Phạm: Candragupta),

người sáng lập Vương triều Khổng

tước, kết hôn với các cô gái thuộc chủng

tộc này từ đó thế lực của họ lại dần dần

lớn mạnh trở lại.

[X. kinh Sư tử trong Trung a hàm Q.4;

kinh Đại pháp cổ Q.hạ; kinh Bát nê hoàn

Q.hạ; phẩm Tựa kinh Thuyết vô cấu xưng;

luật Tứ phần Q.42; luận Đại trí độ Q.18;

Đại đường tây vực kí Q.7; Tuệ lâm âm nghĩa

Q.5, 29].

..

Cũng gọi Lực, Lữ, Lô, Lâu, Lỗ.

Chữ ( lihoặcơ), 1 trong 50 chữ cái

Tất đàm.

Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già

kim cương đính (Đại 18, 338 trung), nói:

“Chữ Lí nghĩa là tất cả các pháp nhơ nhớp

đều bất khả đắc”. Bởi vì khi các pháp dấy

sinh, tuy có các tướng nhơ nhớp và không

nhơ nhớp, nhưng khi nhập vào chữ A thì

sự nhơ nhớp và trong sạch đều không sinh,

cho nên tướng nhơ nhớp liền biết không

nhơ nhớp, đó là nghĩa bất khả đắc. Xưa nay

gọi chữ này là chữ “Lí nhiễm”. Nhưng

nguyên ngữ của nó không được rõ.

[X. phẩm Như lai tính trong kinh Đại bát

niết bàn Q.8 (bản Bắc); phẩm Tự mẫu trong

kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng; Tất đàm

tự kí; Tất đàm tam mật sao Q.thượng, Q.hạ].

I. Lí.

Chữ (f), một trong 50 chữ cái Tất đàm.

Cũng gọi Li, Lỗ, Lữ, Hột lí.

Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già

kim cương đính (Đại 18, 338 trung), nói:

“Chữ Lí nghĩa là tất cả pháp thần thông bất

khả đắc”.

Chữf(lí) là chữ đầu của tiếng Phạm

fddhi(dịch ý là thần thông) cho nên được

giải thích như trên. Từ xưa đến nay nó được

gọi là chữ Lí thần thông.

[X. phẩm Như lai tính trong Đại bát niết

bàn Q.8 (bản Bắc); phẩm Tự mẫu trong kinh

Văn thù sư lợi vấn Q.thượng].

II. Lí.

Chữ (), một trong 50 chữ cái Tất đàm.

Cũng gọi Hột lê, li, lưu.

Phẩm Tự mẫu trong kinh Du già kim

cương đính (Đại 18, 338 trung), nói: “Chữ

Lí nghĩa là tất cả pháp so sánh bất khả đắc”.

Từ xưa đến nay, chữ này được gọi là chữ Lí

so sánh, nhưng nguyên ngữ của nó có hàm

ý gì thì không được rõ.

[X. phẩm Như lai tính trong Đại bát niết

bàn Q.8 (bản Bắc)].

LÍ.

.

I. Li.

Chỉ đạo lí, tức cái phép tắc làm chỗ y

chuẩn cho sự tồn tại và biến hóa của tất cả

sự vật.

Lí có thể chia làm 4 thứ: Quan đãi đạo

 

L

2766

lí, Tác dụng đạo lí, Chứng thành đạo lí và

Pháp nhĩ đạo lí.

[X. luận Dugià sư địa Q.30]. (xt. Đạo Lí).

II. Lí.

Đối lại với Sự.

Đồng nghĩa: Lí thể, Lí tính.

Chỉ cho Lí chân thực, bình đẳng nhất

như, là bản thể của muôn tượng sai biệt…………. Lí

có 2 đức tính tùy duyên và bất biến, tức là

tùy duyên mà biến hóa ra vạn pháp sai biệt,

nhưng tính của nó thì thường trụ bất biến.

Vì nó vượt ra ngoài phạm vi tri thức tương

đối của phàm phu, nên không thể dùng ngôn

ngữ văn tự để diễn bày.

[X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.22]. (xt.

Sự Lí).

LÍ BÍ MẬT GIÁO

Cũng gọi: Lí mật giáo.

Đối lại: Sự lí câu mật giáo, Lí sự câu mật

giáo.

Giáo lí bí mật. Theo sự phán giáo của

tông Thai mật Nhật bản, thì Lí bí mật giáo

là tiếng dùng để chỉ cho pháp môn của Pháp

hoa, Hoa nghiêm, Niết bàn… Vì những pháp

môn này chỉ nói về lí bí mật của thế tục đế

và thắng nghĩa đế là viên dung bất nhị, chứ

không nói đến chân ngôn, mật ấn…, tức là

Lí bí mật giáo chỉ nói về mặt lí, chứ không

nói về mặt sự. Trái lại, Lí sự câu mật giáo thì

nói cả lí lẫn sự đều là bí mật giáo.

(xt. Sự Mật Lí Mật).

LÍ BÌNH SƠN (1185-1231)

Học giả Phật giáo Trung quốc, người

Tương âm Hoằng châu (Dương nguyên, Hà

bắc), tên Thuần phủ, tự là Chi thuần, sống

vào đời Tống, vốn người nước Kim.

Ông thi đỗ Tiến sĩ, làm quan đến chức

Thượng thư Hữu ti đô sự, tính ưa rượu, khi

say thì bàn nói hoạt bát, lại thích giao du

với bọn thiếu niên tân tiến.

Ông thông hiểu Trang tử, Liệt tử, Tả

thị xuân thu, Chiến quốc sách. Lúc đầu

ông công kích Phật giáo, nhưng về sau,

nhờ nghiên cứu và thấu suốt được nghĩa

lí sâu xa của các bộ kinh Thủ lăng nghiêm,

Viên giác, Duy ma, Hoa nghiêm, v.v… nên

ông đem lòng kính tin Phật pháp, rồi đề

xướng thuyết dung hòa tam giáo Nho,

Phật, Đạo.

Ông có các tác phẩm: Minh đạo tập

thuyết, Lão tử tập giải, Trang tử tập giải,

Trung dung tập giải, Trung quốc tâm học,

Lăng nghiêm tuyệt giải, Kim cương kinh giải.

[X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.35; Kim

sử Q.126; Tống nguyên học án Q.100].

LÍ BỈNH NAM (1889-1986)

Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người Tế

nam, Sơn đông, tên Diễm, tự Bính nam, hiệu

Tuyết lư.

Đầu tiên, ông học Duy thức với ông

Mai quang hi, đối với Thiền, Tịnh, Mật

đều từng tu tập, sau ông qui y Đại sư Ấn

quang, chuyên tu Tịnh độ. Ông cũng giỏi

về y học.

Trong thời kháng chiến chống Nhật, ông

làm Chánh thư kí cho Khổng phụng tự quan

Đức thành tại Trùng khánh, đồng thời giúp

đỡ Đại sư Thái hư trong công cuộc hoằng

pháp. Sau khi Cộng sản Trung quốc chiếm

toàn lục địa, ông dời ra Đài loan, làm giáo

sư viện Y dược học Trung quốc và trường

Đại học Trung hưng. Ngoài thì giờ dạy học,

ông dốc sức vào việc hoằng dương Phật pháp.

Ông giảng kinh thuyết pháp ở Đài trung mấy

mươi năm và rất nổi tiếng trong giới Phật

giáo Đài loan.

Trước sau, ông sáng lập nhiều cơ quan

hoằng pháp và từ thiện như: Đài trung

Phật giáo liên xã, Bồ đề thụ tạp chí xã,

Từ quang đồ thư quán, Từ quang dục ấu

LÍ BỈNH NAM

 

L

2767

viện, Bồ đề y viện, Bồ đề cứu tế viện, v.v…

Ngoài ra, ông còn mở các lớp Phật học

chuyên khoa, giúp cho nhiều sinh viên Đại

học học Phật.

Ông là người ngay thẳng, nghiêm cẩn,

thông hiểu tinh nghĩa của cả Nho và Phật

một cách sâu sắc, cho nên rất được người

đương thời kính trọng.

Ngày 13 tháng 04 năm Dân quốc 75

(1986) ông qua đời, thọ 98 tuổi.

Ông để lại các tác phẩm: Tuyết lư thi

văn tập, Phật học vấn đáp, A di đà kinh

nghĩa uẩn, Phật học thường thức khóa bản.

LÍ BỘT (773-831)

Cư sĩ Phật giáo, đệ tử của ngài Qui tông

Trí thường sống vào đời Đường, Trung quốc,

tự là Tuấn chi.

Khoảng năm Trinh nguyên (785-805),

ông sáng lập động Bạch lộc(động Nai trắng)

ở dưới ngọn Ngũ lão tại Lô sơn, sau dời đến

núi Thiếu thất. Đầu năm Nguyên hòa, ông

được Hàn dũ mời ra làm quan và giữ chức

Gián nghị đại phu, về sau ông còn đảm

nhiệm nhiều chức vụ khác. Trong năm Bảo

lịch (825-827), ông làm Thứ sử Giang châu

(Cửu giang, Giang tây). Ít lâu sau, ông lại trở

về động Bạch lộc, người đời gọi ông là Bạch

lộc tiên sinh.

Khi ngài Trí thường trụ trì chùa Thê

hiền, thì Lí bột thường đến hỏi về Phật

pháp. Ông thường đem vấn đề “Núi Tu di

nằm trong hạt cải” để hỏi ngài Trí thường

về cái lí tương quan giữa “một hạt bụi và

muôn vật” như thế nào. Đây chính là công

án “Lí bột hoài nghi”.

Năm Thái hòa thứ 5 (831) ông mất,

hưởng dương 59 tuổi.

[X. chương Qui tông Trí thường trong

Cảnh đức truyền đăng lục Q.7; Thiền uyển

mông cầu Q.thượng; Bạch lộc động thư viện

chí Q.4; Lô sơn chí Q.2].

LÍ CAO (?-?)

Nho gia sống vào đời Đường, Trung quốc,

đệ tử của Thiền sư Dược sơn Duy nghiễm,

người quận Triệu (Ninh phổ, Hà bắc) hiệu

là Tập chi.

Ông từng làm quan đến các chức: Bác sĩ

Quốc tử giám kiêm Quốc sử tu soạn, Hộ bộ

thượng thư, Tiết độ sứ Đông đạo Sơn nam.

Tuy học văn với ông Hàn dũ – người chủ

trương bài Phật, nhưng Lí cao lại có tư tưởng

Phật giáo rất sâu đậm, ông giải thích lại thuyết

“Tâm tính” và nhờ bộ “Phục tính thư” mà

ông được người đời kính trọng. Khi giữ chức

Thứ sử Lãng châu, ông được gặp Thiền sư

Duy nghiễm, đây là lần đầu tiên ông kết

duyên với cửa Thiền. Từ đó, những lúc rảnh

việc quan, ông thường đến tham phỏng các

bậc tôn túc trong Thiền lâm, kết giao với

chư tăng, cho nên trong Thiền giới rất nhiều

người biết đến ông.

Cứ theo chương Dược sơn Duy nghiễm

trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14,

thì có lần ông thưa hỏi ngài Duy nghiễm:

–“Thế nào là đạo?”

Ngài Duy nghiễm đáp: “Mây trên trời

xanh, nước ở trong bình”.

Ông hoát nhiên khai ngộ. Đây chính là

công án “Lí cao vấn đạo”. Sau khi tạ thế,

ông được đặt thụy hiệu làVăn.

Tác phẩm của ông gồm có: Luận ngữ bút

giải, Ngũ mộc kinh, Lí văn công tập.

[X. chương Thứ sử Lí cao trong Ngũ đăng

hội nguyên Q.5; Cựu đường thư Q.160; Tân

đường thư Q.177].

LÍ CHÍ (1527-1602)

Danh nhân Trung quốc, sống vào đời

Minh, người Tấn giang (Hạ môn, Phúc kiến),

tự là Trác ngô.

Đầu năm Vạn lịch, ông làm quan Tri phủ

LÍ CHÍ

 

L

2768

Diêu an, bẩm tính cao thượng, thông hiểu cả

Phật và Nho, nhưng lại hướng về Không tông,

thường chất vấn các ông Vương long khê, La

cận khê, v.v…, vạch ra chỗ tình chấp sai trái

của các nhà Nho. Lúc ở Diêu an, ông thích

giao du với các vị tăng và thường làm việc

quan ở chùa, sau ông vào ẩn trong núi Kê

túc để xem Đại tạng, không ra ngoài nữa, vì

thế ông bị buộc phải giải nhiệm. Trong thời

gian ở Hoàng an, Ma thành, ông cạo tóc

xuất gia, lên tòa thuyết pháp, nổi tiếng một

thời, rất nhiều người đến qui y. Nhưng vì

ông chỉ sùng tín Phật giáo, nên bị sĩ phu

đương thời bất mãn, vu cáo ông là tả đạo.

Sau, ông lên miền Bắc, đến Thông châu, bị

quan địa phương là Trương vấn đạt bắt tội,

cho rằng ông làm nhục Khổng tử. Vua ra lệnh

bắt ông giam vào ngục. Ông không khuất

phục, tự thắt cổ chết, thọ 76 tuổi.

Ông có các tác phẩm: Tạng thư, Cửu

chính dịch nhân.

[X. Minh sử Q.221; Minh sử cảo Q.284].

LÍ CHÍ THƯỜNG (?-1256)

Đạo sĩ người Trung quốc, sống vào đời

Nguyên, tổ thứ 7 của phái Toàn chân thuộc

Đạo giáo, tự là Hạo nhiên, hiệu là Chân

thường tử.

Ông là đệ tử của Trường xuân Chân

nhân Khưu xử cơ, từng theo thầy Tây du,

tác phẩm Trường xuân Chân nhân Tây du

kí của ông là tư liệu quan trọng cho việc

nghiên cứu về địa lí đương thời.

Sau khi kế nghiệp Doãn chí bình làm

giáo tổ, trong vòng 6 năm tại chức, Lí chí

thường đã tích cực mở rộng phạm vi hoạt

động của giáo phái Toàn chân đến nỗi đưa

đến cuộc đối kháng kịch liệt giữa Phật giáo

và Đạo giáo.

Năm Hiến tông thứ 5 (1255), Khưu xử

cơ và Lí chí thường cầm đầu đồ chúng đi

chiếm chùa Phật, phá tượng Phật và hủy hoại

cả Khổng miếu. Đồng thời, ấn hành kinh

Thái thượng hỗn nguyên thượng đức hoàng

đế minh uy hóa hồ thành Phật và Lão tử

bát thập nhất hóa đồ.

Ngài Phúc dụ, trụ trì chùa Thiếu lâm,

dâng biểu tâu vua nói lên sự sai trái của nhóm

Đạo sĩ này, vua Hiến tông liền ra lệnh cho

Đạo sĩ Chí thường đối luận với ngài Phúc

dụ, Chí thường bị đuối lí. Năm sau (1256),

Chí thường qua đời.

Năm Chí nguyên 18 (1281), chỉ trừ

Đạo đức kinh, còn toàn bộ sách vở của

Đạo giáo đều bị đốt hết. Đạo giáo thực sự

gặp 1 đại nạn do chính những Đạo sĩ thiển

cận gây nên.

[X. Biện ngụy lục Q.3; Cam thủy tiên

nguyên lục Q.4; Đại tông sư chân thường

chân nhân đạo hạnh bi].

LÍ CHƯỚNG

Đối lại: Sự chướng.

Một trong 2 chướng. Chỉ cho sự mê lí,

như vô minh căn bản, tà kiến, v.v… hay làm

chướng ngại sự thấy biết chân chính, nên

không thông suốt được bản giác chân như.

[X. kinh Viên giác Q.hạ]. (xt. Nhị

Chướng).

LÍ CÔNG LÂN (1049-1134)

Danh nhân Trung quốc, sống vào đời

Tống, người Thư châu, tỉnh An huy, tự Bá

thời, hiệu Long miên cư sĩ.

Năm Nguyên hựu (1086-1094) ông đỗ

Tiến sĩ, khoảng năm Nguyên phù (1098-

1100), ông được phong chức Ngự sử đại phu.

Ông học rộng, thích khảo cổ, biết nhiều chữ

lạ, giỏi thơ văn. Những đồ cổ như chuông,

đỉnh từ đời Hạ, Thương đến nay, ông đều

có thể khảo xét phân biệt rành rẽ. Ông cũng

giỏi về hội họa, ông vẽ tranh sông núi, tượng

Phật, người và vật rất sống động, có thể xem

LÍ CÔNG LÂN

 

L

2769

như đã đạt được tâm pháp của các nhà danh

họa Ngô đạo tử, Lí tư huấn.

Về già, ông qui y Phật, nguyện giữ giới,

tu Thiền pháp và Tịnh độ, ẩn cư nơi Long

miên sơn trang, ông thường đàm đạo với

bậc cao tăng và kết đoàn niệm Phật. Năm

Thiệu hưng (1134), biết trước giờ lâm chung,

ông đem cho hết của cải, viết kệ xong, ngồi

niệm Phật mà đi, thọ 86 tuổi.

Ông để lại rất nhiều các bức tranh thủy

mặc, được các họa gia đời sau xem là khuôn

mẫu.

LÍ CỤ SỰ TẠO

Lí cụ, chỉ cho bản tính như thực sẵn có

trước trời đất, cũng gọi Bản cụ, Lí tạo, Tính

cụ, Tính đức. Tính sẵn có này tùy theo nhân

duyên hiển hiện mà tạo ra các hiện tượng,

thì gọi là Sự tạo, cũng gọi là Biến tạo, Sự

dụng, Tu khởi, Tu đức, Tu cụ.

Tông Thiên thai cho rằng trong 1 tâm

niệm có đủ 3 nghìn pháp, đây là thuyết “Nhất

niệm tam thiên”. Bản tính của tâm viên mãn

đầy đủ vạn hữu, gọi là “Lí cụ tam thiên”, “Lí

tạo tam thiên”, “Tính cụ tam thiên”. Lí này

thường tùy nhân duyên mà tạo thành thế

giới hiện tượng với muôn vàn sự tướng sai

biệt, gọi là “Sự tạo tam thiên”, “Sự dụng tam

thiên”, “Biến tạo tam thiên”, “Tu cụ tam

thiên”. Hợp chung cả lí và sự trên đây, thì

gọi là “Lí sự tam thiên”, cũng gọi Lưỡng trùng

tam thiên, Lưỡng chủng tam thiên. Sự lí này

theo thứ tự biểu thị thể và dụng của các

pháp. Nhưng trong tất cả các pháp đều có

đủ 3 nghìn pháp, xưa nay không thiếu, cho

nên Lí cụ và Sự tạo tên tuy khác nhau, nhưng

cả 2 chỉ là 1 thể.

(xt. Sự Lí Tam Thiên).

LÍ CỤ THÀNH PHẬT

Gọi đủ: Lí cụ tức thân thành Phật.

Ngay nơi tự tâm của tất cả chúng sinh

đều có đầy đủ lí thể của Mạn đồ la thuộc 2

bộ Kim cương và Thai tạng. Lí thể này vượt

ra ngoài nhân quả, tự nhiên đầy đủ, gọi là Lí

cụ tức thân thành Phật, là 1 trong 2 loại

Tức thân thành Phật do tông Chân ngôn

Nhật bản thành lập.

(xt. Tức Thân Thành Phật).

LÍ CƯƠNG (1083-1140)

Danh nhân Trung quốc, sống vào đời

Tống, người Thiệu vũ (thuộc tỉnh Phúc kiến),

tự Bá kỉ, hiệu Lương khê.

Năm Chính hòa thứ 2 (1112), ông thi

đỗ Tiến sĩ, sau làm quan đến các chức:

Giám sát ngự sử, Binh bộ thị lang, Khu

mật sử, v.v… Khi 2 nước Tống (Trung quốc)

và Kim đối đầu, vì ông cực lực chủ chiến

nên bị bãi chức và đày đi xa. Khi nhà Tống

dời về phương Nam, thì vua Cao tông triệu

ông về giữ chức Tể tướng.

Ông là người thông suốt Nho học, giỏi

văn chương thi phú, ông cũng rất kính tin

Phật pháp, gần gũi các Thiền sư Phù dung

Đạo khải, Đại tuệ Tông cảo, v.v…, ông đặc

biệt hâm mộ giáo pháp Hoa nghiêm, từng

so sánh Chu dịch với Hoa nghiêm mong

tìm ra điểm tương đồng giữa 2 luồng tư

tưởng. Vì ông có chủ trương hợp nhất Nho

và Phật nên thường xảy ra sự tranh cãi giữa

ông và các ông Chu hi (1093-1163), Trương

tái là những người có tư tưởng bài Phật.

Ông có các tác phẩm: Dịch truyện nội

LÍ CƯƠNG

Một phần bức tranh trăm Phật đến chầu của Lí công lân

 

L

2770

thiên 10 quyển, Dịch truyện ngoại thiên 12

quyển, Luận ngữ tường thuyết 10 quyển.

[X. Phật tổ thống kỉ Q.47; Thích thị kê

cổ lược Q.4].

LÍ ĐỘC TÍNH ĐỘC

………..

Cũng gọi Lí tính độc hại.

Lí độc hay tính độc? Đây là nguyên nhân

của sự tranh cãi giữa 2 phái Sơn gia và Sơn

ngoại của tông Thiên thai Trung quốc.

Trong Thỉnh Quan âm kinh sớ, khi giải

thích đề mục: “Tiêu phục độc hại đà la ni”,

ngài Trí khải cho rằng pháp có 2 nghĩa thể

và dụng, “Tiêu phục độc hại” là nói rõ về

lực dụng của pháp, còn “Đà la ni” là thuyết

minh thể của pháp. Tác dụng của Tiêu phục

độc hại có 3 phương diện: Sự, Hành, Lí. Sự

tức các sự vật như hổ(cọp), chó sói, dao

gươm…, Hành tức là Ngũ trụ địa phiền não,

còn Lí là pháp giới vô ngại, vốn vô nhiễm

mà nhiễm, tức là cái độc của lí tính.

Về vấn đề này, ngài Trí viên thuộc phái

Sơn ngoại chủ trương 2 thứ lí độc, tính

độc không giống nhau, cho rằng chân như

lấy vô minh làm duyên mà sinh ra các

pháp, các pháp không nhiễm mà nhiễm,

cho nên gọi là Lí độc. Cái độc này chẳng

phải tính chân như sẵn có, vì thế Lí độc

có thể diệt trừ. Còn tính độc là tính ác,

không thể diệt trừ, vì vậy không nên cho

tính ác tức là Lí độc.

Ngài Tri lễ thuộc phái Sơn gia thì cho

thuyết này là thuyết của Biệt giáo, còn Viên

giáo thì thừa nhận Lí độc tức là Tính độc.

Ngài Tri lễ căn cứ vào chữ “tức” trong tiêu

đề “Lí độc tức tính độc” mà luận cứu, cho

rằng nếu trong pháp giới mê lầm của chúng

sinh không có sẵn tính nhơ nhớp của 3

chướng, mà do chịu sự huân tập biến đổi

mới phát sinh 3 chướng, thì đây là nghĩa

của Biệt giáo, chứ nghĩa của chữ “tức”

không được thành lập; vì pháp giới mê lầm

vốn đã có sẵn tính nhơ nhớp của 3 chướng,

cho nên mới hiện 3 chướng, đến khi trở về

nguồn gốc, thì cũng vẫn tự nhiên nhiễm

độc(tức tính độc), như thế mới phù hợp với

nghĩa chữ “tức”, mới khế nhập ý chỉ của

Viên giáo.

[X. Thỉnh Quan âm kinh sớ xiển nghĩa

sao Q.1; Thích thỉnh Quan âm sớ trung tiêu

phục tam dụng trong Tứ minh tôn giả giáo

hành lục Q.2; Thiên thai giáo học sử].

LÍ GIÁO

I. Lí Giáo.

Đối lại với Sự giáo.

Chỉ cho Thông giáo và Viên giáo trong

4 giáo Hóa pháp do tông Thiên thai thành

lập.

Tông Thiên thai dựa vào phạm vi giải

thích về Sự và Lí mà chia tam giới(cõi Dục,

cõi Sắc, cõi Vô sắc)làm 2 phần là Giới nội và

Giới ngoại. Thông giáo nói rõ lí “Nhân duyên

tức không” nên gọi là Giới nội lí giáo; còn

Viên giáo chủ trương lí “Viên mãn dung tức”

nên gọi là Giới ngoại lí giáo.

II. Lí Giáo.

Một giáo phái ở Trung quốc do tiến sĩ

Dương trạch sáng lập vào đầu đời Thanh.

Mới đầu gọi là Tại lí giáo. Giáo nghĩa

của giáo phái này do dung hợp nghĩa lí của

3 giáo Nho, Phật, Đạo mà thành, thờ bồ

tát Quan thế âm của Phật giáo và tôn Ngài

là Thánh tông cổ Phật hoặc Lão Phật gia.

Giáo nghĩa chủ yếu là bảo tồn thiên lí(lí tự

nhiên), phụng thờ chân lí, tôn sùng luân lí,

thực hành đạo trung hiếu, tín đồ phải giữ

5 giới: Tà dâm, trộm cắp, hút thuốc, nói

dối, uống rượu.

Từ khi được sáng lập, giáo phái này đã

từng trải qua những lúc hưng suy, chủ yếu

lưu hành ở miền Bắc Trung quốc nhưng

thường bị coi là Bạch liên giáo dưới hình

thức khác, cho nên đã bị cấm.

LÍ GIÁO

 

L

2771

Năm Dân quốc 38 (1949), Tổng lãnh

chính(người chủ trì) của giáo phái này là ông

Triệu đông thư khôi phục giáo này ở Đài

loan, sáng lập Lí giáo tổng công sở, Thanh

tâm đường công sở và Thánh lí học viện…

LÍ HIẾN THÀNH (?-?)

Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, đệ tử của

ngài Bất không. Ông được ngài Bất không

truyền trao pháp Phổ hiền và vâng mệnh

vua hộ trì sự nghiệp dịch kinh hoằng pháp

của Thầy. Ngài Bất không trao cho ông

những pháp khí của Mật giáo như: Yết ma

bằng bạc, chày Kim cương, bánh xe, v.v…

Khoảng năm Đại lịch thứ 6 đến thứ 10 (771-

775), nhờ ông tâu xin nên vua Đại tông đã

ban lương thực cho đạo tràng truyền giới

Phương đẳng ở chùa Đại hưng thiện và ban

sắc cho đưa vào tạng các kinh điển do ngài

Bất không phiên dịch. Sau khi ngài Bất

không nhập tịch, ông lo liệu việc an táng và

xây tháp thờ xá lợi của Ngài ở viện dịch kinh.

Vua ban thụy hiệu cho ngài Bất không và

tấm biển “Văn Thù Các” cho viện này, đồng

thời, ra lệnh cho tăng ni trong nước đọc tụng

Tôn thắng đà la ni.

Năm Đại lịch 12 (777) ông dâng biểu

tâu vua rằng sự hưng thịnh của Phật giáo là

điềm tốt lành cho đất nước và năm sau ông

dâng kinh Pháp hoa chữ viết bằng kim nhũ.

[X. Bất không biểu chế tập Q.3-6].

LÍ HOA (715-766)

Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào

đời Đường, người Tán hoàng, Triệu châu

(tỉnh Hà bắc), tự Hà thúc, là đệ tử của Tam

tạng Thiện vô úy.

Khoảng những năm Khai nguyên, Thiên

bảo, ông làm quan trong triều, thường bị

kẻ dua nịnh ghen ghét. Thời loạn An lộc

sơn, mẹ ông đang ở đất Nghiệp, ông đưa

mẹ đi lánh nạn, nhưng không may bị bắt.

Hết loạn, ông bị giáng chức làm Ti hộ tham

quân Hàng châu; sau ông về ẩn tại Sơn

dương, bảo các con em an phận nghèo và

nỗ lực cày cấy để sống.

Về già, ông kính tin Phật pháp, thờ ngài

Thiện vô úy làm thầy, Ông rất giỏi văn

chương, là tác giả bài Điếu cổ chiến trường

(Thăm trận địa chiến tranh thủa xưa), từng đã

làm mủi lòng không biết bao nhiêu người

qua nhiều thời đại. Năm Khai nguyên 23

(735) ngài Tam tạng Thiện vô úy nhập tịch,

ông soạn văn bia nói về hành trạng của Ngài.

Đến niên hiệu Đại lịch năm đầu (766) thì

ông cũng qua đời, hưởng dương 52 tuổi.

Ông để lại các tác phẩm: Điếu cổ chiến

trường, Lí Hà thúc văn tập 10 quyển.

[X. Cựu đường thư Q.209; Tân đường

thư Q.128].

LÍ HOẶC LUẬN

Gọi đủ: Mâu tử Lí hoặc luận.

Cũng gọi: Mâu dung biện hoặc.

Tác phẩm, 1 quyển, do Mâu tử bác(bản

in đời Minh gọi là Mâu dung)soạn vào khoảng

cuối thế kỉ II đầu thế kỉ III, được thu vào

Hoằng minh tập quyển 1 trong Đại chính

tạng tập 52.

Sách này được viết theo hình thức vấn

đáp, nội dung tư tưởng nhằm luận chứng về

giáo lí của Phật giáo và dung hòa Nho giáo,

Phật giáo và Đạo giáo, có ảnh hưởng rất lớn

đối với đời sau và là tư liệu quan trọng trong

việc nghiên cứu về mối quan hệ tư tưởng

giữa 3 giáo Nho, Phật, Đạo ở thời đại Ngụy

Tấn Nam Bắc triều, đồng thời, là tư liệu có

giá trị tham khảo đối với công trình nghiên

cứu lịch sử Phật giáo truyền vào Trung quốc

ở thời kì đầu.

Về tác giả và niên đại soạn thuật sách

này có nhiều thuyết khác nhau. Sách này

được thu vào bộ Hoằng minh tập của ngài

LÍ HOẶC LUẬN

 

L

2772

Tăng hựu, tác giả đề là “Hán Mâu Dung

soạn”, rồi lại chua thêm: “Có thuyết cho là

Thương ngô Thái thú Mâu tử bác truyện”.

Nhưng Mâu dung là một nhà Nho sống vào

thời vua Chương đế nhà Hán, căn cứ vào

thân phận và thời đại của ông mà suy đoán,

thì ông không thể là tác giả của sách Lí hoặc

luận. Đã đành vậy, nhưng còn Mâu tử bác

sống vào khoảng Đông Hán, Tào Ngụy, có

phải là tác giả của sách này không? Về vấn

đề này, cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời

dứt khoát.

Còn về niên đại soạn thuật cũng có điểm

ngờ. Theo sự khảo chứng của các học giả

cận đại, như: Hồ thích, Chu thúc ca, Dư

gia tích, Bá hi hòa (Pelliot), v.v… chủ trương

sách này được soạn vào cuối đời Đông Hán

(khoảng cuối thế kỉ II đầu thế kỉ III). Nhưng

cũng có các học giả khác như: Lương khải

siêu, Thường bàn Đại định, v.v… lại cho

sách này là ngụy tác ở thời Tấn và Lưu

Tống.

LÍ MẠN ĐỒ LA

Đối lại: Trí mạn đồ la.

Chỉ cho Mạn đồ la Thai tạng giới của

Mật giáo.

Trong Mạn đồ la của 2 bộ Kim cương,

Thai tạng, thì Mạn đồ la Kim cương giới

biểu thị cho trí đức do tu hành mà phát

sinh, còn Mạn đồ la Thai tạng giới thì biểu

thị cho lí đức sẵn có, vì thế nên gọi Mạn đồ

la Kim cương giới là Trí mạn đồ la, mà gọi

Mạn đồ la Thai tạng giới là Lí mạn đồ la.

LÍ NGẠN

Những tục ngữ và ngạn ngữ có quan hệ

với Phật giáo được lưu hành trong dân gian.

Có nhiều loại:

– Các câu có xuất xứ từ kinh điển Phật

giáo, như: “Bần giả nhất đăng(một ngọn đèn

của người nghèo), “Nhập bảo sơn không thủ

nhi qui”(vào núi báu mà về tay không), “Sư tử

thân trung trùng”(trùng trong mình sư tử),

“Không hoa thủy nguyệt”(Hoa giữa hư không,

trăng dưới đáy nước)…

– Lấy lời nói trong kinh Phật rồi hơi thay

đổi mà thành, như: “Tự thằng tự phược”(tự

ràng tự buộc), “Vô thằng tự phược”(không

dây mà tự trói mình)…

– Những câu lấy ý từ kinh Phật, như:

“Long đầu xà vĩ”(đầu rồng đuôi rắn)…

– Những câu lấy từ sách ngoài làm câu

của Phật giáo, như: “Cách tường hữu nhĩ”

(cách vách có tai), “Lũy noãn chi nguy”(nguy

như trứng chồng lên nhau), v.v…

[X. kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán

Q.6; Bích nham lục tắc 10; Tục truyền đăng

lục Q.8; Thiền lâm bảo huấn Q.4]. (xt. Phật

Giáo Ngạn Ngữ Lí Ngữ).

LÍ NGUYÊN TÔNG (?-776)

Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào

đời Đường, đệ tử của Tam tạng Bất không.

Ông làm quan đến các chức Quán tu

công đức sứ, Tri quân sự thượng trụ quốc

lương quốc công. Năm Thiên bảo 13 (754)

tại Vũ uy, tỉnh Cam túc, ông được ngài Bất

không truyền cho 5 bộ Quán đính, Kim

cương giới đại mạn đồ la và trao cho các đạo

cụ bằng bạc, chày Kim cương 5 chĩa, linh 3

chĩa, 1 chĩa, v.v… Ông theo học ngài Bất

không hơn 30 năm, từng đến Hà tây, Nam

hải hỏi đạo, đích thân cúng dường 2 chùa

Tịnh ảnh và Hồng lô.

Tháng 6 năm Đại lịch thứ 9 (774), ngài

Bất không thị tịch, ông vâng mệnh vua

trông coi việc an táng, rồi xây tháp thờ

ngài Bất không tại viện dịch kinh chùa

Hưng thiện.

Tháng 11 năm Đại lịch 11 (776) ông mất.

[X. Bất không biểu chế tập Q.3; Phó pháp

truyện Q.hạ].

LÍ NGUYÊN TÔNG

 

L

2773

LÍ NHẬP

…..

Đối lại: Hạnh nhập.

Tin sâu lí phàm thánh nhất như, không

hề nghi ngờ.

Cứ theo chương Bồ đề đạt ma trong

Lăng già sư tư kí, thì Lí nhập là nhờ giáo

nghĩa mà ngộ được tâm tông, tin một cách

sâu sắc rằng chúng sinh phàm thánh đều

cùng 1 chân tính, nhưng vì khách trần

phiền não ngăn che, nên không thể hiển

rõ ra được. Nếu có thể bỏ vọng về chân,

lắng tâm quán xét, không thấy có mình,

có người, phàm thánh đồng nhất, kiên cố

không dời đổi, không theo ngôn giáo, văn

tự, như vậy tức thầm hợp với chân lí,

không còn phân biệt, vắng lặng vô vi, gọi

là Lí nhập.

[X. kinh Kim cương tam muội Q.thượng].

(xt. Nhị Thập Tứ Hạnh).

LÍ PHÁP GIỚI

……..

Muôn vật đều cùng 1 lí tính, chân như

bình đẳng không sai biệt, là 1 trong 4 pháp

giới do tông Hoa nghiêm thành lập.

[X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa

sao Q.1; Hoa nghiêm pháp giới huyền kính].

(xt. Tam Trùng Quán Môn, Tứ Pháp Giới).

LÍ SÁM SỰ SÁM

………..

Lí sám và Sự sám.

Sám hối được chia làm 2 là: Lí sám và

Sự sám.

1. Lí sám, cũng gọi là Quán sát thực

tướng sám hối: Tất cả tội nghiệp đã gây ở

quá khứ và hiện tại đều do tâm khởi, cho

nên, nếu biết rõ tâm tính mình vốn vắng

lặng, thì hết thảy tướng tội phúc cũng đều

vắng lặng. Quán xét lí thực tướng như thế

để diệt trừ tội nghiệp, gọi là Lí sám.

2. Sự sám, cũng gọi Tùy sự phân biệt

sám hối: Thân cung kính lễ bái, miệng

tụng niệm tán thán, ý quán tưởng Phật

Bồ tát, bày tỏ tất cả tội lỗi do 3 nghiệp

gây nên trong quá khứ và hiện tại, gọi là

Sự sám.

Thích Thiền ba la mật thứ đệ pháp môn

quyển 2, Duy ma kinh văn sớ quyển 15 và

Kim quang minh kinh văn cú kí quyển 3,

căn cứ vào giáo thuyết của Đại thừa, Tiểu

thừa mà chia sám hối làm 3 loại là: Tác pháp

sám hối, Thủ tướng sám hối và Vô minh

sám hối, trong đó, Tác pháp, Thủ tướng sám

hối thuộc về Sự sám, còn Vô minh sám hối

thì thuộc về Lí sám.

[X. Ma ha chỉ quán Q.2 thượng]. (xt. Sám

Hối).

LÍ SƯ CHÍNH (?-?)

Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào

đời Đường, ngườiThượng đảng (Trường trị,

Sơn tây), là đệ tử của ngài Pháp lâm chùa

Tế pháp.

Khoảng năm Vũ đức (618-626) đời vua

Cao tổ nhà Đường, Đạo sĩ Phó dịch đang

giữ chức Thái sử nhiều lần tâu lên vua kiến

nghị hủy diệt Phật pháp, đã đưa đến cuộc

tranh luận kịch liệt giữa Phật giáo và Đạo

giáo. Vì thế, Lí sư chính mới soạn Nội đức

luận, gồm 3 thiên: Biện hoặc, Thông mệnh

và Không hữu để nói rõ về sự lợi ích của

Phật pháp đối với quốc gia và vạch ra những

sai lầm của Phó dịch.

[X. Phật tổ thống kỉ Q.39; Quảng hoằng

minh tập Q.14; luận Tam giáo bình tâm

Q.thượng].

LÍ SỰ VÔ NGẠI QUÁN

…………..

Pháp quán Lí sự bình đẳng vô ngại.

Lí là tính của Nhất chân pháp giới, Sự là

tướng của hết thảy thế gian. Tức là quán lí

LÍ SỰ VÔ NGẠI QUÁN

 

L

2774

tính bình đẳng và sự tướng sai biệt hiển

nhiên tồn tại, cả 2 tuy có thể hòa nhập vào

nhau, thành tựu cho nhau, tổn hại lẫn nhau,

tức là nhau, chẳng phải nhau, nhưng viên

dung vô ngại. Là pháp giới Lí sự vô ngại

trong 4 pháp giới.

Cứ theo Hoa nghiêm pháp giới quán

môn, thì Lí sự vô ngại quán có 10 môn:

1. Lí biến ư sự môn: Lí không có giới

hạn, sự thì có sai biệt, nhưng trong mỗi sự

đều hàm có lí.

2. Sự biến ư lí môn: Trong lí đã có sự

thì trong sự cũng có lí, sự tuy có sai biệt,

nhưng lí thì vô hạn, vì thế 1 mảy bụi cũng

có thể trùm khắp pháp giới.

3. Y lí thành sự môn: Sự do duyên sinh

khởi, không có thể riêng, phải nương vào

lí mới được thành lập; đây là sự do lí mà

thành.

4. Sự năng hiển lí môn: Sự là hư giả, lí

là chân thực, cho nên lí trong sự hiển hiện

rõ ràng, đây là lí do sự mà hiển lộ.

5. Dĩ lí đoạt sự môn: Sự do lí mà thành,

khiến cho sự tướng đều mất, chỉ còn 1 chân

lí bình đẳng hiển hiện.

6. Sự năng ẩn lí môn: Chân lí tùy duyên

mà thành các sự tướng, do đó, sự hiển hiện

mà lí thì ẩn kín, như pháp thân của chư

Phật ẩn trong thân chúng sinh.

7. Chân lí tức sự môn: Chân lí không ở

ngoài sự, toàn thể lí đều là sự.

8. Sự pháp tức lí môn: Sự do duyên khởi,

không có tự tính, cho nên toàn thể sự tức là

chân lí.

9. Chân lí phi sự môn: Lí là chỗ nương

của sự, nhưng chẳng phải là sự, vì lí dứt tuyệt

các tướng, nên không phải là sự.

10. Sự pháp phi lí môn: Sự là năng y

chứ không phải sở y, sự có sai biệt, tính và lí

khác nhau, cho nên sự chẳng phải là lí.

Trong 10 môn trên, hai môn đầu sự

và lí nhập vào nhau, môn 3, 4 là sự và lí

thành tựu cho nhau, môn 5, 6 sự và lí tổn

hại lẫn nhau, môn 7, 8 sự và lí tức là nhau,

môn 9, 10 sự và lí chẳng phải là nhau.

Nghĩa của 10 môn này tuy chỉ thú không

giống nhau, nhưng thuận nghịch tự tại vô

ngại, là pháp duyên khởi đồng nhất, sinh

khởi đồng thời.

[X. chú Hoa nghiêm pháp giới quán

môn; Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm

kinh sớ Q.2; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn

nghĩa sao Q.10; Hoa nghiêm pháp giới

huyền kính]. (xt. Tam Trùng Quán Môn,

Tứ Pháp Giới).

LÍ TẠI TUYÊT NGÔN

………..

Chân lí vượt ngoài lời nói, suy tính. Hoặc

là sự tồn tại của đạo lí không thể dùng ngôn

ngữ mà diễn tả cho rõ ràng được. Vì chân lí

là bản thể của vũ trụ vạn hữu, nó vượt ra

ngoài phạm vi tri thức của phàm phu, cho

nên không thể dùng ngôn ngữ hoặc chữ

nghĩa mà diễn đạt được.

LÍ TÂM

Chỉ cho tâm tuyệt đối bình đẳng nhất

như của chúng sinh và Phật.

Chương Cầu na bạt đà la trong Lăng

già sư tư kí, chia An tâm làm 4 loại: Bội lí

tâm, Hướng lí tâm, Nhập lí tâm và Lí tâm.

Trong đó, Lí tâm là chỗ rốt ráo cùng tột

của sự an tâm.

Sách vừa dẫn nói (Đại 85, 1284 trung):

“Lí tâm, nghĩa là chẳng phải lí ngoài lí,

chẳng phải tâm ngoài tâm, lí tức là tâm.

Tâm bình đẳng, gọi là lí; Lí soi sáng, gọi

là tâm. Tâm lí bình đẳng, gọi là Phật tâm.

Người thể hội được thực tính, thì không

thấy có sự khác nhau giữa sinh tử và Niết

bàn, phàm và thánh, cảnh và trí không

hai, lí và sự dung hợp, nhiễm và tịnh nhất

như, Phật và chúng sinh vốn nhất thể

bình đẳng”.

LÍ TÂM

 

L

2775

LÍ THẾ KIÊT (1919- )

Học giả Phật giáo Trung quốc, người Tân

trúc, Đài loan.

Sau khi tốt nghiệp, ông làm việc tại thư

viện Đại học Đài loan và giảng dạy triết học

ở học viện Văn hóa Trung quốc. Ông cũng

dạy Phật pháp tại hơn 10 viện Phật học.

Ông có các tác phẩm: Hoa nghiêm triết

học yếu nghĩa, Ấn độ Áo nghĩa thư triết

học khái yếu, Ấn độ lục phái triết học, Mật

tông đích lịch sử dữ giáo lí, Nguyên thủy,

Bộ phái, Đại thừa Phật giáo tư tưởng sử…

LÍ THIỀN SỰ THIỀN

………..

Lí thiền và Sự thiền.

Lí thiền, cũng gọi Lí định, là Thiền định

vô lậu, đã dứt sạch phiền não vọng tưởng.

Trái lại, Sự thiền là Thiền định hữu lậu.

Thiên thai tứ giáo nghi tập giải quyển

trung (Vạn tục 102, 42 thượng), nói: “Nên

biết người tu 6 độ trải qua 3 A tăng kì cũng

chỉ được sự thiền, sự trí mà thôi; ngay đến

người dưới gốc cây ngộ đạo cũng phải duyên

theo Lí thiền. Hoặc như luận Câu xá nói,

người tu hành đã đoạn trừ Bát địa hoặc,

nhưng còn Đính hoặc chưa đoạn, thì cũng

chỉ được trí hữu lậu thôi”.

LÍ THIÊN

…..

Đối lại với Sự thiện.

Điều thiện sâu xa mầu nhiệm khi diệt

trừ được Lí hoặc.

Dựa vào sự sâu cạn tương đối mà chia

làm Sự và Lí. Như bỏ việc ác là cái thiện

thiển cận, gọi là Sự thiện; diệt lí hoặc(mê lí)

là điều thiện sâu xa vi diệu, gọi là Lí thiện.

Pháp hoa huyền nghĩa quyển 5, đem

chia 4 giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên làm

Sự thiện, Lí thiện của giới nội và Sự thiện,

Lí thiện của giới ngoại, trong đó, Thông

giáo là Lí thiện giới nội, Viên giáo là Lí

thiện giới ngoại.

(xt. Nhị Thiện).

LÍ THÔNG HUYỀN (635-730)

Học giả Hoa nghiêm Trung quốc, sống

vào đời Đường, người Thương châu (huyện

Thương, Hà bắc), dòng dõi vua chúa.

Ông bẩm tính thông minh, tinh thông

cả Nho và Phật, ông thích nơi rừng núi, xa

lánh sự ồn ào của thành thị. Năm Khai

nguyên thứ 7 (719), ông ở ẩn trong căn nhà

bằng đất trong núi Thọ dương phương thuộc

phủ Thái nguyên, chuyên tâm nghiêm cứu

kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới). Suốt mấy

năm ở trong núi, hằng ngày ông chỉ dùng

quả táo và lấy lá cây bách làm thức ăn, nên

người đời gọi ông là Tảo bách Đại sĩ.

Tháng 3 năm Khai nguyên 18 (730), ông

ngồi trong khám thất mà hóa, thọ 96 tuổi.

Vua Huy tông nhà Tống ban hiệu: Hiển

Giáo Diệu Nghiêm Trưởng Giả.

Ông để lại các tác phẩm: Tân Hoa

nghiêm kinh luận, 40 quyển, Hoa nghiêm

kinh hội thích luận, 14 quyển, Lược thích

tân Hoa nghiêm kinh tu hành thứ đệquyết

nghi luận, 4 quyển, Lược thích, 1 quyển,

Thích giải mê hiển trí thành bi thập minh

luận, 1 quyển, Thập huyền lục tướng, Bách

môn nghĩa hải, Phổ hiền hành môn, Hoa

nghiêm quán.

[X. Hoa nghiêm kinh quyết nghi luận tự

cập hậu kí; Hoa nghiêm kinh hợp luận quyển

thủ Lí trưởng giả sự tích; Hoa nghiêm luận

tiết yếu quyển mạt hành trạng; Tống cao

tăng truyện Q.22; Phật tổ thống kỉ Q.40;

Phật tổ lịch đại thông tải Q.13; Đường Lí

trưởng giả Thông huyền hành tích kí; Chiêu

hóa tự thiếp; Chiêu hóa tự Lí trưởng giả

khám kí (3 bộ trên được thu vào Kim thạch

tục biên Q.17)].

LÍ THÔNG HUYỀN

 

L

2776

LÍ THÚ HỘI

Hội ở phía tây bắc trong 9 hội Mạn đồ la

thuộc Kim cương giới, Mật giáo. Hội này là

hình thức của Nhất ấn Mạn đồ la.

Kinh Hiện chứng tam muội đại giáo

vương quyển 8, chỉ ghi có hội Nhất ấn của

Kim cương tát đỏa. Đại nhật Như lai là tổng

đức của quả vị, còn Kim cương tát đỏa là

tổng đức của nhân vị, cả 2 chỉ khác nhau về

phương diện nhân và quả, cho nên trong 9

hội Mạn đồ la có vẽ Nhất ấn Mạn đồ la của

2 tôn vị này. Nhất ấn Mạn đồ la của Đại

nhật Như lai, gọi là Nhất ấn hội, còn Nhất

ấn mạn đồ la của Kim cương tát đỏa thì gọi

là Lí thú hội. Bản tôn của hội này là Kim

cương tát đỏa, ngồi ở chính giữa, phối với 4

vị Bồ tát ở 4 phương là Dục, Xúc, Ái, Mạn

cùng với 8 vị Bồ tát Cúng dường và 4 Nhiếp

bồ tát… cộng chung là 17 vị tôn.

[X. Thập bát hội chỉ qui].

LÍ THÚ KINH

Cũng gọi: Bát nhã lí thú kinh.

Gọi đủ: Đại lạc kim cương bất không

chân thực tam ma da kinh.

Kinh, 1 quyển, do ngài Bất không (Phạm:

Amoghavajra) dịch vào đời Đường, được

thu vào Đại chính tạng tập 8.

Kinh này tương đương với phần Lí thú

của kinh Bát nhã, tức là hội thứ 10 trong 16

hội Bát nhã của kinh Đại bát nhã quyển

578.

Lí thú hàm ý là chỉ thú của đạo lí, do Trí

pháp thân của Đại nhật Như lai nói cho bồ

tát Kim cương tát đỏa (Phạm:Vajrasattva)

nghe về cái lí thanh tịnh của Bát nhã lí thú.

Trí pháp thân là trí cùng tận của thủy giác,

khế hợp với lí bản giác thanh tịnh, mà hiển

bày trí “Thân tâm nhất như”. Kim cương

tát đỏa biểu thị cho nhân vị của Đại nhật

Như lai, là tính Phật sẵn có của chúng sinh

bắt đầu hiển phát, tức chúng sinh mới phát

tâm bồ đề đều gọi là Kim cương tát đỏa.

Đây là thuyết minh ý nghĩa cùng tột của

Mật giáo.

Kinh này có 5 bản dịch khác nhau:

– Bát nhã lí thú phần, 1 quyển, là hội

thứ 10 trong kinh Đại bát nhã ba la mật, do

ngài Huyền trang dịch vào đời Đường.

– Kinh Thực tướng bát nhã ba la mật,

1 quyển, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào đời

Đường.

– Kinh Kim cương đính du già lí thú

bát nhã, 1 quyển, do ngài Kim cương trí

dịch vào đời Đường.

– Kinh Biến chiếu bát nhã ba la mật, 1

quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống.

– Kinh Tối thượng căn bản đại lạc kim

cương bất không tam muội đại giáo

vương, 7 quyển, do ngài Pháp hiền dịch

vào đời Tống.

Trong 5 bản dịch trên, 4 bản trước đại

khái giống với bản dịch của ngài Bất

không, còn bản dịch của ngài Pháp hiền

thì quá dài.

Kinh này cũng có nhiều kinh biệt sinh.

Trong 17 chương nội dung, thì kinh biệt

sinh của chương thứ 1 có 6 bộ: Đại lạc quĩ,

Lược xuất quĩ, Lí thú hội quĩ, Phổ hiền quĩ,

Phổ hiền Kim cương tát đỏa niệm tụng nghi,

Kim cương đính Phổ hiền du già đại giáo

vương kinh đại lạc bất không kim cương tát

đỏa nhất thiết thời phương thành tựu nghi…

đều lấy 17 câu thanh tịnh trong chương thứ

1 làm Bồ tát để nói về thứ tự tụng niệm

cúng dường các vị Bồ tát này. Ngoài ra, Lí

thú kinh thập thất tôn nghĩa thuật, cũng lấy

17 câu thanh tịnh làm Bồ tát để nói về bản

thệ của các Ngài.

Kinh Biệt sinh của chương 17 có Ngũ

bí mật nghi. Kinh này đem 17 vị tôn nói

trong chương thứ 1 xếp vào với 5 vị Bồ tát

là Kim cương tát đỏa, Dục, Xúc, Ái, Mạn

LÍ THÚ KINH

 

L

2777

để thuyết minh về phương pháp tu hành

niệm tụng.

Trong các kinh quĩ của Mật giáo, kinh

Lí thú đặc biệt được coi trọng. Không những

trong các nghi thức hồi hướng, chú nguyện

thành tựu, mà ngay cả khi cử hành các pháp

hội, kinh này cũng thường được đọc tụng.

Trong Mạn đồ la Kim cương giới cũng lấy

17 câu thanh tịnh làm 17 vị Bồ tát để tôn trí

trong hội Lí thú.

LÍ THÚ KINH MẠN ĐỒ LA

Cũng gọi Lí thú thích mạn đồ la.

Mạn đồ la được vẽ theo nội dung kinh

Lí thú. Tức là Mạn đồ la dựa theo Lí thú

thích mà vẽ 17 đoạn trong kinh Lí thú, rồi

cộng thêm hội Lí thú nữa mà thành là Mạn

đồ la 18 hội.

LÍ THÚ KINH PHÁP

Các pháp tu Diệt tội, Tức tai, Kính ái,

v.v… thờ Mạn đồ la kinh Lí thú làm bản

tôn.

Về bản tôn của các pháp này, có nhiều

thuyết khác nhau, hoặc thờ Ngũ bí mật làm

bản tôn, hoặc lấy bản tôn của các đoạn, hoặc

thờ bồ tát Bát nhã, hoặc thờ Đại nhật Như

lai trong đoạn thứ 1 làm bản tôn.

[X. Đại lạc kim cương tát đỏa nghi quĩ;

Bí sao Q.6].

LÍ THÚ TAM MUỘI

Trong nghi thức đọc tụng kinh Lí thú,

hành giả phải định tâm yên tĩnh, không để

tán loạn. Đọc tụng kinh Lí thú trong trạng

thái tinh thần định tĩnh như vậy, gọi là Lí

thú tam muội.

Ngoài ra, Lí thú tam muội thuộc về lễ

sám(bái sám), nên còn gọi là Lí thú lễ sám.

Nghi thức lễ sám chia làm 2 loại:

– Hiển hành: Đọc phần Lí thú bát nhã

do ngài Huyền trang dịch.

– Mật hành: Đọc kinh Lí thú do ngài

Bất không dịch.

LÍ THÚ THÍCH KINH

Cũng gọi Đại lạc kim cương lí thú kinh,

Bát nhã lí thú thích, Lí thú thích.

Gọi đủ: Đại lạc Kim cương bất không

chân thực tam muội da kinh bát nhã ba la

mật đa lí thú thích.

Kinh, 2 quyển, do ngài Bất không dịch

vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng

tập 19.

Nội dung sách này giải thích kinh Đại

lạc kim cương bất không chân thực tam ma

da(kinh Lí thú). Kinh Lí thú gồm có 17

chương, quyển thượng của sách này theo văn

giải thích 2 chương đầu, quyển hạ giải thích

15 chương sau.

Bởi vì sách này giải thích về nguồn gốc

của Kim cương đính, cho nên cùng với Đại

nhật kinh sớ, đều là những tác phẩm quan

trọng của Mật giáo.

[X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục

lục Q.15, 29].

LÍ THỤY SẢNG (1931- )

Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người Cát

lâm, pháp danh Giác lãng, hiệu Tịch quang.

Ông tốt nghiệp tại trường Đại học Đông

kinh, Nhật bản. Sau đó ông du học Mĩ quốc

và đạt được học vị Tiến sĩ Triết học tại trường

Đại học Harvard, sau đó ông giảng dạy tại

nhiều Đại học ở nước Mĩ. Trong thời gian

này, ông đem sinh hoạt Thiền viện với xã

hội làm đề tài giới thiệu văn hóa Trung quốc.

Ông nghiên cứu rất sâu về tiếng Phạm và

tôn giáo tỉ giảo học, nhất là về triết học Ấn

độ và tư tưởng Trung quán.

Ông có các tác phẩm: Tiểu thừa Niết bàn,

LÍ THỤY SẢNG

 

L

2778

Phật học chân tủy, Thiền viện sinh hoạt dữ

Trung quốc xã hội, Bách trượng thanh qui

nghiên cứu…

LÍ TÍNH

…..

Bản tính chân thực của muôn vật trước

sau không thay đồi. Tính là nhân chủng

( ) sẵn có, từ vô thủy đến nay vẫn tồn

tại tự nhiên như thế. Như vô thường, khổ,

không, vô ngã… là lí tính chung của hết

thảy các pháp.

[X. luận Đại trí độ Q.31].

LÍ TRÍ

…..

Đối lại với Cơ quan.

Hàm ý là chỉ dẫn hướng đến đạo lí. Là

phương pháp mở bày đạo lí trong kinh luận

để chỉ dẫn người học trong Thiền lâm.

Phương pháp này cũng giống như lối y theo

kinh giáo mà tu của Như lai thiền.

[X. Pháp hoa du ý; Viên ngộ tâm yếu].

LÍ TRÍ

…..

Lí sở quán và Trí năng quán.

Lí chân như và trí tuệ chứng ngộ lí ấy

tương ứng với nhau, gọi là Lí trí tương ứng.

Trí năng quán và lí sở quán thầm hợp nhau,

gọi là Lí trí minh hợp.

Luận Câu xá quyển 18, nêu ra 2 loại trí:

Sự trí là trí hữu lậu, Lí trí là trí vô lậu.

LÍ TRƯỜNG VI TÔNG

Lấy đạo lí làm tông chỉ. Nghĩa là không

cố chấp vào tông nghĩa của bất cứ tông phái

nào, mà chỉ vận dụng đạo lí một cách tự do

để phê phán các tông, kể cả tông phái của

chính mình. Thái độ phê phán như thế gọi

là “Lí trường vi tông”.

Ngài Thế thân viết luận Câu xá, lấy

học thuyết của Thuyết nhất thiết hữu bộ

làm chính, rồi chọn lấy những chỗ thù

thắng của Kinh lượng bộ để giúp thêm

cho việc làm sáng tỏ nghĩa lí của A tì đạt

ma, đó là người mở đầu của chủ trương Lí

trường vi tông.

LÍ TUÂN ÚC (?-1038)

Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, tự là Công

vũ, sống vào đời Tống.

Ông thi đậu Tiến sĩ, làm quan đến chức

Đô úy phò mã. Ông tham yết thiền sư Cốc

ẩn Uẩn thông hỏi về tông yếu, được ấn khả,

có làm kệ rằng (Vạn tục 147, 443 thượng):

“Tham thiền tu thị thiết hán.

Trứ thủ tâm đầu tiện phán

Trực thú vô thượng bồ đề

Nhất thiết thị phi mạc quản”.

(Tham thiền phải là trượng phu

Ra tay tâm liền sáng tỏ

Một đường thẳng tới Bồ đề

Tất cả đúng, sai đều bỏ).

Niên hiệu Bảo nguyên năm đầu (1038)

ông qua đời.

Ông có các tác phẩm: Thiên thánh quảng

đăng lục, 30 quyển, Nhàn yếu tập, 20 quyển,

Ngoại quán phương đề, 7 quyển.

[X. bài tựa Thiên thánh quảng đăng lục;

Liên đăng hội yếu Q.13; Gia thái phổ đăng

lục Q.22; Cư sĩ phần đăng lục Q.thượng;

Tống sử Q.464].

LÍ TỬ KHOAN (1882-1973)

Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người Ứng

thành, tỉnh Hồ bắc, tên Cơ hồng, pháp danh

Liễu không, là đệ tử của Đại sư Thái hư.

Năm Dân quốc 35 (1946), ông được bầu

làm đại biểu quốc hội. Ông từng giữ chức

Hội trưởng hội Phật giáo chính tín Hán khẩu

suốt 15 năm, là hộ trì viên Viện Phật học

Vũ xương, Trị sự trưởng viện Hán Tạng giáo

LÍ TỬ KHOAN

 

L

2779

lí, Giám đốc Thế giới Phật học uyển, Ủy

viên Thường vụ Ủy hội chỉnh lí Phật giáo

Trung quốc; phụ giúp các ngài Thái hư và

Chương gia trong công cuộc chấn hưng Phật

giáo.

Ông phát nguyện trọn đời hộ trì sự

nghiệp hoằng pháp của Đại sư Thái hư, sau

khi ngài Thái hư viên tịch, ông phụ trách

công việc phát hành tạp chí Hải triều âm và

Thái hư Đại sư toàn thư của cơ sở Văn hóa

Phật giáo.

Sau khi đến Đài loan, ông lấy chùa Thiện

đạo ở Đài bắc làm đạo tràng chủ yếu cho sự

nghiệp hoằng pháp và hỗ trợ nhiều mặt cho

Hội Phật giáo Trung quốc.

Ông tạ thế vào năm 1973 tại Đài bắc,

thọ 91 tuổi.

Ông có các tác phẩm: Thánh quĩ lục,

Bách niên nhất mộng kí.

LÍ TỨC PHẬT

Cũng gọi Lí tức, Lí Phật, Tố pháp thân.

Chỉ cho tính Phật sẵn có trong chúng

sinh, nhưng vì không nhận ra được nên phải

luân hồi sinh tử. Là một trong Lục tức vị

của Viên giáo do tông Thiên thai lập ra.

Từ phàm phu đến Thánh nhân chia làm

6 giai vị, Lí tức Phật là giai vị đầu tiên. Tất

cả chúng sinh đều có Phật tính trung đạo là

“Lí”; Lí này cùng với quả Phật tương tức

không hai, đó là “Tức”. Như chúng sinh

trong 3 đường ác, tuy không một mảy may

thiện, nhưng vốn có tính Phật, đó là “Lí tức”,

vì thế, Lí tức Phật chỉ có lí thể, chứ không

có công đức trang nghiêm.

Ma ha chỉ quán quyển 1, phần cuối (Đại

46, 10 trung), nói: “Lí tức, nghĩa là tâm 1

niệm tức Như Lai tàng lí, vì là Như nên tức

không, vì là Tàng nên tức giả, vì là Lí nên

tức trung; trong 1 tâm có 3 trí, đầy đủ không

thể nghĩ bàn. Như trên đã nói, 3 đế 1 đế,

chẳng phải 3 chẳng phải 1, 1 sắc 1 hương,

tất cả pháp, tất cả tâm cũng đều như thế, đó

gọi là Lí tức bồ đề tâm”.

[X. Thiên thai tứ giáo nghi]. (xt. Lục Tức

Phật).

LÍ VIÊN TỊNH (?-?)

Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào

thời Dân quốc, người Chiết giang, tên Vinh

tường, pháp danh Viên tịnh.

Ông qui y pháp sư Đế nhàn, chuyên tu

Tịnh độ, dốc lòng kính tin bồtát Quan

thế âm.

Ông có tác phẩm: Phật pháp đạo luận,

Diệu pháp liên hoa kinh Quan thế âm bồ

tát phổ môn phẩm thích, Hoa nghiêm kinh

sớ khoa văn biểu giải.

LÍ VÔ SIỂM (?-?)

Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào

đời Đường, gốc người nước Lam ba thuộc

Bắc Ấn độ, dòng dõi Bà la môn.

Ông vốn thông minh, thông suốt cả nội

điển và ngoại điển, giỏi cả Phạm ngữ lẫn

Hán văn. Ông có tham dự công tác dịch

kinh với các ngài A nễ chân na, Bồ đề lưu

chí v.v…

Tháng 3 năm Canh tí, niên hiệu Thánh

lịch thứ 3 (700) đời Vũ hậu nhà Đường, theo

lời thỉnh cầu của vị tăng người Tân la là

Minh hiểu, ông phiên dịch bộ kinh Bất

không quyên sách đà la ni, 1 quyển, ở chùa

Phật thụ kí.

[X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9]

LÍ XU (?-?)

Ông sống vào thời Mạt đế (Chu chấn)

nhà Hậu lương, đời Ngũ đại, Trung quốc,

làm quan đến chức Viên ngoại lang bộ Lễ.

Tháng 3 niên hiệu Long đức năm đầu

(921), ông dâng biểu tâu lên vua về điều lệ

LÍ XU

 

L

2780

quản lí tăng ni, gồm có 4 hạng mục:

1. Cấm không được độ tăng ni riêng.

2. Hạn chế sắc ban sư hiệu, tử y cho

chúng tăng.

3. Người muốn xuất gia phải qua cuộc

thi kinh học.

4. Người muốn hoàn tục thì được chấp

nhận vô điều kiện.

Vua Mạt đế chấp nhận lời tâu xin của

ông và ban lệnh cải cách giáo đoàn.

[X. Phật tổ thống kỉ Q.42].

LỊCH

Phương pháp suy tính theo sự vận hành

của các thiên thể mà định ra năm, tháng,

ngày, giờ, gọi là Lịch. Lịch Tàu tính theo

mặt trăng mà định, gọi là Âm lịch; lịch Tây

tính theo vòng trái đất quay quanh mặt trời

mà định, gọi là Dương lịch. Vào khoảng thế

kỉ thứ I trước Tây lịch, người Ấn độ đã dùng

âm lịch.

Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2,

thì ngày trăng tròn gọi là Nguyệt sơ(đầu

tháng). Mỗi tháng từ ngày trăng tròn(15)

đến ngày không trăng(29, nếu là tháng thiếu,

30, nếu là tháng đủ) gọi là Hắc phần(phần

đen, Phạm: Kfwịa-pakwa, tùy theo tháng

thiếu, tháng đủ mà phần đen có 14 ngày, hoặc

15 ngày khác nhau); từ ngày trăng mới nhú

đến ngày trăng tròn, gọi là Bạch phần(phần

trắng, Phạm:Zukla).

Trong 1 năm chia làm 6 mùa:

1. Tiệm nhiệt(nóng dần): Từ ngày 16

tháng giêng đến ngày 15 tháng 3.

2. Thịnh nhiệt(nóng gắt): Từ ngày 16

tháng 3 đến ngày 15 tháng 5.

3. Vũ thời(mùa mưa): Từ ngày 16 tháng

5 đến ngày 15 tháng 7.

4. Mậu thời(mùa cây cỏ mọc tốt): Từ ngày

16 tháng 7 đến ngày 15 tháng 9.

5. Tiệm hàn(lạnh dần): Từ ngày 16 tháng

9 đến ngày 15 tháng 11.

6. Thịnh hàn(rét đậm): Từ ngày 16 tháng

11 đến ngày 15 tháng giêng.

Phật giáo thì trong 1 năm chia làm 3 mùa:

1. Nhiệt thời(mùa nắng): Từ ngày 16

tháng giêng đến ngày 15 tháng 5.

2. Vũ thời(mùa mưa): Từ ngày 16 tháng

5 đến ngày 15 tháng 9.

3. Hàn thời(mùa rét): Từ ngày 16 tháng

9 đến ngày 15 tháng giêng.

Hoặc chia làm 4 mùa: Xuân,Hạ,Thu,

Đông.

Tên của 12 tháng trong 1 năm:

1. Tháng Chế đát la(Phạm:Caitra): Từ

ngày 16 tháng giêng đến ngày 15 tháng 2.

2. Tháng Phệ xá khư(Phạm:Vaizàkha).

3. Tháng Thệ sắt tra (Phạm:Jyewỉha).

4. Tháng Át sa đồ(Phạm:Àwàđha).

5. Tháng Thất la phạt noa (Phạm:

Zravaịa).

6. Tháng Bà la bát đà (Phạm:

Bhàdrapada).

7. Tháng Át thấp phược dữu xà(Phạm:

Azvayuja).

8. Tháng Ca thích để ca (Phạm:

Kàrttika).

9. Tháng Mạt già thủy la (Phạm:

Margazìrwa).

10. Tháng Báo sa (Phạm:Pauwa).

11. Tháng Ma già (Phạm:Màgha).

12. Tháng Phả lặc lũ noa (Phạm:

Phàlguna): Từ ngày 16 tháng 12 đến ngày

15 tháng giêng.

Tại Trung quốc, từ niên hiệu Thái sơ năm

đầu (104 trước Tây lịch) đời Tây Hán đến

cuối đời Thanh, đã có tất cả 46 lần đổi lịch.

Lịch pháp Trung quốc giống với lịch pháp

Ấn độ, đại khái cũng sử dụng Âm lịch, trong

đó, lịch Đại diễn do ngài Nhất hạnh làm ra

được dùng trong khoảng 33 năm bắt đầu từ

năm Khai nguyên 17 (729) đời Đường.

Tại Nhật bản, vào năm Suy cổ thiên

hoàng thứ 10 (602), vị tăng Bách tế(Triều

tiên ngày nay) làngàiQuán lặc truyền lịch

LỊCH

 

L

2781

Nguyên gia đời Lưu Tống, Trung quốc, đến

Nhật bản và bắt đầu được sử dụng vào năm

Suy cổ thiên hoàng 12 (604). Từ năm Thiên

bình bảo tự thứ 7 (763) trở đi, trong khoảng

94 năm, Nhật bản dùng lịch Đại diễn của

Trung quốc. Cho mãi đến niên hiệu Trinh

hưởng năm đầu (1684), 1 người Nhật tên

là Bảo tỉnh Xuân hải làm ra lịch Trinh

hưởng, từ đó Nhật bản mới dùng lịch của

chính mình. Nhưng từ Minh trị Duy tân

năm thứ 5 (1872) cho đến nay thì sử dụng

Dương lịch.

Giữa lịch pháp và các ngày lễ của Phật

giáo có mối quan hệ mật thiết, như các ngày

đức Phật Thíchca giáng sinh, thành đạo,

nhập Niết bàn, v.v… đối với Ấn độ có nhiều

thuyết khác nhau, đó là do sự sai khác về

lịch pháp mà ra. Như ngày kị Tông tổ của

các Tông ở Nhật bản hiện nay không vì

đổi lịch mà có sai khác, đó là vì ngày tháng

của lịch cũ được tính theo ngày tháng tương

đương của lịch mới. Chẳng hạn như ngày

kị của ngài Đạo nguyên tông Tào động là

ngày 28 tháng 8 của lịch cũ(Âm lịch) được

đổi thành ngày 29 tháng 9 của lịch mới

(Dương lịch), nhưng ở nông thôn thì vì lí

do cày cấy, trồng trọt và các lễ hội như hội

Vu lan bồn v.v… vẫn dùng lịch cũ.

Ngoài ra, lựa chọn 1 số định tinh tương

đối sáng tỏ hơn ở gần Hoàng đạo(tức vòng

tròn lớn giao nhau giữa quĩ đạo trái đất quay

quanh mặt trời với thiên cầu)chia làm 28 tổ:

Mão, Tất, Tuy, Sâm, Tỉnh, Quỉ, Liễu (đều

thuộc phương đông), Tinh, Trương, Dực,

Chẩn, Dốc, Cang, Đê (đều thuộc phương

nam), Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ

(đều thuộc phương tây), Hư, Nguy, Thất, Bích,

Khuê, Lâu, Vị(đều thuộc phương bắc), gọi là

Nhị thập bát tú(28 vì sao). Thuyết Nhị thập

bát tú đã thịnh hành ở Ấn độ rất sớm,

nhưng Ấn độ cho rằng sao Ngưu không có

liên quan gì với sự vận hành của mặt trăng,

như luận Thụ để sa trong 6 bộ luận của

ngoại đạo cũng chỉ nêu tên của 27 sao, do

đó có thể biết đời sau ở Ấn độ chỉ lưu hành

thuyết 27 sao là chính. Lại vì tính chất của

27 sao đều khác nhau, cho nên phương

pháp tính lấy các ngày tương đương với 27

sao mà bàn về lành, dữ; hoặc đem ngày

tháng năm sinh của người phối với 27 sao

để đoán vận mệnh tốt, xấu v.v… đều gọi là

phép Chiêm tinh. Hai mươi bảy sao này

được chia làm 7 loại là:

1. An trùng tú: Tất, Dực, Đẩu, Bích.

2. Hòa thiện tú: Tuy, Dốc, Phòng, Khuê.

3. Độc hại tú: Sâm, Liễu, Tâm, Vĩ.

4. Cấp tốc tú: Quỉ, Chẩn, Vị, Lâu.

5. Hung ác tú: Tinh, Trương, Cơ, Thất.

6. Khinh táo tú(Hành tú): Tỉnh, Cang,

Nữ, Hư, Nguy.

7. Cương nhu tú: Mão, Đê.

Tại các nước châu Á từ xưa cũng đã lưu

hành thuyết cho rằng sự vận hành của các

vì tinh tú có liên quan đến ngày sinh của

con người và có thể căn cứ vào đó mà tính

toán để đoán lành dữ, tốt xấu. Trong các

kinh điển Phật như kinh Ma đăng già, kinh

Xá đầu gián thái tử nhị thập bát tú, kinh

Phật mẫu đại khổng tước minh vương, kinh

Tú diệu v.v… cũng có những thuyết này.

Tại Nhật bản, lấy ngày đầu năm theo

lịch cũ là Tiên thắng, kế đó là Hữu dẫn,

Tiên phụ, Phật diệt, Đại an và Xích khẩu,

theo thứ tự thay nhau để biểu thị sự tốt, xấu

trong các ngày đó, gọi là Lục diệu nhật, phong

tục này bắt nguồn từ Trung quốc. Những

tên gọi của các ngày nói trên bắt đầu xuất

hiện từ thời đại Giang hộ, nhưng về nguyên

do tại sao đặt các tên như thế thì không

được rõ.

LỊCH DUYÊN ĐỐI CẢNH TU

Cũng gọi: Lịch duyên đối cảnh tu chỉ quán.

Một trong những phương pháp tu tập

Chỉ quán.

LỊCH DUYÊN ĐỐI CẢNH TU

 

L

2782

Duyên, chỉ cho 6 duyên: Đi, đứng, ngồi,

nằm, làm việc, nói năng; Cảnh, chỉ cho 6

trần cảnh (6 đối tượng): Sắc, thanh, hương,

vị, xúc, pháp. Nghĩa là trong tất cả sinh

hoạt hàng ngày, khi đối trước các trần cảnh,

hành giả phải thường xuyên tu tập Chỉ quán

(định và tuệ)thì mới có thể thông đạt được

Phật pháp.

Ma ha chỉ quán quyển 7 (Đại 46, 101

hạ), nói: “Nếu quán hạnh sáng tỏ thì có thể

lịch duyên đối cảnh và đối với cảnh nào cũng

được tự tại”.

[X. Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu;

Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.2

phần 2].

LỊCH ĐẠI PHÁP BẢO KÍ

Cũng gọi Sư tư huyết mạch truyện, Định

thị phi tồi tà hiển chính phá hoại nhất thiết

tâm truyện, Tối thượng thừa đốn ngộ pháp

môn.

Tác phẩm, 1 quyển, được soạn vào đời

Đường, không rõ soạn giả, thu vào Đại chính

tạng tập 51.

Nội dung sách này ghi chép sự tích và sự

truyền thừa từ đức Thích ca đến 28 vị Tổ sư

Ấn độ, 6 Tổ Trung hoa và các Thiền sư Trí

tiển, Xử tịch, Vô tướng, Vô trụ cùng Thiền

phái Bảo đường. Cuối sách có phụ thêm 1

bài chân tán và lời tựa do môn nhân của

Hòa thượng chùa Bảo đường viết.

Sách này được tìm thấy ở Đôn hoàng.

Hiện nay, Bảo tàng viện nước Anh và Thư

viện Quốc dân nước Pháp, mỗi nơi đều cất

giữ 1 bản chép tay.

[X. Minh sa dư vận giải thuyết].

LỊCH ĐẠI TAM BẢO KỈ

Cũng gọi Khai hoàng Tam bảo lục, Khai

hoàng lục, Tam bảo lục, Trường phòng lục,

Phòng lục.

Tác phẩm, 15 quyển, do ông Phí trường

phòng soạn vào năm Khai hoàng 17 (597),

đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 49.

Nội dung sách này ghi chép về việc hoằng

pháp từ sau khi Phật giáo được truyền vào

Trung quốc cho đến đời Tùy và mục lục

những kinh phiên dịch, các sáng tác và soạn

thuật. Ngoài ra còn có phụ thêm các truyện

kí trong nhà Phật.

Toàn sách chia làm 4 phần:

1. Ba quyển đầu là nói về các Đế vương,

gồm niên kỉ các triều đại từ nhà Chu đến

nhà Tùy và các việc trọng đại trong lịch sử

Phật giáo, như suy định năm đản sinh của

đức Phật là năm Chu trang vương thứ 10

(689 trước Tây lịch).

2. Chín quyển kế tiếp là nói về sử biên

niên các thời đại dịch kinh, gồm có: Quyển

4 ghi chép về đời Hậu Hán, quyển 5 ghi

chép về đời Ngụy Ngô, quyển 6 ghi chép về

đời Tây Tấn, quyển 7 ghi chép về đời Đông

Tấn, quyển 8 ghi chép các đời Tiền Tần và

Hậu Tần, quyển 9 ghi chép về các đời Tây

Tần, Bắc Lương, Ngụy, Tề, Trần, quyển 10

ghi chép về đời Tống, quyển 11 ghi chép các

đời Tề, Lương, Chu, quyển 12 ghi chép về

đời Tùy. Đầu mỗi quyển có lời tựa, kế đến

liệt kê mục lục các kinh và theo thứ tự phụ

thêm lược truyện của người dịch.

3. Quyển 13 và quyển 14 lần lượt ghi

LỊCH ĐẠI TAM BẢO KỈ

Lịch Đại Pháp Bảo Kí

 

L

2783

chép mục lục của các kinh điển Đại thừa,

Tiểu thừa được đưa vào Tạng, tất cả có 1.076

bộ, 3.325 quyển.

4. Quyển 15 gồm biểu dâng bộ Khai

hoàng Tam bảo lục này lên vua và tổng mục

lục của toàn sách.

Xuất tam tạng kí tập do ngài Tăng hựu

soạn vào đời Lương ghi chép tường tận về

các kinh được dịch ở thời Nam Triều, còn

sách này thì ghi chép tỉ mỉ về các kinh được

dịch vào thời Bắc Triều, đây là một đặc sắc

của sách này, cũng là tư liệu quan trọng cho

việc nghiên cứu Phật giáo đời Tùy. Một điểm

đặc biệt nữa của sách này là về niên đại thì

coi trọng Tề, Lương thuộc Nam Bắc triều,

mà xem nhẹ Bắc Ngụy. Thứ tự biên niên là:

Tấn, Tống, Tề, Lương, Chu, Tùy. Thể lệ này

khác với các sử gia thời Tư trị thông giám

trở về trước, nhưng phản ánh được tâm lí

chung của người đời Tùy. Cho nên, về

phương diện lịch sử, sách này còn phải cần

rất nhiều tư liệu để bổ túc.

Ngoài ra, về mặt tư liệu, sách này có một

số trích dẫn lầm lẫn. Vả lại, đối với chuẩn

tắc biên soạn Nhập tạng lục, Đại tiểu thừa

kinh lục, v.v… thỉnh thoảng cũng có sự thiên

lệch, sai sót, vì thế mà bị Đại đường nội điển

lục quyển 5 chê là “vàng thau lẫn lộn”, rồi

Khai nguyên thích giáo lục quyển 10 cũng

phê bình là “sự thật bị lẫn lộn”. Hơn nữa,

sách này còn đưa quá phân nửa trong số

hơn 1.000 bộ kinh điển mất tên người dịch

được ghi trong 2 bộ kinh lục lớn trước đó, là

Tông lí chúng kinh mục lục do ngài Đạo an

biên soạn vào đời Phù Tần và Xuất tam tạng

kí tập do ngài Tăng hựu biên soạn vào đời

Lương, gán cho các nhà dịch kinh thời cổ

như An thế cao, v.v… Vì việc làm này thiếu

chứng cứ và trái với thường tình nên đã bị

các học giả hiện đại như Tiểu dã Huyền diệu

của Nhật bản, v.v… chê trách nặng nề.

[X. truyện Đạt ma cấp đa trong Tục cao

tăng truyện Q.2; Đại tạng thánh giáo pháp

bảo tiêu mục Q.9; Tùy thư kinh tịch chí 29;

Đường thư văn nghệ chí 49; Phật thư giải

thuyết đại từ điển Phật điển tổng luận bộ 2

chương 2 (Tiểu dã Huyền diệu)]. (xt. Thất

Dịch Kinh Điển).

LỊCH KIẾP

Cũng gọi Kinh kiếp, Cửu viễn.

Trải qua nhiều kiếp, hình dung thời gian

lâu xa, dài dặc.

Kiếp, là dịch âm của chữ Kalpatrong

tiếng Phạm. Về phương diện thời gian, vũ

trụ này trải qua 1 lần thành trụ hoại không

gọi là 1 kiếp, cho nên sự thành hoại liên tục

của vũ trụ vô cùng gọi là Lịch kiếp.

Phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa quyển 7

(Đại 9, 57 hạ), nói: “Thệ rộng sâu như biển,

lịch kiếp chẳng nghĩ bàn; hầu nhiều nghìn

ức Phật, phát đại nguyện thanh tịnh”.

Trong câu “Lịch kiếp chẳng nghĩ bàn”

nghĩa là trải qua vô lượng vô số kiếp không

thể tưởng tượng được. Trong các kinh còn

có những dụng ngữ như: Lịch kiếp tu hành,

lịch kiếp vu huýnh(trải nhiều kiếp xa lắc),

lịch kiếp tật thành.

Ngoài ra, sự chân thật tuyệt đối bất biến,

bất sinh bất diệt, gọi là Lịch kiếp vô hà(trải

qua nhiều số kiếp không lỗi lầm, không tì vết).

[X. kinh Đại vô lượng thọ Q.thượng;

phẩm Thập công đức kinh Vô lượng nghĩa;

Phật sở hành tán Q.3; Ngu thốc sao

Q.thượng; luận Thủ hộ quốc gia; Thập pháp

giới minh nhân quả sao].

LỊCH KIẾP VU HUÝNH

Pháp môn của Tiệm giáo. Nghĩa là trải

qua 3 a tăng kì, 100 đại kiếp tu hành mới

thành Phật, nên gọi là Lịch kiếp vu huýnh

(trải qua nhiều kiếp lâu xa dằng dặc). Trái lại

với pháp môn Đốn giáo, thành Phật chỉ

trong một niệm.

LỊCH KIẾP VU HUÝNH

 

L

2784

LỊCH NHIÊN

Phân biệt rõ ràng.

Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển

1 (Đại 35, 119 thượng), nói: “Hết thảy giáo

pháp hiển thể chân như, không ngại sự

tướng, lịch nhiên sai biệt”.

[X. Triệu luận].

LIÊM ĐIỀN MẬU HÙNG (1927- )

Học giả Phật giáo Nhật bản, người thành

phố Liêm thương.

Năm 1955, ông chuyên nghiên cứu Triết

học Ấn độ tại trường Đại học Đông kinh

(Tokyo). Năm 1972, ông giữ chức giáo sư

của Sở nghiên cứu Văn hóa Đông dương

thuộc trường Đại học Đông kinh. Ông từng

trình bày về ảnh hưởng của tư tưởng Phật

giáo đối với giáo lí của Đạo giáo, về Hoa

nghiêm và Đạo giáo, về sự phát triển của

Phật giáo Trung quốc và sự hình thành phạm

vi Phật giáo Đông á, v.v…

Ông có các tác phẩm: Trung quốc Hoa

nghiêm tư tưởng sử chi nghiên cứu, Trung

quốc Phật giáo tư tưởng sử nghiên cứu, Vô

hạn chi thế giới quan, Nguyên nhân luận,

Tông mật giáo học chi tư tưởng sử nghiên

cứu, Trung quốc Hoa nghiêm tư tưởng sử,

Trung quốc Phật giáo sử, Trung quốc Phật

giáo sử từ điển.

LIÊM THƯƠNG ĐẠI PHẬT

Tượng Phật A di đà ngồi, xưa nhất, ở

viện Cao đức, Trường cốc, Liêm thương,

Nhật bản.

Pho tượng Phật to lớn này đã được đúc

lại nhiều lần, ban đầu là tượng bằng gỗ cao

hơn 8 trượng(khoảng 25 mét), bị trận cuồng

phong làm hư hại, nên được đúc lại bằng

đồng cao 8 trượng(khoảng hơn 23 mét), đầy

đủ tướng hảo, kĩ thuật đúc tượng tinh xảo,

nổi bật những nét khác lạ của thời đại Liêm

thương, có thể nói xứng đáng là một tác

phẩm nghệ thuật hiếm có.

N ă m

1495, điện

Đại Phật bị

1 đợt sóng

lớn đánh

mạnh vào

cuốn trôi đi

mất, từ đó

đến nay chỉ

còn tượng

Đại Phật lộ

thiên.

LIỄM CHUNG

…..

Thu chuông.

Điều Niệm tụng trong Thiền uyển thanh

qui quyển 2 (Vạn tục 111, 443 hạ): “Đánh

chuông triệu tập chúng tăng (…) từ vị Tri sự

trở xuống đứng ở trên, từ vị Thủ tọa trở

xuống đứng ở dưới, vị Duy na thu chuông

(liễm chung)rồi tụng niệm”.

LIỄM Y

Đối lại với Đề y.

Xếp áo ca sa lại.

Trong Thiền lâm, khi vị Trụ trì làm lễ

nhập tự, đắp áo ca sa do vị tổ khai sơn truyền

lại, gọi là Đề y. Nếu thu hồi và xếp ca sa lại

thì gọi là Liễm y.

Như tịnh lục quyển thượng (Đại 48, 121

hạ), nói: “Liễm y tựu tòa”(xếp ca sa rồi lại

đến chỗ ngồi).

LIÊN BANG

… ..

Cũng gọi Liên sát, Cực lạc thế giới.

Chỉ cho cõi Tịnh độ ở phương Tây. Vì

LIÊN BANG

Tượng Đại Phật ở Liêm Thương

 

L

2785

chúng sinh ở cõi ấy từ trong hoa sen hóa

sinh ra, cho nên gọi là Liên bang (nước

hoa sen).

A di đà kinh sớ sao quyển 2 của ngài

Vân thê Châu hoành (Vạn tục 33, 203 hạ),

nói: “Hoa sen là cung điện huyền diệu trong

đó đã trút bỏ xác phàm, nơi an dưỡng của

tuệ mệnh, là cõi nước dành cho người vãng

sinh, gọi là Liên bang”.

LIÊN BÁT

Đối lại với Hiên bát.

Phép khất thực vừa đi vừa đọc kinh.

(xt. Hiên Bát).

LIÊN ĐÀI

… ..

Cũng gọi Liên hoa đài, Hoa đài, Liên hoa

tòa, Hoa tòa.

Chỉ cho tòa ngồi bằng hoa sen của đức

Phật, Bồ tát, hoặc chỉ riêng tòa sen của Phật

A di đà. Bởi vì đặc tính của hoa sen là mọc

trong bùn nhơ mà không nhiễm mùi bùn.

Cho nên, tòa sen của Phật, Bồ tát biểu thị

ý nghĩa các Ngài ở trong cõi nước ô uế mà

xa lìa trần cấu, được thanh tịnh, thần lực

tự tại.

Theo luận Đại trí độ quyển 8, đức Phật

và Bồ tát không ngồi trên giường mà ngồi

trên hoa sen là vì những lí do sau đây:

1. Vì giường là chỗ ngồi của người bạch

y(người thế tục).

2. Phật và Bồ tát muốn thị hiện thần

lực, ngồi trên hoa sen mềm mại thơm sạch

mà không tổn hại đến hoa.

3. Để trang nghiêm tòa diệu pháp.

4. Các hoa khác đều nhỏ, riêng hoa này

to lớn, có mùi thơm thanh khiết.

Luận đã dẫn còn cho rằng các loại hoa

sen có lớn nhỏ khác nhau, như hoa sen ở

cõi người thì to không quá 1 thước, còn hoa

sen ở ao Mạn đà cát ni và ao A na bà đạt đa

thì to bằng cái bánh xe và cái lọng; nhưng

hoa sen báu trên cõi trời thì to hơn nhiều,

có thể ngồi kết già trên đó.

Tuy nhiên, so với các loại

hoa sen nói trên, thì tòa

sen của đức Phật còn trang

nghiêm thanh tịnh và to

lớn hơn gấp trăm nghìn

vạn ức lần.

[X. Vãng sinh yếu tập Q.thượng]. (xt. Lai

Nghinh).

LIÊN ĐĂNG HỘI YẾU

………..

Cũng gọi Thiền tông liên đăng lục.

Tác phẩm, 30 quyển, do ngài Hối ông

Ngộ minh soạn vào đời Nam Tống, được

thu vào Vạn tục tạng tập 136.

Nội dung sách này nói về 7 đức Phật

quá khứ, pháp hệ truyền thừa của Ngũ gia

Thiền tông cho đến dòng phái của ngài

Thiên đồng Chính giác, đồng thời, theo thứ

tự thu chép những cơ duyên vấn đáp quan

trọng của các tông.

Sách này được soạn vào năm Thuần hi

thứ 10 (1183) đời vua Hiếu tông nhà Nam

Tống, đầu quyển có bài tựa của Đạm tề Lí

vịnh viết vào năm Thuần hi 16 (1189), bài

tựa cho lần in lại của Tư trung soạn vào

năm Chí nguyên 28 (1291) đời Nguyên và

bài tựa của soạn giả viết vào năm Thuần hi

thứ 10 (1183).

Về niên đại soạn thuật sách này, còn có

nhiều thuyết khác nhau: Phật tổ lịch đại thông

tải quyển 32 cho rằng sách này được soạn vào

năm Gia định 13 (1220) đời vua Ninh tông;

Thích thị kê cổ lược thì nói nó được soạn

vào năm Gia định thứ 10 (1227), v.v…Nhưng

cả 2 thuyết này đều không chính xác.

[X. Bài tựa trong Ngũ đăng hội nguyên

(bản khắc lại); truyện Ngộ minh trong Tục

truyền đăng lục Q.35; Thiền tịch chí

Q.thượng].

LIÊN ĐĂNG HỘI YẾU

Đài Sen

 

L

2786

LIÊN HOA

Tên khoa học: Nelumbo nucifera.

Hoa sen, thực vật thuộc loại túc căn thảo

(loại cỏ nảy mầm từ củ của năm trước) mọc ở

các đầm lầy hoặc ao hồ, mùi hoa thơm,

thường nở vào mùa hạ, màu sắc rất đẹp. Tuy

sinh trong bùn nhơ nhưng hoa rất thanh

khiết. Từ ngàn xưa, người Ấn độ rất quý

hoa này.

Cứ theo Sử thi Ma ha bà la đa (Phạm:

Mahàbhàrata) của Ấn độ, khi trời đất mới

mở, thì ngay rốn của Tì thấp nô (Phạm:

Viwịu) mọc lên 1 hoa sen, giữa hoa có Phạm

thiên ngồi kết già(xếp bằng), sáng tạo ra muôn

vật. Tì thấp nô và vị thần phối ngẫu của

mình đều dùng hoa sen làm biểu tượng; hoặc

có thuyết cho hoa sen là 1 trong 7 thứ báu

của trời Đa văn (Phạm: Kubera). Phật giáo

cũng quí hoa sen, như Phật và Bồ tát phần

nhiều dùng hoa sen làm tòa.

Cứ theo luận Nhập Đại thừa quyển hạ,

thì Bồ tát Thập địa sinh ở cung trời Ma hê

thủ la ngồi trên tòa Bảo liên hoa vương mà

thành Phật.

Kinh Quán vô lượng thọ thì chép, đức

Phật A di đà, các bồ tát Quan âm và Thế chí

đều ngồi trên tòa hoa sen báu; chúng sinh

nào được sinh về Tịnh độ phương Tây, khi

lâm chung, đức Phật A di đà và các Bồ tát

cầm đài sen đến đón.

Tại Ấn độ, hoa sen được chia làm hai

loại chính:

1. Hoa bát đầu ma (Phạm, Pàli:

Padma), cũng gọi Bát đàm ma hoa, Bát

đặc ma hoa, Bát nỗ ma hoa, Ba đàm hoa,

Ba mộ hoa.

Tên khoa học: Nymphaea alba. Tức hoa

sen đỏ(Hồng liên hoa).

2. Hoa ưu bát la (Phạm:Utpala,Pàli:

Uppala), cũng gọi Ưu bát hoa, Ô đát bát la

hoa, Ưu bạt la hoa. Tên khoa học:

Nymphaea tetragona. Tức hoa sen xanh

(Thanh liên hoa).

Cứ theo Nhiếp đại thừa luận thích

quyển 15 (bản dịch đời Lương), thì hoa

sen có 4 đặc tính là: Thơm, sạch, mềm

mại, dễ thương, được dùng để ví dụ 4 đức:

Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của pháp giới

chân như. Trong Mật giáo, hoa sen được

dụ cho trái tim(nhục đoàntâm) của con

người, để biểu thị ý nghĩa chúng sinh vốn

có tâm trong sạch như hoa sen, tức là tịnh

Bồ đề tâm.

[X. kinh Trung a hàm Q.23; kinh Hoa

thủ Q.1; kinh Đại nhật Q.5; luận Đại trí độ

Q.9; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.7 phần

cuối; Đại nhật kinh sớ Q.5; Tông kính lục

Q.28; Phật giáo mĩ thuật nghiên cứu; Mạn

đồ la chi nghiên cứu; The Buddhism of Tibet

(L.A Waddell)]. (xt. Thí Dụ).

LIÊN HOA BỘ

Gọi tắt: Liên bộ.

Cũng gọi: Quan âm bộ, Pháp bộ.

Là 1 trong 3 bộ Thai tạng giới và 1 trong

5 bộ Kim cương giới của Mật giáo. Bộ này

biểu thị lí nghĩa tâm bồ đề thanh tịnh sẵn

có của chúng sinh, cũng biểu thị Tam muội

đại bi của Như lai. Bởi vì chúng sinh tuy bị

lưu chuyển trong bùn lầy sinh tử nhưng tâm

bồ đề thanh tịnh sẵn có vẫn không nhiễm

ô, cũng như hoa sen tuy mọc giữa bùn nhơ

nhưng không hôi tanh mùi bùn, cho nên

gọi là Liên hoa bộ.

Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 632

thượng), nói: “Tam muội đại bi của Như lai

có năng lực nhuần thấm muôn gốc lành,

cho nên gọi là Liên hoa bộ”.

Ngoài ra, Liên hoa bộ cũng chỉ cho viện

Quan âm ở lớp thứ 2 bên phải trong Mạn

đồ la Thai tạng giới. Các vị tôn của viện

Quan âm và viện Địa tạng đều thuộc bộ

này. Vì Mã đầu Quan âm là chủ bộ và Bạch

LIÊN HOA BỘ

 

L

2787

y Quan âm là bộ mẫu, cho nên Liên hoa bộ

cũng được gọi là viện Quan âm.

Ngoài ra, Liên hoa bộ của Mạn đồ la Kim

cương giới lấy đức A di đà ở phương Tây

làm chủ bộ, bồ tát Pháp ba la mật làm bộ

mẫu, 4 vị Bồ tát thân cận là Pháp, Lợi, Nhân,

Ngữ và bồ tát Kim cương tỏa trong 4 Nhiếp

bồ tát, v.v… đều thuộc bộ này. Chư tôn của

bộ này chủ về đức thuyết pháp của trí Diệu

quán sát, vì thế, bộ Liên hoa còn được gọi là

Pháp bộ. Lại nữa, quả vị và nhân vị của Phật

A di đà và bồ tát Quan âm tuy khác nhau,

nhưng đức của các Ngài thì giống nhau.

Chủng tử của bộ này, ở 3 bộ Thai tạng giới

là (sa), ở 5 bộ Kim cương giớilà (hrì#),

hình Tam muội da là hoa sen.

[X. kinh Kim cương đính du già trung

lược xuất niệm tụng Q.1; kinh Tô tất địa

yết la Q.thượng; Lưỡng bộ mạn đồ la nghĩa

kí Q.2].

LIÊN HOA DIÊN KINH

Kinh, 2 quyển, do ngài Na liên đề da xá

(490-589) dịch vào đời Tùy, được thu vào

Đại chính tạng tập 12.

Nội dung kinh này ghi lại những lời dự

đoán của đức Phật về việc sau khi Ngài nhập

diệt, tăng đồ Phật giáo sẽ đọa lạc, Phật pháp

sẽ di chuyển vào nước Kế tân và hưng thịnh

ở nước ấy. Về sau, lại có ông vua phá Phật

xuất hiện và hủy diệt Phật giáo.

Tên kinh Liên hoa diện là tên đời trước

của ông vua phá Phật(giáo đồ Phú lan na).

Điều đáng chú ý là tư tưởng mạt pháp đã

được lưu hành ở Trung quốc ở khoảng thời

Nam Bắc triều đến đời Tùy, mà kinh Liên

hoa diện được dịch vào năm Khai hoàng

thứ 4 (585) đời Tùy, cùng với kinh Đại tập

nguyệt tạng (cũng do ngài Na liên đề da xá

dịch) nên đã có ảnh hưởng rất lớn đối với

lòng người đương thời.

[X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.12, Cổ kim

dịch kinh đồ kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo

lục Q.7; Trinh nguyên tân định thích giáo

mục lục Q.10; Đại đường nội điển lục Q.5].

LIÊN HOA GIỚI (?-?)

Phạm: Kammalazìla.

Danh tăng Ấn độ thuộc phái Trung quán,

sống vào khoảng thế kỉ thứ VIII, là đệ tử

của ngài Tịch hộ (Phạm:Sànta-rakwita).

Sư từng là giáo thụ Đát đặc la ở chùa

Na lan đà tại Trung Ấn độ. Sau, nhận lời

mời của vua Khất lật song đề tán (Tạng:

Khri-sroí lde-btsan, 742-797), sư đến

nước Tây tạng. Ở đây, sư đã từng cùng với

Hòa thượng Đại thừa (Mahàyàna Hvozaí),

người Trung quốc, tranh luận tại cung

đình, sau Hòa thượng Đại thừa bị thua,

phải rời khỏi Tây tạng. Cuộc tranh luận

này được mệnh danh là “Lạp tát luận tranh”

(Tranh luận ở cung Lha-sa)rất nổi tiếng trong

lịch sử Phật giáo Tây tạng. Từ đó, hệ thống

các phái Phật giáo Trung quốc bị suy tàn,

tư tưởng Trung quán thịnh hành và đặt

nền tảng cho Phật giáo Tây tạng sau này.

Ảnh hưởng của tư tưởng Trung quán được

biểu hiện rõ rệt nhất trong luận “Bồ đề

đạo thứ đệ” của ngài Tông khách ba – Tổ

khai sáng của phái Hoàng giáo.

Sư có các tác phẩm: Bát nhã ba la mật

đa thất bách tụng quảng chú, Kim cương

bát nhã quảng chú, Nhất thiết pháp vô tự

tính thành tựu, Tu tập thứ đệ (3 thiên),

Chính lí trích tiền phẩm nhiếp.

[X. History of Buddhism by Bu-ston,

1931, 1932 (E. Obermiller); Indian Pandits

in Tibet (S.C.Das); Tibetan Buddhistology,

1953 (S.Yoshimura)].

LIÊN HOA NGŨ CỔ ẤN

Cũng gọi Liên hoa chử ấn, Nhị trùng

ngũ cổ ấn, Ngũ cổ trùng chử ấn, Bổ đà lạc

LIÊN HOA NGŨ CỔ ẤN

 

L

2788

sơn ấn, Bổ đà lạc sơn cửu phong ấn, Cửu

phẩm tịnh độ ấn.

Chỉ cho ấn Năm chĩa của Liên hoa bộ

trong 5 bộ Kim cương giới Mật giáo.

Theo Liên hoa bộ niệm tụng pháp thì

ấn này là ấn “Bộ tâm căn bản”. Ấn tướng là

2 tay chắp lại kiểu hoa sen, đầu 2 ngón trỏ

và 2 ngón áp út giao nhau, 2 ngón cái và 2

ngón út mở ra và dựng đứng.

Trong Thiên thủ quĩ, ấn này được gọi là

“Thiên thủ căn bản ấn”, ấn mẫu là Kim

cương hợp chưởng, lòng bàn tay để rỗng, 2

ngón giữa mở ra và dựng đứng như hình

cánh sen, cùng với 2 ngón cái và 2 ngón út

hợp làm 5 chĩa, 2 ngón trỏ và 2 ngón vô

danh cũng thành 4 chĩa, vì thế gọi là Nhị

trùng ngũ cổ ấn(ấn 5 chĩa 2 lớp), cũng gọi

Ngũ cổ trùng chử ấn. Lại vì Nhị trùng ngũ

cổ là biểu trưng Ngũ Phật của Kim cương

bộ và Thai tạng bộ, mà Ngũ Phật là căn bản

của các tôn vị, cho nên ấn này là ấn chung

cho chư tôn của cả 2 bộ. Ngoài ra, 2 ngón

giữa dựng đứng và hợp nhau là biểu thị ý

nghĩa Lí và Trí Đại nhật của 2 bộ thầm hợp

nhau. Lại 2 ngón giữa và 8 ngón kia tạo thành

hình 9 ngọn núi, nên gọi là Cửu phong ấn,

Bổ đà lạc sơn ấn. Cửu phong cũng tượng

trưng cho Cửu phẩm Tịnh độ.

[X. kinh Ô xu sắt ma minh vương Q.hạ].

LIÊN HOA QUYỀN

Cũng gọi Thai tạng quyền, Thai quyền,

Như lai quyền.

Ấn tướng thường được thấy trong Mạn

đà la Thai tạng giới, 1 trong 6 loại Quyền ấn

của Mật giáo.

Cách thức kết ấn này là bàn tay nắm lại

thành nắm tay, nhưng ngón cái dựng thẳng

bên ngoài, cạnh ngón trỏ, biểu thị cho pháp

tính của 5 đại.

[X. Đại nhật kinh sớ Q.13]. (xt. Lục

Chủng Quyền Ấn).

LIÊN HOA SẮC

Phạm:Utpalavarịà.

Pàli:Uppalavaịịà.

Cũng gọi Thanh liên hoa ni, Liên hoa

sắc ni, Liên hoa sắc nữ, Liên hoa dâm nữ,

Liên hoa nữ, Ôn la bật sô ni, Liên hoa tiên,

Chuyên hoa sắc, Hoa sắc, Ưu bát la hoa sắc,

Ưu bát hoa sắc.

Vị tỉ khưu ni được khen ngợi là đệ nhất

thần túc trong hàng ngũ tỉ khưu ni đệ tử

của đức Phật.

Trước khi xuất gia, Liên hoa sắc vốn

là người ở thành Vương xá, có chồng là

ngườinước Uất thiền, sinh được 1 con

gái. Vì biết được chồng tư thông với mẹ,

nên nàng bỏ nhà đến thành Ba la nại, lấy

chồng khác là 1 Trưởng giả. Về sau,

Trưởng giả đến nước Uất thiền buôn bán,

lấy 1 thiếu nữ mang về thành Ba la nại,

sau đó mới biết thiếu nữ ấy chính là con

gái của nàng. Liên hoa sắc thâm cảm số

phận bi đát của mình, trước kia chung

chồng với mẹ, bây giờ lại chung chồng với

con; nàng vô cùng đau khổ, chán ngán

cuộc đời, tự vứt bỏ mình bằng cách đến

thành Tì xá li làm nghề bán dâm. Một

ngày kia, được nghe tôn giả Mục kiền kiên

nói pháp, Liên hoa sắc cảm thấy sung

sướng, bèn qui kính đức Phật, rồi cầu xin

tỉ khưu ni Ma ha ba xà ba đề xuất gia và

được chấp nhận. Về sau bà chứng quả A

la hán, được 6 thần thông.

Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 23 và

kinh Tăng nhất a hàm quyển 28, đức Phật

lên cung trời Đao lợi thuyết pháp cho mẫu

hậu nghe, khi trở lại nhân gian, Liên hoa

sắc đã hóa làm thân Chuyển luân Thánh

vương để đón rước đức Phật. Sau đó, Liên

hoa sắc hiện nguyên hình đính lễ Ngài. Đến

khi Đề bà đạt đa phản nghịch muốn làm

hại đức Phật, Liên hoa sắc liền trách mắng,

LIÊN HOA SẮC

 

L

2789

nên bị Đề bà đạt đa nổi giận, đánh vào

đầu mà chết.

[X. kinh Tạp a hàm Q.45; kinh Tăng nhất

a hàm Q.3,4; kinh Tì ni mẫu Q.5; kinh Nghĩa

túc Q.hạ; kinh Biệt dịch tạp a hàm Q.12;

kinh A la hán cụ đức; kinh Đại bảo tích

Q.1; luật Tứ phần Q.6,12; Hữu bộ tì nại da

Q.10, 30; Tát bà đa bộ luật nhiếp Q.14; luận

Đại trí độ Q.13, 14; Đại đường tây vực kí

Q.4; The Life of The Buddha (W.W.

Rockhill)].

LIÊN HOA SINH (?-?)

Phạm: Padma-saôbhava, Gurupadma,

Urgyan-padma.

Tạng: Padma-#byuí-gnas, Rin-poche.

Hán âm: Ba đặc mã tát mộc ba ngõa.

Tổ khai sáng của phái Hồng giáo Tây

tạng, sống vào khoảng thế kỉ VIII, người nước

Ô trượng na, Bắc Ấn độ (thuộc Pakistan

ngày nay).

Ban đầu sư trụ ở chùa Na lan đà, học

thông kinh điển Đại Tiểu thừa. Sư bẩm tính

cẩn trọng, khéo dùng các phương tiện trong

việc giáo hóa.

Năm 747, nhận lời thỉnh của vua

Khất lật song đề tán (Tạng: Khri-sroí

lde btsan, 742-797), sư cùng với các

ngài Tịch hộ (Phạm: Zànta-rakwita) và

Liên hoa giới (Phạm: Kamalasìla) cùng

đến Tây tạng. Vua Tây tạng liền xây

chùa Tang da (Tạng: Samyas) ở phía

đông nam thủ đô Lạp tát (Lha-sa) để các

ngài ở.

Sư truyền bá pháp môn Du già bí mật

ở Tây tạng, phiên dịch kinh chú, đồng thời

thị hiện các kì tích thần bí để thu phục sự

qui hướng của người Tây tạng. Pháp môn

Du già bí mật là pháp quán đạt đến Thiền

định Đại hỉ lạc. Sư là người đầu tiên truyền

Mật giáo vào Tây tạng. Sư có 25 đệ tử

chuyên việc phiên dịch kinh điển Phật từ

Phạm, Hán sang tiếng Tây tạng, biên tập

thành Đại tạng kinh Cam châu nhĩ của

Tây tạng.

Sư có các tác phẩm: Ngũ chủng tam

ma da, Thánh kim cương thủ thanh y

thành tựu pháp ưu ba đề xá quảng thích

chú, Kim cương tồi phá đà la ni thích

kim cương đăng, Cát tường thế gian tôn

không hành thành tựu pháp, Bí mật thư

trạng.

[X. luận Chương sở tri Q.thượng; The

Buddhism of Tibet (L.A. Waddell)].

LIÊN HOA TAM DỤ

Cũng gọi Tích bản tam dụ.

Ba ví dụ về hoa sen nhằm nói rõ ý chỉ

“Khai hiển” trong kinh Pháp hoa theo thuyết

của tông Thiên thai.

Vì muốn trình bày rõ ý chỉ “Khai hiển”

của kinh Pháp hoa, nên tông Thiên thai căn

cứ vào “Liên Hoa” trong đề kinh, đối với

Bản môn và Tích môn, mà thành lập mỗi

môn 3 dụ.

I. Ba dụ của Tích môn.

1. Vị liên cố hoa(Vì hạt mà có hoa):

Ví dụ vì thực(chân thực) mà lập quyền

(tạm thời), dùng “liên” ví dụ cho thực, dùng

“hoa” ví dụ cho quyền. Nghĩa là để hiển

LIÊN HOA TAM DỤ

Liên Hoa Sinh

 

L

2790

bày nghĩa chân thực của Nhất thừa nên

đức Phật mới tạm thời lập ra quyền giáo

(giáo pháp phương tiện). Tức là đức Phật

dùng sức phương tiện thị hiện nhiều pháp

môn, chứ kì thực chỉ muốn chúng sinh

qua các giáo pháp phương tiện ấy mà biết

rõ đệ nhất tịch diệt của Nhất Phật thừa

mà thôi.

2. Hoa khai liên hiện(Hoa nở hạt bày):

Ví dụ khai quyền để hiển thực, dùng “hoa

khai” ví dụ khai quyền (mở ra giáo pháp

phương tiện tạm thời), dùng “liên hiện” ví

dụ hiển thực(hiển bày giáo pháp Nhất thừa

chân thực). Nghĩa là trên hội Pháp hoa, đức

Như lai đã khai quyền phương tiện Tam

thừa(Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát)để hiển

bày thực nghĩa Nhất thừa(một Phật thừa),

tức là mở cửa phương tiện để hiển tướng

chân thực.

3. Hoa lạc liên thành (Hoa rụng hạt

thành): Ví dụ việc bỏ quyền lập thực, dùng

“hoa lạc” ví dụ phế bỏ quyền, dùng “liên

thành” ví dụ thiết lập thực. Nghĩa là khi

thực giáo Nhất thừa đã hiển bày, thì quyền

giáo Tam thừa tự phế bỏ, tức là bỏ ngay

phương tiện, chỉ nói đạo Vô thượng. Ba ví

dụ trên là ý trong 14 phẩm đầu của kinh

Pháp hoa.

II. Ba dụ của Bản môn.

1. Vị liên cố hoa(Vì hạt có hoa): Ví

dụ từ Bản mà thùy Tích, dùng “liên” ví

dụ Bản(bản địa của đức Phật), dùng “hoa”

ví dụ Tích(Hóa thân của đức Phật). Từ

Bản thùy tích nghĩa là dùng Bản xét định

Tích, tức là xét sự hóa hiện 8 tướng

(thành đạo)của Tích môn để hiển bày Bản

địa đã thành từ lâu xa. Nghĩa là Như lai

đã thành Phật từ lâu xa lắm rồi, nhưng

muốn giáo hóa chúng sinh mà thị hiện

hóa tích(Tích)thiếu niên xuất gia, thành

Đẳng chánh giác.

2. Hoa khai liên hiện(Hoa nở hạt bày):

Ví dụ khai Tích hiển Bản, dùng “hoa khai”

ví dụ khai Tích, dùng “liên hiện” ví dụ

hiển Bản. Nghĩa là trừ bỏ cái tình chấp

của chúng sinh cho rằng Như lai mới

thành Phật ở Bồ đề đạo tràng gần đây,

chứ không biết rằng đó chỉ là Hóa thân

Phật thị hiện thùy Tích để cứu độ chúng

sinh, mà hiển bày Bản địa đã thành Phật

từ lâu xa rồi.

3. Hoa lạc liên thành (Hoa rụng hạt

thành): Ví dụ phế Tích lập Bản, dùng

“hoa lạc” ví dụ việc phế bỏ Tích, dùng

“liên thành” ví dụ việc thiết lập Bản.

Nghĩa là đức Phật thuyết pháp độ chúng

sinh trước sau đều chân thực, không hư

dối, cho nên hóa Tích mới thành Phật ở

Bồ đề đạo tràng bấy lâu nay tự nhiên phế

bỏ mà lập Bản địa thành Phật từ lâu xa.

Ba ví dụ trên là ý trong 14 phẩm sau của

kinh Pháp hoa.

[X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.1; Thiên

thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Huyền

nghĩa thích tiêm giảng thuật Q.1]. (xt. Bản

Tích Nhị Môn).

LIÊN HOA TAM DỤ

Biểu Đồ:Liên Hoa Tam Dụ

Vị thực lập quyền(lập)

Khai quyền hiển thực(khai)

Phế quyền lập thực(phế)

Tích

Môn

Vị liên cố hoa

Hoa khai liên hiện

Hoa lạc liên thành

Tòng bản thùy tích(thùy)

Khai tích hiển bản(khai)

Phế tích lập bản (phế)

Bản

Môn

 

L

2791

LIÊN HOA TẠNG THẾ GIỚI

Phạm: Kusuma-tala garbhavyùhàlaôkàraloka-

dhàtu-samudra,

hoặc Padma-garbha-loka-dhàtu.

Cũng gọi Liên hoa quốc.

Chỉ cho thế giới hàm chứa vô lượng công

đức trang nghiêm rộng lớn từ trong hoa sen

sinh ra.

Về tướng trạng của thế giới Liên hoa tạng

này, trong các kinh đều nói khác nhau.

1. Theo kinh Hoa nghiêm, Liên hoa

tạng thế giới còn được gọi là Hoa tạng trang

nghiêm thế giới hải, Hoa tạng trang nghiêm

cụ thế giới hải, Diệu hoa bố địa thai tạng

trang nghiêm thế giới, Liên hoa tạng trang

nghiêm thế giới hải, Hoa tạng thế giới hải,

Hoa tạng thế giới, Hoa tạng giới, Thập liên

hoa tạng trang nghiêm thế giới hải, Thập

liên hoa tạng thế giới, Thập hoa tạng. Thế

giới này là thế giới trang nghiêm thanh tịnh

do hạnh nguyện tu hành của đức Tì lô giá

na Như lai ở vô lượng kiếp quá khứ mà

thành tựu.

Thế giới này được cấu tạo bởi vô số phong

luân nhiều như bụi nhỏ, phong luân dưới

cùng gọi là Bình đẳng trụ, phong luân trên

cùng gọi là Thù thắng uy quang tạng. Phong

luân trên cùng này có khả năng nâng đỡ

biển Hương thủy, trong biển này có 1 hoa

sen lớn gọi là Chủng chủng quang minh

nhụy hương chàng; thế giới Liên hoa tạng

nằm ở trong hoa sen lớn này, chung quanh

có núi Kim cương luân bao bọc, mặt đất

đều do kim cương tạo thành, bằng phẳng

bền chắc, cực kì thanh tịnh trang nghiêm.

Trong thế giới này cũng có các biển Hương

thủy nhiều như bụi nhỏ không thể kể xiết,

chung quanh mỗi biển Hương thủy có 4 Đại

châu và vô lượng vô số sông Hương thủy.

Trong mỗi biển Hương thủy cũng có bất

khả thuyết vi trần số thế giới chủng; trong

mỗi thế giới chủng lại có bất khả thuyết vi

trần số thế giới. Biển Hương thủy ở chính

giữa thế giới Liên hoa tạng gọi là Vô biên

diệu hoa quang; từ trong biển Hương Thủy

này mọc lên 1 hoa sen lớn, trong đó có 20

lớp bất khả thuyết vi trần số thế giới phân

bố khắp 10 phương. Lấy thế giới chủng ở

chính giữa này làm trung tâm, có tất cả 111

thế giới chủng nằm la liệt, tạo thành mạng

lưới thế giới, đều được trang nghiêm bằng

các thứ báu bao bọc chung quanh, trong đó

có hiện cả chư Phật và chúng sinh.

Thuyết thế giới Liên hoa tạng có nguồn

gốc từ thuyết Thiên địa khai tịch(Trời đất

hình thành) trong Sử thi Ma ha bà la đa

(Phạm: Mahàbhàrata) của Ấn độ. Như

kinh Đại bi quyển 3, luận Đại trí độ quyển

8, luận Ngoại đạo Tiểu thừa niết bàn, v.v…

đều cho rằng từ nơi rốn của thần Tì thấp nô

(Phạm:Viwịu) mọc lên hoa sen, trong hoa

sen có Phạm thiên vương, từ trong tâm,

Phạm thiên vương sáng tạo ra trời đất, con

người và muôn vật.

So sánh thuyết này với thuyết Thế giới

Hoa tạng trang nghiêm trong kinh Hoa

nghiêm, tuy khác nhau rất nhiều về phạm

vi rộng hẹp lớn nhỏ, sự cấu tạo trang nghiêm,

nhưng giống nhau ở điểm có phong luân

nâng đỡ thủy luân, hoa sen từ trong nước

mọc lên và từ hoa sen ấy, trời đất muôn vật

được thành lập. Lại nữa, thế giới Hoa tạng

là do hạnh nguyện của đức Tì lô giá na mà

được trang nghiêm thanh tịnh, ánh sáng

chiếu khắp; còn Phạm thiên vương cũng có

vô lượng quang minh, là đấng chúa tể sáng

tạo muôn vật. Đem đối chiếu 2 thuyết này,

ta thấy giữa thuyết Thế giới Liên hoa tạng

và thuyết Thiên địa khai tịch của phái Tì

thấp nô có mối quan hệ mật thiết với nhau.

Ngoài ra, thế giới Liên hoa tạng trong

kinh Hoa nghiêm là thế giới Hoa tạng được

hình thành bởi hoa sen thật, nhưng Nhiếp

Đại thừa luận thích quyển 15 (bản dịch đời

LIÊN HOA TẠNG THẾ GIỚI

 

L

2792

Lương) lại cho rằng hoa sen là ví dụ để hiển

bày pháp giới chân như của Đại thừa, chứ

không phải là hoa sen thật.

2. Theo kinh Phạm võng, thế giới Liên

hoa tạng cũng gọi là Liên hoa đài tạng thế

giới hải, Liên hoa hải tạng thế giới, Liên

hoa đài tạng thế giới. Chỉ cho thế giới được

chứa đựng trong hoa sen lớn nghìn cánh,

mỗi cánh sen là 1 thế giới, mỗi thế giới có

trăm ức núi Tu di, trăm ức 4 đại châu và

trăm ức cõi Nam diêm phù đề. Đức Phật

Lô xá na là nguồn gốc của thế giới này,

Ngài ngồi kết già trên đài sen, tự biến hóa

ra nghìn Phật Thích ca, mỗi Phật Thích ca

ngồi trên một cánh sen; rồi mỗi mỗi trong

nghìn Phật Thích ca lại biến hóa ra trăm

ức bồ tát Thích ca, mỗi bồ tát Thích ca

đều ngồi dưới gốc cây bồ đề ở cõi Nam

diêm phù đề, tuyên thuyết pháp môn tâm

địa của Bồ tát. Trong đó mỗi cọng cỏ là

một đại thiên thế giới, có trăm ức núi Tu

di và 4 đại châu, mỗi 1 thế giới 4 đại châu

là chỗ giáo hóa của 1 vị bồ tát Thích ca;

trăm ức 4 đại châu là 1 đại thiên thế giới,

là chỗ giáo hóa của1bồ tát Đại Thích ca, 1

nghìn đại thiên thế giới là do đức Phật Lô

xá na chủ lãnh, 10 vạn ức thế giới 4 đại

châu, gọi là Thế giới liên hoa đài tạng.

Về sự cấu tạo thế giới của thuyết này (tức

kinh Phạm võng), có khác với cách cấu tạo

thế giới Hoa tạng trang nghiêm trong kinh

Hoa nghiêm và gọi là Liên hoa đài tạng thế

giới, cũng là trú xứ của Phật Lô xá na. Thuyết

này căn cứ vào kinh Hoa nghiêm mà có,

nhưng hoa sen của thế giới này lại do 1 nghìn

cánh hợp thành và đức Phật Lô xá na ngồi

kết già trên đài hoa ấy. Còn thuyết của Tì

thấp nô thì cho rằng Phạm thiên vương ngồi

kết già trên hoa sen màu vàng nghìn cánh,

như vậy 2 thuyết ăn khớp nhau. Cho nên,

ta có thể nói mà không sợ sai lầm rằng, thuyết

Liên hoa đài tạng thế giới trong kinh Phạm

võng đã trực tiếp kế thừa từ thuyết Thiên

địa khai tịch trong Sử thi Ma ha bà la đa

(Phạm:Mahàbhàrata).

Ngoài ra, Hoa nghiêm ngũ giáo chương

quyển 3 nói, cảnh giới của 10 đức Phật có

thể chia làm Quốc độ hải(quả phần bất khả

thuyết)và Thế giới hải(nhân phần bất khả

thuyết). Thế giới hải là các loại thế giới của

10 đức Phật nhiếp hóa, lại có thể chia làm

Liên hoa tạng trang nghiêm thế giới hải, Tam

thiên giới ngoại thập trùng thế giới hải và

Vô lượng tạp loại thế giới hải. Vì căn tính

của chúng sinh khác nhau nên quốc độ mà

họ cảm thấy được cũng bất đồng; quốc độ

mà giai vị “Chứng nhập sinh” cảm được tức

là Liên hoa tạng thế giới.

Còn Hoa nghiêm kinh thám huyền kí

quyển 3 thì, đối lại với Liên hoa tạng trang

nghiêm thế giới hải, lập ra 3 loại thế giới

là: Liên hoa đài tạng thế giới (thuyết của

kinh Phạm võng), Hoa tạng biến pháp giới

và Thụ hình đẳng tạp loại thế giới. Loại

trước là thuyết của Đồng giáo Nhất thừa, 2

loại sau là thuyết của Biệt giáo. Ngoài ra,

Hoa nghiêm kinh sớ quyển 11 của ngài

Trừng quán thì căn cứ vào 2 nhân chúng

sinh và Phật mà giải nói về Liên hoa tạng

thế giới.

Thuyết của tông Tịnh độ thì căn cứ vào

luận Tịnh độ của ngài Thế thân mà chủ

trương rằng thế giới Cực lạc của đức Phật A

di đà tức là Liên hoa tạng thế giới. Còn thuyết

của tông Đông mật ở Nhật bản thì lấy Tịnh

độ của Báo thân Phật A di đà làm thế giới

Liên hoa tạng của thân Gia trì, lấy trú xứ

của Pháp thân Đại nhật Như lai làm thế

giới Liên hoa tạng của thân Bản địa, lấy Hãn

lật đà(nhục đoàn tâm, tức trái tim) của chúng

sinh làm thế giới Liên hoa tạng của thân

hành giả.

Về sau, theo đà mở rộng tín ngưỡng Hoa

nghiêm mà bản đồ thế giới Liên hoa tạng

cũng rất phổ biến. Tại Trung quốc, vào năm

Hàm hanh thứ 3 (672) đời Đường, trên 3

LIÊN HOA TẠNG THẾ GIỚI

 

L

2793

lớp cánh sen chung quanh tòa sen của tượng

Phật Lô xá na ở chùa Phụng tiên tại Long

môn, đều có khắc tượng Phật Thích ca

trên mỗi cánh để tượng trưng thế giới Liên

hoa tạng.

Lại nữa, trên các cánh sen của Đại Phật

ở chùa Đông đại, Nhật bản, có khắc nghìn

Phật Thích ca, trăm ức tiểu Thích ca, theo

thuyết của kinh Phạm võng.

[X. kinh Tạp thí dụ; kinh Hoa nghiêm

(bản dịch cũ) Q.2-4; Q.23, 26, 27; kinh

Phạm võng Q.hạ; kinh Đại thừa du già kim

cương tính hải mạn thù thất lợi thiên tí

thiên bát đại giáo vương Q.9; Hoa nghiêm

kinh khổng mục chương Q.4; Hoa nghiêm

kinh thám huyền kí Q.2; Tân hoa nghiêm

kinh luận Q.6; Hoa nghiêm kinh hành

nguyện phẩm sớ sao Q.6; Phạm võng kinh

Bồ tát giới bản sớ Q.1; Phật tổ thống kỉ

Q.31, 42].

LIÊN HOA THẬP DỤ

Mười ví dụ về hoa sen.

Cứ theo kinh Trừ cái chướng bồ tát sở

vấn quyển 9, hoa sen sinh ra từ bùn nhơ,

nhưng không nhiễm mùi bùn mà lại có mùi

thơm vi diệu lan tỏa, khiến người thấy sinh

tâm vui mừng, nên dùng để ví dụ cho 10

thiện pháp tu hành của Bồ tát. Đó là:

1. Lìa tất cả ô nhiễm: Bồ tát tu hành,

thường dùng trí tuệ quánxét các cảnh,

chẳng sinh tâm tham đắm, tuy ở trong dòng

sinh tử vẩn đục mà không bị nhiễm ô, ví

như hoa sen mọc trong bùn nhơ mà chẳng

dính bùn.

2. Không chung đụng với những pháp

xấu ác: Bồ tát tu hành diệt ác sinh thiện,

giữ gìn 3 nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh,

không cùng chung với bất cứ điều xấu ác

nào, ví như hoa sen chẳng hề dính một giọt

nước bùn nhơ.

3. Giới hương đầy đủ: Bồ tát tu hành,

kiên trì giới luật, có thể diệt trừ nghiệp ác

của thân, khẩu, cũng giống hương thơm có

thể đánh tan khí hôi thối, ví như mùi thơm

vi diệu của hoa sen lan tỏa, khắp nơi đều

nghe biết.

4. Bản thể trong sạch: Bồ tát tuy sống

trong 5 cõi trọc ác, nhưng nhờ giữ giới, nên

thân tâm được thanh tịnh, ví như hoa sen

tuy sinh trong bùn nhơ mà thể tính tự nhiên

thanh khiết.

5. Nét mặt tươi tắn, vui vẻ: Tâm của

Bồ tát thường vui với thiền định, các tướng

tròn đầy, khiến cho người thấy sinh tâm

hoan hỉ, ví như hoa sen khi nở, ai thấy

cũng đẹp lòng.

6. Mềm mại mịn màng: Bồ tát tu hạnh

từ thiện, nhưng đối với các pháp cũng không

trệ ngại, cho nên thể thường thanh tịnh, nhu

hòa, không thô rít, ví như hoa sen mềm mại,

trơn láng.

7. Người thấy đều an lành: Bồ tát thành

tựu thiện hạnh, hình tướng trang nghiêm vi

diệu, người thấy đều được tốt lành, ví như

hoa sen đẹp đẽ, thơm ngát, người thấy hoặc

nằm mộng thấy đều được an lành.

8. Hoa nở tròn đủ: Bồ tát tu hành viên

mãn, công đức đầy đủ, phúc trí trang

nghiêm, ví như hoa sen khi nở bày cả gương

và hạt.

9. Thành thục thanh tịnh: Diệu quả

của Bồ tát viên mãn thành thục, nên trí tuệ

phát sáng, có thể khiến cho 6 căn của người

thấy nghe đều được thanh tịnh, ví như hoa

sen đã nở rộ, nếu mắt thấy màu hoa, mũi

ngửi hương hoa, thì các căn khác cũng đều

được thanh tịnh.

10. Mới sinh ra đã được nghĩ tưởng

đến: Bồ tát mới sinh ra, trời, người đều vui

vẻ hộ trì, vì biết chắc Bồ tát có khả năng tu

tập thiện hạnh, chứng quả bồ đề, ví như

hoa sen khi mới mọc lên, tuy chưa thấy

hoa, nhưng mọi người đều nghĩ rằng sẽ có

hoa sen.

LIÊN HOA THẬP DỤ

 

L

2794

LIÊN HOA TINH TIẾN (?-?)

Cũng gọi Vật đề đề tê ngư.

Danh tăng Tây vực, sống vào đời Đường,

người nước Cưu tư (Khố xa, Tân cương).

Sư trụ trì chùa Liên hoa ngoài cửa tây

thành Khuất chi. Ngoài ngôn ngữ của các

nước Tây vực, sư còn thông thạo cả 2 thứ

tiếng Phạm và Hán.

Đầu năm Trinh nguyên (785-804), sư

Ngộ không vốn ở chùa Chương kính tại

Trường an, từng đi Ấn độ thỉnh kinh, khi

từ Ấn độ trở về, sư có lưu lại thành Khuất

chi hơn 1 năm, trong thời gian này, sư thỉnh

ngài Liên hoa Tinh tiến phiên dịch bộ kinh

Thập lực bằng tiếng Phạm mà sư mang về

từ Ấn độ.

Năm Trinh nguyên thứ 6 (786), sư Ngộ

không về tới Trường an, đem bộ kinh Thập

lực và răng Phật dâng lên triều đình.

[X. Tống cao tăng truyện Q.3; Trinh

nguyên tân định thích giáo mục lục Q.17].

LIÊN HOA Y

Cũng gọi Liên hoa phục.

Chỉ cho ca sa, nghĩa là chiếc áo thanh

tịnh không nhiễm ô.

Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54,

268 trung), nói: “Ca sa là áo lìa nhiễm ô (…),

cũng gọi là Liên hoa y, nghĩa là không bị

bùn nhơ của dục vọng làm ô uế”.

[X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7].

LIÊN KINH

… ..

Chỉ cho kinh Pháp hoa.

Sách Dậu dương tạp trở ghi rằng, Hòa

thượng Tố ở chùa Đại hưng thiện đã tụng

37.000 bộ kinh Pháp hoa, có 1 vị tăng làm

thơ tặng Hòa thượng như sau:

“Tam vạn Liên kinh tam thập xuân

Bán sinh bất đạp viện môn trần”.

(Ba mươi năm ba vạn kinh sen

Nửa đời chẳng dính bụi bon chen).

LIÊN MỤC TƯỚNG

Cũng gọi Chân thanh nhãn tướng.

Tướng mắt xanh biếc như hoa sen, 1

trong 32 tướng tốt của đức Phật và Chuyển

luân Thánh vương. Vì mắt Phật xanh biếc

như hoa sen xanh nên gọi là Liên mục. Đến

đời sau, hễ mắt người nào thấy suốt chánh

tà, cũng gọi là Liên mục.

LIÊN NHÃN

… ..

Chỉ cho mắt của Phật và Bồ tát. Phật và

Bồ tát từ bi nhu hòa, mắt của các Ngài sáng

trong, vi diệu như hoa sen xanh, nên gọi là

Liên mục.

Phẩm Phật quốc kinh Duy ma (Đại 14,

537 hạ), nói:

“Mắt trong dài rộng như sen xanh

Tâm sạch đã qua các thiền định

Chứa góp tịnh nghiệp không kể xiết

Tịch lặng độ chúng con cúi đầu

Đã thấy Thế tôn dùng thần biến

Mười phương cõi nước đều hiện tiền”.

LIÊN NHƯ (1415-1499)

…..

Cao tăng Nhật bản, người Kinh đô

(Kyoto), Tổ đời thứ 8 của phái chùa Bản

nguyện thuộc Tịnh độ chân tông, tên Bố

đại hoàn, Hạnh đình hoàn, húy Kiêm thọ.

Năm 15 tuổi, sư bỗng có chí muốn trùng

hưng tông phái. Năm 17 tuổi, sư y vào ngài

Tôn ứng ở viện Thanh liên xuất gia. Không

bao lâu, sư đến Đại cốc nghiên cứu tông

nghĩa và lễ bái di tích của ngài Thân loan.

Về sau, sư tận lực giáo hóa, thường dùng lời

nói bình dị giảng diễn tông chỉ, nhờ thế giáo

đoàn Chân tông phát triển rộng. Sau vì bản

LIÊN NHƯ

 

L

2795

sơn Đại cốc bị tăng đồ chùa Diên lịch thiêu

hủy, nên sư phải lánh đến chùa Cận tùng ở

Đại tân. Sư lập riêng chùa Bản nguyện ở

Sơn khoa, làm Thạch biệt viện ở Đại phản,

hoàn thành chí nguyện trung hưng phái Bản

nguyện tự.

Năm Minh ứng thứ 8 (1499) sư tịch,

thọ 85 tuổi. Vua ban thụy hiệu Tuệ Đăng

Đại Sư.

Sư có các tác phẩm: Chính tín kệ đại ý,

1 quyển, Ngự văn ngũ thiếp, Chân tông lĩnh

giải văn nhất thông.

[X. Liên như thượng nhân truyện kí; Đại

cốc Bản nguyện tự thông kỉ Q.2].

LIÊN THAI

… ..

Cũng gọi Liên hoa thai.

Bào thai hoa sen. Những người niệm Phật

vãng sinh Tịnh độ đều từ trong hoa sen hóa

sinh, giống như trong thai mẹ, cho nên gọi

là Liên thai.

Liên tông bảo giám quyển 8 (Đại 47, 339

hạ), nói: “Khi vãng sinh Tịnh độ, vào liên

thai kia, hưởng thụ sự vui sướng”.

Quán kinh sớ quyển hạ của ngài Nguyên

chiếu (Đại 37, 295 hạ) nói: “Nên biết tâm

tưởng Phật ngày nay, quả đức, tướng tốt ắt

đã đầy đủ, liên thai nhen nhúm tức là tâm

ấy, tự chứng bồ đề, chứ không do người khác

mà được”.

LIÊN TÔNG

…..

Cũng gọi Liên môn.

Tức là tông Tịnh độ.

Tông này bắt nguồn từ Bạch liên xã(hội

Sen trắng) do ngài Tuệ viễn sáng lập ở chùa

Đông lâm, Lô sơn, Trung quốc.

Bài tựa trong Liên tông bảo giám của ngài

Ưu đàm Phổ độ (Đại 47, 304 thượng), nói:

“Tổ Tuệ viễn đời Đông Tấn đến Lô sơn kết

duyên tu hành cùng với các vị cao tăng và

danh sĩ triều đình. Ngài nói rằng có rất nhiều

tên của Tam muội trong các pháp môn,

nhưng công hạnh cao mà dễ tiến thì chỉ có

pháp môn niệm Phật là đứng đầu, vì thế mà

ngài lập ra Bạch liên xã, chuyên niệm Phật

cầu vãng sinh”.

Hoa sen tượng trưng cho y báo của cõi

Cực lạc Tịnh độ, vì thế tông Tịnh độ cũng

còn có tên là Liên tông.

[X. Liên tông cửu tổ truyện lược; A di đà

kinh sớ sao Q.2; Liên tông chư giới nghi].

(xt. Tịnh Độ Tông).

LIÊN TÔNG BẢO GIÁM

………..

Cũng gọi Lô sơn liên tông bảo giám, Lô

sơn liên tông bảo giám niệm Phật chính

nhân, Niệm Phật bảo giám.

Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Ưu đàm

Phổ độ soạn ở chùa Đông lâm, Lô sơn, vào

đời Nguyên, Trung quốc.

Ngài Ưu đàm Phổ độ cảm thương vì thời

bấy giờ nhiều người gọi là Liên tông, nhưng

không hiểu được ý chỉ của Sơ tổ Tuệ viễn,

lại bị các tà thuyết mê hoặc, cho nên biên

tập các lời nói trong các kinh sách rồi thêm

bớt hoặc nhuận sắc mà thành sách này, để

hoằng dương yếu chỉ niệm Phật chân chính

hầu cứu vãn thời tệ.

Nội dung chia làm nhiều chương và

cương mục, thứ tự sau:

– Niệm Phật chính nhân 14 chương.

– Niệm Phật chính giáo 19 chương.

– Niệm Phật chính tông 8 chương.

– Niệm Phật chính phái 22 chương.

– Niệm Phật chính tín 6 chương.

– Niệm Phật chính hạnh 14 chương.

– Niệm Phật chính nguyện 7 chương.

– Niệm Phật vãng sinh chính quyết 12

chương.

– Niệm Phật chính báo 5 chương.

– Niệm Phật chính luận 25 chương.

Trong 10 quyển, đầu mỗi quyển là phần

LIÊN TÔNG BẢO GIÁM

 

L

2796

Tổng thuyết, tiếp theo là chính văn của các

kinh luận, hành trạng của các bậc cổ đức,

giáo ngữ…

[X. Đại minh tam tạng Thánh giáo Bắc

tạng mục lục Q.4; Đại thanh tam tạng Thánh

giáo mục lục Q.5; Nguyên sử Q.22].

LIÊN TÔNG CỬU TỔ

………..

Chín vị Tổ của Liên tông.

Từ khi ngài Tuệ viễn sáng lập Liên xã ở

chùa Đông lâm trên núi Lô sơn, vào thời

Đông Tấn, mới có tên Liên tông. Kể từ đó

cho đến đời nhà Thanh, có tất cả chín vị

Tổ tiếp nối đề xướng và truyền thừa pháp

môn niệm Phật. Danh sách của các Ngài

như sau:

– Sơ tổ Đông lâm Tuệ viễn ở Lô sơn.

– Nhị tổ Quang minh Thiện đạo ở

Trường an.

– Tam tổ Bát chu Thừa viễn ở Hoành sơn.

– Tứ tổ Vân phong Pháp chiếu ở Hành

châu.

– Ngũ tổ Ô long Thiếu khang ở Tân định.

– Lục tổ Vĩnh minh Diên thọ ở Hàng

châu.

– Thất tổ Chiêu khánh Tỉnh thường ở

Vũ lâm.

– Bát tổ Vân thê Châu hoành ở Cổ hàng.

– Cửu tổ Phạm thiên Tỉnh an ở Phượng

sơn.

[X. Liên tông cửu tổ truyện lược.]

LIÊN TÔNG PHÁI

……..

Cũng gọi Trúc lâm liên tông.

Một tông phái của Việt nam, do ngài

Bạch mai Lân giác sáng lập ở chùa Bà đá

tại Thăng long vào khoảng thế kỷ thứ XVII.

Tông phái này bắt nguồn từ Bạch liên

tông do ngài Từ chiếu Tử nguyên đời Nam

Tống, Trung quốc, đề xướng, chủ trương

Thiền Tịnh một mối, cho giáo là mắt Phật,

Thiền là tâm Phật, lấy việc niệm Phật A di

đà làm công án Thiền, pháp tu thực tiễn là

chuyên niệm danh hiệu Di đà.

Tông này thịnh hành ở miền Bắc Việt

nam; các chùa chủ yếu của Tông này là chùa

Hàm long ở Bắc ninh, chùa Nhật quang ở

Kiến an, chùa Liên tông ở Hà nội, v.v…

LIÊT THƯỜNG KIM TRƯỢNG

Chỉ cho tấm áo rách(liệt thường) và cây

gậy vàng(kim trượng).

Đức Phật dùng hình tượng này để dự

đoán việc Phật giáo Ấn độ bị phân hóa thành

18 bộ phái.

Cứ theo Câu xá tụng sớ chú ghi chép,

một hôm, vua Tần bà sa la mộng thấy 1

chiếc mền rách làm 18 mảnh, 1 cây gậy

vàng gãy làm 18 khúc, nhà vua cảm thấy lo

sợ, bèn đến thưa hỏi Phật, đức Phật nói:

“Sau khi ta diệt độ hơn 100 năm, có vua A

du ca ra đời, uy danh lừng lẫy khắp châu

Nam thiệm bộ, bấy giờ bật sô chia thành

18 bộ phái, nhưng đều hướng tới cửa giải

thoát. Đây là điềm báo trước cho sự phân

phái ấy”.

[ X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1].

LIÊT TỔ ĐỀ CƯƠNG LỤC

Tác phẩm 42 quyển, do ngài Ngốc ông

Hành duyệt (1619-1684) soạn vào đời

Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 112.

Tác phẩm này là kết quả của hơn 20 năm

vân du khắp 4 phương của ngài Hành duyệt.

Trong sách ghi chép lời dạy và đức hạnh

của các bậc Tổ sư, hoặc theo việc mà viết

thành văn, hoặc theo lời kể mà ghi thành

việc, tùy theo chỗ thấy biết mà ghi chép,

không phân biệt xưa nay, tôn ti, tông phái

hay thứ tự các thế hệ.

Nội dung thu chép pháp ngữ của hơn

400 vị Thiền sư chính thống và bàng hệ từ

LIÊT TỔ ĐỀ CƯƠNG LỤC

 

L

2797

thời Ngũ gia tông phái(Lâm tế, Tào động,

Qui ngưỡng, Vân môn, Pháp nhãn) trở về trước,

với hơn 3.000 tắc Tông tổ đề cương và hơn

300 việc trọng yếu trong chốn tùng lâm, như:

Chúc li, báo bản, tôn tổ, thướng đường, tiểu

tham, tiết lạp, nguyên đán, pháp khí, v.v…

tất cả đều căn cứ theo chương Trụ trì nhật

dụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui

mà giải thích rất rõ ràng. Bộ sách này là kim

chỉ nam cho người tu đạo.

LIÊT TUÊ

…..

Gọi đủ: Hữu lậu vô nhiễm liệt tuệ.

Chỉ cho thể của trần sa hoặc. Vì thể của

hoặc này là bất nhiễm ô vô tri, nên là hữu

lậu, chẳng phải phiền não nhuận sinh, nên

là vô nhiễm; không kham được việc độ người,

cũng không siêng năng cầu sự hiểu biết, cho

nên gọi là Liệt tuệ(trí tuệ kém cỏi).

Ngoài ra, cứ theo Phật địa kinh luận quyển

1, thì trí tuệ yếu kém gọi là Liệt trí.

[X. Ma ha chỉ quán Q.3 phần cuối; Pháp

hoa huyền nghĩa giảng thuật Q.3 (Đại bảo)].

LIÊT TỬ

…..

I. Liệt Tử (?-?).

Danh nhân Trung hoa, sống vào thời

Chiến quốc, người nước Trịnh, họ Liệt, tên

Ngự khấu.

Ông sinh sau Lão tử, trước Trang tử, tức

khoảng thế kỉ thứ IV trước Tây lịch. Ông có

soạn bộ sách Liệt tử. Nội dung bàn về tư

tưởng của Đạo gia. Nhưng ngày nay đã chứng

minh được rằng bộ sách này là do người đời

sau ngụy tạo, ngay cả đến việc Liệt tử có là

nhân vật thực hay không còn phải đợi khảo

chứng. Tuy nhiên, về mặt tư tưởng và ảnh

hưởng đối với văn học Trung quốc thì ông

được xếp ngang hàng với Trang chu. Người

đời gọi Lão tử, Trang tử, Quan tử, và Liệt tử

là Đạo gia tứ tử, hoặc gọi là Tứ kinh.

II. Liệt Tử.

Cũng gọi Liệt tử xung hư chân kinh,

Xung hư chí đức chân kinh.

Kinh của Đạo giáo, 8 quyển, do Liệt ngự

khấu soạn vào đời Chu, Trung quốc, Trương

trạm chú giải vào đời Tấn.

Nội dung tư tưởng trong sách này cho

rằng chí hư vô cực là bản thể của vũ trụ,

muôn vật từ đó mà sinh hóa không ngừng,

đồng thời đề xướng thuyết luân hồi chuyển

sinh, cho rằng sinh tử là sự biến hóa của

bản thể. Về lí tưởng tối cao là đời sống vô

vi tự nhiên, vượt ra ngoài sự khen chê, được

mất của thế gian, mà dung hợp với bản thể

vũ trụ rộng lớn sâu xa, mầu nhiệm tột bực.

Trong sách có dùng nhiều ngụ ngôn, trùng

ngôn. Qua khảo cứu, có người cho rằng

nội dung sách này là phù hợp với thuyết

của Trang tử, có nhiều chỗ do người đời

sau góp nhặt lại mà thành. Nhưng hiện

nay, nhiều học giả cho rằng sách này đã

do học trò của Vương bật ngụy tạo vào

thời Ngụy Tấn.

LIÊT ỨNG THÂN

……..

Cũng gọi Trượng lục thân Phật, Liệt ứng

trượng lục thân Phật.

Thân 1 trượng 6 mà đức Phật thị hiện,

ứng hóa cho hàng phàm phu, Nhị thừa và

Bồ tát trước Thập địa thấy được, là 1 trong

2 ứng thân ở cõi Phàm thánh đồng cư, do

tông Thiên thai lập ra.

Thiên thai tứ giáo nghi (Đại 46, 775

thượng), nói: “Thị hiện từ cung trời Đâu suất

giáng trần, gá thai nơi Hoàng hậu Ma da,

rồi sinh, lớn lên, cưới vợ, sinh con, xuất gia,

6 năm tu khổ hạnh, ngồi trên tòa cỏ, thành

đạo dưới gốc Bồ đề, đó là Liệt ứng thân”.

Ngoài ra, Thiên thai Tứ giáo nghi tập chú

quyển Thượng cho rằng, Liệt ứng thân là đối

lại với Thắng ứng thân của Đại thừa, chứ Liệt

không phải là kém. Lại nữa, Tiểu thừa cho

LIÊT ỨNG THÂN

 

L

2798

rằng thân của đức Thích tôn cũng do nghiệp

sinh ra, cho nên gọi là Liệt ứng thân.

(xt. Tam Thân, Ứng Thân).

LIÊU CHỦ

…..

Cũng gọi Trực liêu.

Chức vụ phụ tá cho vị Liêu nguyên trong

Thiền lâm, có trách nhiệm giữ gìn áo bát

cho chúng tăng.

Chức vụ này y theo thời gian vào liêu

trước sau mà lần lượt nhận lãnh, có người

làm 1 tháng, có người làm nửa tháng, cũng

có người làm 10 ngày, tùy theo qui định khác

nhau của các chùa. Liêu chủ và Liêu phó

ngày đêm không rời khỏi các liêu, lúc chư

tăng ngồi thiền, thì Liêu chủ, Liêu phó và

Liêu nguyên cùng ngồi trước bàn Phật.

Điều Liệt chức tạp vụ trong Sắc tu Bách

trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1133

thượng), nói: “Liêu chủ, Liêu phó có phận sự

xếp đặt chỗ ở cho chúng tăng, vị Liêu nguyên

chiếu theo thứ bậc giới lạp, từ dưới lên trên

mà thỉnh cử để sung vào 2 chức vụ trên, tên

của 2 vị này được niêm yết trên bảng, 10 ngày

thay 1 lần để giúp việc cho Liêu nguyên. Liêu

chủ, Liêu phó trông coi chúng tăng sớm tối

đi về tăng đường, soát trên các án kinh, xem

có ai bỏ quên vật gì thì thu lấy để trả lại cho

người ấy, để ý những vật lặt vặt trong liêu,

trông coi việc hương đèn trà nước, chớ để

cho người ngoài ngủ nhờ hoặc gửi các đồ vật

buôn bán trong liêu”.

[X. Thiền uyển thanh qui Q.4]. (xt. Liêu

Nguyên).

LIÊU ĐẠO TÔNG (1032-1101)

Vị Hoàng đế đời thứ 8 của nhà Liêu,

Trung quốc, họ Da luật, tên Hồng cơ, ở ngôi

1055-1100.

Ông lên ngôi năm 24 tuổi, trong và

ngoài nước tuy còn một vài cuộc phân

tranh, nhưng nói chung thì tương đối đã

hòa bình. Ông thừa kế chính sách của đời

trước, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc Hán

hóa. Ông là vị Hoàng đế sùng tín Phật giáo

bậc nhất của đời Liêu, rất tinh thông học

thuyết Hoa nghiêm. Tương truyền, “mỗi

năm vua thỉnh 3 vạn 6 nghìn vị sa môn để

cúng dường trai tăng, mỗi ngày có3 nghìn

người xuất gia”. Vua còn xây cất nhiều chùa

tháp điện đường, trong đó qui mô nhất là

Đại điện đường của chùa Phụng phúc, được

coi là bậc nhất ở nước Liêu. Trong năm

Thanh ninh (1055-1064) vua còn kiến tạo

Bạch tháp ở chùa Đại hoàng tế tại Cẩm

châu, hiện nay vẫn còn.

Tác phẩm: Hoa nghiêm kinh tán.

[X. Thích thị kê cổ lược Q.4].

LIÊU ĐẾ SÍNH (1827-1893)

Tổ sư của Chân không giáo, 1 tông giáo

dân gian do ông sáng lập vào khoảng năm

Đồng trị (1862-1874) đời Thanh, người Tầm

ô, Giang tây.

Ông bắt đầu tu đạo ở tuổi trung niên,

nghiên cứu Ngũ bộ lục sách của La tổ, lấy

việc trở về nguồn gốc, về 1, về không làm

tông chỉ, tu hành bằng phương pháp tĩnh

tọa, tĩnh ngộ để đạt đến cảnh giới dung hợp

giữa tự thân và bản thể chân không, chữa

bệnh cho người bằng pháp tĩnh tọa, cấm

hút thuốc phiện. Tín đồ của tông giáo này ở

rải rác khắp các tỉnh Giang tây, Quảng đông,

Phúc kiến, v.v… về sau còn được truyền đến

vùng Đông Nam Á.

Ông có các tác phẩm: Báo không, Vô

tướng, Báo ân, Tam giáo.

LIÊU NGUYÊN

… ..

I. Liêu Nguyên.

Cũng gọi Tọa nguyên, Tòa nguyên, Liêu

thủ tòa, Đệ nhất tòa.

LIÊU NGUYÊN

 

L

2799

Chức vụ trông coi công việc các liêu trong

Thiền lâm, 1 trong 6 vị Đầu thủ.

Chức vụ này có trách nhiệm trông coi

về kinh sách, phẩm vật, trà nước, củi than,

quét tước, dọn dẹp và xin cấp nhu yếu phẩm

cho các liêu. Dưới chức này, còn có Liêu

trưởng, Liêu phó, Phó liêu, Vọng liêu v.v…

giúp việc cho Liêu nguyên.

Vì am hiểu các việc trong chùa, cho nên

Liêu nguyên quán xuyến mọi việc như: Xem

xét chúng tăng trong liêu xem kinh, đọc kinh,

răn nhắc việc trái phạm luật lệ, dàn xếp việc

tranh cãi nội bộ, hướng dẫn qui củ cho

những người mới đến chùa, tóm lại, phải

phụ trách xử lý tất cả các việc.

Chỗ Liêu nguyên ở, gọi là Liêu nguyên

liêu.

[X. điều Liệt chức tạp vụ trong Sắc tu

Bách trượng thanh qui Q.4; Tăng đường

thanh qui Q.5, môn Chức vị trong Thiền

lâm tượng khí tiên]. (xt. Chúng Liêu).

II. Liêu Nguyên.

Thời cận đại, các tùng lâm Thiền tông

có đặt Vân thủy đường(nhà Thượng khách),

Liêu nguyên là chức vụ trông coi các việc

trong Vân thủy đường này.

LIÊU QUỐC PHẬT GIÁO

Phật giáo nước Liêu (Lào).

Liêu, xưa gọi là Lão qua, là 1 nước nhỏ

nằm sâu trong lục địa của bán đảo Trung

nam, Bắc giáp Trung quốc, Đông giáp Việt

nam, Tây giáp Miến điện, Nam giáp Cao

miên. Trong nước có nhiều chủng tộc, nhưng

quan trọng thì có 3 chủng tộc: Lào, Kha và

Mèo. Chủng tộc Lào vốn có nguồn gốc từ

vùng Tây nam Trung quốc, từ đời Đường

đến đời Nguyên khoảng hơn 600 năm, chịu

ảnh hưởng của văn hóa Trung quốc và Ấn

độ,từng tin thờ Phật giáo, nhưng cũng xem

trọng việc cúng tế quỉ thần và mang nặng

sắc thái dân tộc. Về sau, chủng tộc này dần

dần tiến xuống phía nam rồi định cư ở nước

Lào, chiếm 2/3dân sốnước này.

Phật giáo bắt đầu được truyền vào nước

Lào từ sau khi vua Pháp ngang (Fia Nguon,

ở ngôi 1353-1373) sáng lập nước Nam

chưởng (Lang chang). Vua Pháp ngang

thủa nhỏ từng theo cha lưu vong đến Cao

miên, được Trưởng lão Ma ha ba sa mạn

đa (Mahàpasamanta) dạy dỗ; Vương hậu

là con gái của vua Cao miên, là tín đồ

thuần thành của Phật giáo, vua Pháp

ngang chịu ảnh hưởng của Vương hậu, liền

cung thỉnh cao tăng, đúc tượng Phật, làm

chùa Ba sa mạn (Pasamanarma), dân

chúng Lào cũng dần dần chuyển sang tín

ngưỡng Phật giáo.

Vào năm

Vĩnh lạc thứ 2

(1404) đời

Minh, nước

Nam chưởng

được Trung

quốc thừa

nhận, phong

là “Lão Qua

Tuyên Úy

Ti”, Bấy giờ

nhằm đời vua

Phạ du tam

thành thái đang tại vị, vua từng làm chùa

Ma na lan (Wat Manorom) và đề cao Phật

học. Vua Duy tô (Visoun, ở ngôi 1501-1520)

xây chùa Duy tô nổi tiếng để thờ xá lợi Phật.

Đến đời vua Tất đạt đề lạp (Sethathirath)

lại dựng tháp Đại xá lợi (Dhàtu Luang)

lớn nhấtnước Lào ở phía bắc thủ đô Vĩnh

trân (Viêng chăn).

Giữa thế kỉ XVII, Lào trở thành trung

tâm Phật giáo Đông nam á. Về sau bị rơi

vào trạng huống phân chia lâu dài, đến đầu

thế kỉ XIX thì Viêng chăn trở thành 1 tỉnh

của Thái lan. Đến giữa thế kỉ XIX, nhờ Thái

lan và Việt nam kèn cựa nhau nên Lào mới

LIÊU QUỐC PHẬT GIÁO

Tháp Đại xá lợi ở Viêng chăn

 

L

2800

được an định, nhưng sau đó bị thế lực người

Pháp xâm nhập, cuối cùng, vào năm 1893,

Lào trở thành nước bảo hộ của Pháp.

Thời kì Pháp thuộc, Phật giáo không còn

được nhà nước hộ trì nữa nên rất khó phát

triển, nhưng điều may mắn là tuyệt đại đa

số nhân dân vẫn kính tin Phật giáo. Nền

giáo dục cũ ở quá khứ lấy các chùa làm trung

tâm; bây giờ dưới sự thống trị của người Pháp,

chính phủ nắm quyền giáo dục. Nhưng vì

nền giáo dục quốc dân không được phổ cập,

nên chùa Phật vẫn là nơi quan trọng cho

hàng trí thức cao thâm và những nhà nghiên

cứu Phật giáo mà người Pháp không cách

nào ngăn cấm được.

Đầu thế kỉ XX, Phật giáo Lào thi hành

tổ chức cơ cấu phân chia tầng cấp, dưới nhà

nước là châu huyện, dưới châu huyện là xã

thôn, các chùa Phật ở xã thôn đều có chư

tăng cai quản. Cũng giống như Thái lan,

Miến điện và Cao miên. Lào cũng thịnh

hành tục lệ người con trai xuất gia 1 lần, tùy

theo chí nguyện của mỗi người, hoặc tu 1

thời gian hoặc tu trọn đời.

Sau ngày độc lập (1954) đến trước khi

nội chiến bùng nổ (1960), Phật giáo Lào phát

triển mạnh mẽ, chùa Phú sĩ ở cố đô Luang

Brabang là trung tâm Phật giáo, trong chùa

thờ pho tượng Phật bằng vàng, nặng hơn

400 ký, được đúc vào thế kỉ XV. Cách cố đô

về mạn bắc khoảng 20 cây số, có động Bắc

khư, trong động có vô số tượng Phật, được

gọi là động Vạn Phật.

Sự giáo dục của chư tăng hoàn toàn được

nhà nước nâng đỡ, chia làm 3 cấp: Tiểu

học, Trung học và giáo dục Phật giáo cao

cấp(tương đương với Cao trung). Phật giáo

cao cấp do bộ Giáo dục phụ trách, người

tốt nghiệp được tôn xưng thêm 2 chữ “Ma

Ha” (Phạm: Mahà).

Tín đồ Phật giáo Hoa kiều ở Viêng chăn

sáng lập “Trung Lào Phật giáo xã”. Việt kiều

đa số tin theo Phật giáo Đại thừa, có cất

chùa Bàng long (Wat Banglong) để hoằng

dương Phật pháp.

Nền Phật giáo mà người Lào tin thờ cũng

giống như Phật giáo ở Miến điện và Thái

lan, nghĩa là đều thuộc Phật giáo Nam truyền,

dùng tiếngPàli, như trong thư viện Hoàng

gia tàng trữ các kinh điển viết bằng tiếng

Pàlitrên lá bối, cũng có nhiều loại viết bằng

tiếng Thái lan. Nhưng không giống với các

nước Nam truyền khác ở chỗ giáo dục Phật

giáo và giới luật của tăng đoàn Lào không

nghiêm khắc bằng các nước kia, như tỉ khưu

được ngồi ăn cơm, uống rượu chung với

người tại gia, được nhận đồ trực tiếp do người

nữ trao tay và được làm việc chung với người

nữ. Nhưng việc tỉ khưu được nhân dân tôn

kính cúng dường thì cũng hệt như các nước

khác. Nhân dân thường làm việc bố thí, thích

vào chùa nghe chư tăng nói pháp và thụ trì

trai giới.

[X. Liêu quốc Phật giáo sử (Tịnh hải);

ERE. Vol.7 Laos; The Pàli Literature of

Burma, London, 1909 (M. Bode)].

LIÊU GIẢN

…. .

Cũng gọi Liễu giản, Lượng giản, Lượng

kiến, Liệu kiến.

Khéo phân biệt, lựa chọn chính pháp.

Từ ngữ này thấy rải rác trong các bộ

chương sớ của các tông phái, nhưng cách

dùng và ý nghĩa lại không giống nhau.

1. Nêu ra mọi quan điểm để làm sáng

tỏ vấn đề, hoặc dùng phương thức vấn

đáp để bàn luận một cách sâu sát, gọi là

Liệu giản.

2. Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền đưa ra

4 phương pháp tiếp hóa người học gọi là Tứ

liệu giản:

a) Đoạt nhân bất đoạt cảnh(đoạt người

chứ không đoạt cảnh).

b) Đoạt cảnh bất đoạt nhân(đoạt cảnh

chứ không đoạt người).

LIÊU GIẢN

 

L

2801

c) Nhân cảnh câu đoạt(người và cảnh

đều đoạt).

d) Nhân cảnh câu bất đoạt(người và cảnh

đều chẳng đoạt).

Ở đây Tứ liệu giản mang ý nghĩa 4 phạm

trù của chân như thực tướng.

3. Tiếng dùng của tông Thiên thai Nhật

bản.

Vì trong văn kinh có những chỗ mâu

thuẫn trái ngược nhau, nên phải đặt phương

pháp để điều hòa và giải thích rõ ràng những

mâu thuẫn ấy, gọi là Liệu giản.

4. Thông thường chỉ cho sự lí giải một

cách rộng rãi, sâu xa.

LIỄU AM QUẾ NGỘ (1425-1514)

Thiền sư Nhật bản, thuộc tông Lâm tế,

người Y thế, huyện Tam trọng, hiệu Phật

nhật thiền sư.

Sư từng trụ trì chùa Đông phúc, chùa

Nam thiền. Ngoài nội điển ra, sư còn tinh

thông Chu dịch và Trang tử, cho nên hàng

công khanh, học giả theo qui y rất đông.

Sư đã từng là sứ giả của Mạc phủ phái đến

Trung quốc (đời Minh). Khi ở núi Dục

vương, sư từng giao thiệp với danh Nho

Vương dương minh.

Năm Vĩnh chính 11 (1514) sư tịch, thọ

90 tuổi.

Sư có các tác phẩm: Ngữ lục, 1 quyển,

Nhâm thân nhập minh kí.

LIỄU BẢN SINH TỬ KINH

Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch

vào đời Ngô, được thu vào Đại chính tạng

tập 16.

Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 6,

ngài Đạo an soạn bài tựa kinh Liễu bản sinh

tử cho rằng yếu chỉ của kinh này là Tứ đế tứ

tín được đức Phật nói trong lần chuyển pháp

luân đầu tiên.

Nội dung bao gồm:

1. Lấy nội duyên và ngoại duyên làm yếu

tố duyên khởi.

2. Chỉ bày rõ nhân tướng phược và duyên

tướng phược.

3. Qui nạp sự sinh khởi của nội duyên,

ngoại duyên đều phải đợi sự sinh khởi của 5

việc: Chẳng phải thường, chẳng phải đoạn,

chẳng tiến, hạt giống không hư mất, tướng

dáng của sự vật…

4. Nói về 12 nhân duyên.

Kinh này còn các bản dịch khác là: Phật

thuyết đạo cán kinh, Từ thị bồ tát sở thuyết

Đại thừa duyên sinh đạo cán dụ kinh, Đại

thừa xá lê sa đảm ma kinh, Phật thuyết Đại

thừa đạo cán kinh.

[X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.5; Dịch kinh

đồ kỉ Q.1].

LIỄU ĐẠT

… ..

Hiểu thấu mọi việc, sự lí đều thông suốt.

Phẩm Đề ba đạt đa kinh Pháp hoa (Đại

9, 35 trung), nói: “Thâm nhập thiền định

liễu đạt chư pháp(vào sâu thiền định, thông

suốt các pháp).

Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển

37 (Đại 10, 195 trung), nói: “Liễu đạt tam

giới y tâm hữu, Thập nhị nhân duyên diệc

phục nhiên”(Thấu suốt 3 cõi nương nơi tâm

mà có, 12 nhân duyên cũng như thế).

LIỄU ĐIỀN THÁNH SƠN (1922- )

Học giả Phật giáo Nhật bản, người huyện

Tư hạ.

Năm 1947, ông tốt nghiệp khoa Chân

tông học tại trường Đại học Đại cốc. Sau

đó, ông từng giảng dạy tại trường Đại học

Hoa viên, Sở nghiên cứu Khoa học nhân

văn thuộc trường Đại học Kinh đô (Kyoto).

Ông có các tác phẩm: Nghiên cứu các sử

liệu Thiền tông thời kì đầu, Lịch sử thiền

LIỄU ĐIỀN THÁNH SƠN

 

L

2802

thời kì đầu, Lăng già sư tư kí, Tư tưởng thiền,

Thiền đích sơn hà, Đạt ma ngữ lục, Nhất

hưu, Tư tưởng Phật giáo, Tìm hiểu nghĩa

“Không”, Lâm tế lục…

LIỄU NGHĨA

…..

Phạm:Nìtàrtha.

Nghĩa của các pháp được trực tiếp hiển

bày một cách rõ ràng.

Giáo lí của đức Phật được trực tiếp trình

bày một cách rõ ràng, tường tận, gọi là Liễu

nghĩa giáo. Như các kinh Đại thừa nói sinh

tử, Niết bàn không hai, không khác. Những

kinh điển nói đạo lí này, gọi là kinh Liễu

nghĩa, do đức Phật nói.

Còn nếu thuận theo căn cơ, trình độ của

chúng sinh, không trực tiếp hiển bày pháp

nghĩa, mà dùng giáo tướng phương tiện dẫn

dắt dần dần, thì gọi là Bất liễu nghĩa giáo

(giáo chưa rõ nghĩa), như các kinh nói nhàm

chán sinh tử, ưa thích Niết bàn. Những kinh

điển nói về bất liễu nghĩa giáo này, gọi là

Bất liễu nghĩa kinh(kinh chưa rõ nghĩa), do

Bồ tát nói. Cũng như Liễu nghĩa và Bất liễu

nghĩa, gọi chung là Nhị liễu. “Y liễu nghĩa

kinh, bất y bất liễu nghĩa kinh” là một trong

Tứ y. Nhưng, điều gọi là “bất liễu nghĩa” là

do Đại thừa nói về Tiểu thừa, cho rằng so

với Đại thừa thì Tiểu thừa kém cỏi hơn, cho

nên gọi là “Bất liễu nghĩa”. Nhưng, theo chủ

trương của Đại chúng bộ thuộc Tiểu thừa,

thì học thuyết của các ngoại đạo là bất liễu

nghĩa. Còn theo luận Thành thực, không

thấy rõ ý trong kinh điển mà chỉ chấp vào

mặt chữ để giải thích, thì là bất liễu nghĩa.

Ngoài ra, theo luận Du già sư địa quyển

60, thì đức Thế tôn nói sơ lược về Khế kinh,

Ứng tụng, Kí biệt v.v… nghĩa lí chưa được

rốt ráo, cho nên gọi là bất liễu nghĩa, trái lại

thì gọi là Liễu nghĩa giáo.

[X. Quán vô lượng thọ kinh sớ tán thiện

nghĩa; Viên giác kinh lược sớ Q.1; Đại thừa

pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu,

Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1]. (xt.

Tam Thời Giáo).

LIỄU NGHĨA ĐĂNG

……..

Gọi đủ: Thành duy thức luận liễu nghĩa

đăng.

Cũng gọi: Duy thức liễu nghĩa đăng,

Nghĩa đăng.

Tác phẩm gồm 7 quyển (hoặc 13 quyển)

do ngài Huệ chiểu soạn vào đời Đường, được

thu vào Đại chính tạng tập 43.

Sách này là 1 trong 3 bộ Chú sớ về Duy

thức nổi tiếng, giải thích những câu văn và

nghĩa lí khó hiểu trong bộ luận Thành duy

thức (10 quyển) và bộ Thành duy thức luận

thuật kí (20 quyển).

[X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục

Q.3].

LIỄU NGỘ

…..

I. Liễu Ngộ.

Chỉ cho sự giác ngộ thực tướng của các

pháp, chân lí của vũ trụ.

II. Liễu Ngộ(?-?).

Vị Thiền tăng Trung quốc, sống vào đời

Tống, người Cô tô (huyện Ngô, tỉnh Giang

tô), hiệu là Tiếu am, đệ tử nối pháp của ngài

Mật am Hàm kiệt, thuộc phái Hổ khâu, tông

Lâm tế, trụ trì chùa Linh ẩn tại Hàng châu.

Sư có tác phẩm: Tiếu am Ngộ thiền sư

ngữ yếu 1 quyển.

[X. Cổ tôn túc ngữ yếu Q.4, Tăng tục

truyền đăng lục Q.2].

LIỄU NGUYÊN (1032-1098)

… ..

Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Tống,

người Phù lương, tỉnh Giang tây, hiệu Phật

ấn, tự Giác lão.

Sư xuất gia ở chùa Bảo tích, sau khi thụ

LIỄU NGUYÊN

 

L

2803

giới Cụ túc, sư đi tham

học khắp các vị tôn

túc. Năm 19 tuổi, sư

theo ngài Thiện xiêm

ở chùa Khai tiên tại Lô

sơn, rồi lại tham học

ngài Cư nột ở Viên

thông. Sư có tài về thơ

văn và biện luận.

Năm 28 tuổi, sư ở chùa Thừa thiên tại

Giang châu, qua đạo tràngnào sư cũng tận

lực giáo hóa. Các danh sĩ đương thời như Tô

đông pha, Hoàng sơn cốc, v.v… đều kết thân

với sư và xướng họa thi ca. Vua Thần tông rất

kính phục đạo phong của sư, ban cho sư áo

Cao li, bình bát và hiệu là Phật Ấn Thiền Sư.

Tháng giêng niên hiệu Nguyên phù năm

đầu (1098) sư tịch, thọ 67 tuổi, pháp lạp 52,

có ngữ lục để lại đời sau.

[X. Tục truyền đăng lục Q.5; Phật tổ lịch

đại thông tải Q.29; Thích thị kê cổ lược Q.4;

Thiền lâm tăng bảo truyện Q.29].

LIỄU NHÂN

…..

Đối lại: Sinh nhân.

Tiếng dùng trong Nhân minh.

Trong tác pháp 3 phần của Nhân minh,

Liễu nhân thuộc về phần Nhân, là phần

hiểu thấu được chủ trương của người lập

luận, là 1 trong 6 Nhân.

Chủ trương của người lập luận có thể

làm phát sinh sự hiểu biết của người vấn

nạn(địch luận), gọi là Sinh nhân, còn trí tuệ

của người vấn nạn có thể lĩnh hội, liễu giải

được chủ trương của người lập luận, thì gọi

là Liễu nhân. Trong phần Nhân phải có đầy

đủ hai điều kiện này.

Vì thế, đứng về phương diện người lập

luận, Sinh nhân có 3 thứ:

1. Trí sinh nhân: Trí tuệ của người lập

luận.

2. Nghĩa sinh nhân: Nghĩa lí do trí tuệ

ấy sinh ra.

3. Ngôn sinh nhân: Chủ trương ngôn

luận để trình bày nghĩa lí ấy.

Đứng về phương diện người vấn nạn(địch

luận), đối với Liễu nhân, dĩ nhiên cũng phải

như thế: Muốn hiểu rõ lập luận của người

kia, thì cần phải có trí lực, trí lực ấy hiểu

được nghĩa lí, mà biết được nghĩa lí là do

ngôn luận. Do đó, Liễu nhân cũng có 3 thứ:

1. Ngôn liễu nhân: Hiểu rõ ngôn luận

của người lập luận.

2. Nghĩa liễu nhân: Hiểu rõ nghĩa lí của

ngôn luận ấy.

3. Trí liễu nhân: Trí tuệ để hiểu được

nghĩa lí ấy.

Đứng về cả 2 phương diện người lập

luận và địch luận mà nói chung lại thì gồm

có 6 Nhân. Nhưng thực ra không phải có 6

Nhân sai khác nhau, vì ngôn luận của người

lập gọi là Ngôn sinh nhân, mà địch luận

hiểu được là Ngôn liễu nhân; nghĩa lí của

ngôn luận gọi là Nghĩa sinh nhân, mà địch

luận hiểu được nghĩa ấy là Nghĩa liễu nhân;

trí tuệ của người nêu ra nghĩa ấy là Trí sinh

nhân, mà địch luận hiểu được tông nghĩa

của trí ấy là Trí liễu nhân. Một bên làm

cho phát sinh ra, một bên tiếp thu lấy, vì

thế mà cósáu.

Tóm lại, đứng trên lập trường Nhân

minh, chỉ cần Ngôn sinh nhân và Trí liễu

nhân là đủ. Vì Ngôn sinh nhân trực tiếp

nói rõ ý tưởng của mình cho đối phương,

còn Trí liễu nhân của đối phương hiểu được

Ngôn sinh nhân ấy, thế là đủ.

[X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ

tha môn thiển thích; Đông phương luận lí

học (Nhất hanh)]. (xt. Lục Nhân).

LIỄU NHÂN PHẬT TÍNH

Chỉ cho quán trí soi rọi thấy rõ và hiển

bày được chính tính sẵn có của chúng sinh,

là 1 trong 3 tính Phật.

LIỄU NHÂN PHẬT TÍNH

Liễu Nguyên

 

L

2804

Kim quang minh kinh huyền nghĩa

quyển thượng, do ngài Trí khải soạn, cho

rằng giác trí(Phật) chẳng phải thường,

chẳng phải vô thường (tính), lí trí tương

ứng, như người khéo biết kho vàng, trí

này không thể bị phá hoại, nên gọi là Liễu

nhân Phật tính.

[X. kinh Đại bát niết bàn Q.28 (bản Bắc);

Pháp hoa văn cú Q.9 phần cuối; Pháp hoa

kinh huyền nghĩa Q.5 phần cuối]. (xt. Tam

Phật Tính).

LIỄU NHIÊN (1077-1141)

…..

Danh tăng Trung quốc, sống vào đời

Tống, người huyện Lâm hải, tỉnh Chiết

giang, họ Tiết, hiệu Chí dũng, đời gọi là Hổ

khê Tôn giả.

Sư xuất gia năm 7 tuổi, thờ ngài Tường

phù Đạo trung làm thầy. Năm 16 tuổi, sư

thụ giới Cụ túc, học giáo pháp Thiên thai

nơi ngài An quốc tuệ. Sau khi ngài An

quốc tuệ tịch, sư đến theo học ngài Diên

khánh lập, được ngài Diên khánh lập dùng

lễ tiếp đón rất trọng hậu. Lúc đầu sư ở

Quảng nghiêm, sau dời đến Bạch liên tại

Thai châu, ở đó 24 năm, người đến tham

học rất đông.

Năm Thiệu hưng 11 (1141) sư tịch, thọ

65 tuổi.

Sư có các tác phẩm: Chỉ quán viên tông

kí, Giải thập bất nhị môn xu yếu, Hổ khê

tiền hậu tập…

[X. Phật tổ thống kỉ Q.15; Thích môn

chính thống Q.7].

LIỄU NHỨ (1922- )

… ..

Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người huyện

Vĩnh gia, tỉnh Chiết giang.

Ông tốt nghiệp trường Đại học An huy.

Năm 1969, ông ấn hành tập Phật giáo thánh

ca và tổ chức đoàn hợp xướng Từ quang,

dùng âm nhạc đưa người vào đạo.

Ông có các trứ tác: Kim cương kinh giản

chú, Nhật dụng Phật kinh giản chú, Viên

giác kinh giản chú, Pháp hoa kinh tân giải

tân chú…

LIỄU QUÁN (1670-1743)

…..

Thiền sư Việt nam, người làng Bạch mã,

huyện Đồng xuân, tỉnh Phú yên, họ Lê, húy

Thực diệu, tổ khai sáng môn phái Liễu quán.

Sư từng tu tập thiền quán với ngài Thạch

liêm ở chùa Linh mụ. Sau, sư đến trụ ở chùa

Thiền tôn, núi Thiên thai, tỉnh Thừa thiên.

Sư tông hợp giáo nghĩa tông Lâm tế với

Thiền phái Nguyên thiều mà sáng lập ra môn

phái Liễu quán, đặc biệt coi trọng việc lãnh

ngộ chân tâm và lấy Bát nhã làm tâm ấn.

Môn phái này lưu hành rất rộng ở miền

Trung Việt nam.

Sau khi sư tịch, triều đình ban thụy hiệu

“Chính Giác Viên Ngộ Hòa Thượng”.

LIỄU TÔN NGUYÊN (773-819)

……..

Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào

đời Đường, người Hà đông (Vĩnh tế, Sơn

tây), tự Tử hậu, người đời thường gọi ông là

Liễu hà đông.

Thủa nhỏ ông rất thông minh, có tài văn

chương quán tuyệt. Sau khi đỗ Tiến sĩ 3 năm,

ông giữ chức Giám điều úy. Về sau, ông lần

lượt được thăng các chức như: Giám sát ngự

sử lí hành, Giám sát

ngự sử, Lễ bộ viên

ngoại lang, v.v…

Niên hiệu Vĩnh

trinh năm đầu (805),

nhân việc Vương

thúc văn thất thế, ông

bị liên lụy và giáng

chức làm Thứ sử

Thiệu châu. Nhưng

LIỄU TÔN NGUYÊN

Liễu Tôn Nguyên

 

L

2805

đang trên đường đi đến nhiệm sở thì lại bị

biếm làm Tư mã Vĩnh châu. Bị lưu đày ở

vùng đất xa xôi, ông thường đến chỗ núi rừng

hoang vắng, trời đất bao la, ông cảm thấy lòng

thanh thản, lâng lâng và tự nhiên hướng tâm

về Phật pháp. Từ đó ông thường giao du với

các vị Thiền sư, những niềm cảm khái trong

lòng bỗng tuôn tràorathành một áng văn

chương nổi tiếng, đó là thiên Trinh phù, rồi

từ đó những văn bia của các vị Đại đức ở

miền Nam đều do ông soạn.

Năm Nguyên hòa thứ 10 (815), ông được

triệu về kinh đô, tháng 3 năm đó, ông ra

làm Thứ sử Liễu châu, sau đổi đến Liên châu,

ông làm quan ở đây được 3 năm, nhân dân

đều vui mừng, năm Nguyên hòa 14, ông qua

đời hưởng dương 47 tuổi.

Ông có các tác phẩm: Đông hải nhược

giải 1 quyển; Liễu hà đông tập 45 quyển,

Ngoại tập 2 quyển, Trinh phù 1 thiên.

[X. Cư sĩ truyện Q.19].

LINH

..

I. Linh.

Phạm:Ghaịỉà.

Loại chuông đẩu nhỏ bằng đồng, hình

cái chén, đường kính khoảng 10 phân tây,

dùng để đánh trong các thời khóa tụng niệm.

Thiền tông dùng loại pháp khí này đầu tiên.

Còn Mật giáo gọi nó là Kim uyển.

II. Linh.

Cũng gọi Kim cương linh, Kim linh.

Pháp khí bằng đồng, hình cái chuông,

bên trong có quả lắc, trên có cán cầm.

Trong Mật giáo, khi tu pháp, lắc linh

để đánh thức các vị tôn hoặc làm cho các

Ngài hoan hỉ. Linh có 3 nghĩa: Thức tỉnh,

hoan hỉ, và thuyết pháp. Lắc linh để cúng

dường chư tôn, gọi là Chấn linh. Lại vì cán

linh là dùng một phần chày kim cương, cho

nên gọi là Kim cương linh. Tùy theo hình

dáng của cán cầm mà linh được chia làm 5

loại: Linh 1

chĩa, linh 3 chĩa,

linh 5 chĩa, linh

báu, linh tháp

(linh suất đô

bà)… Thông

thường 5 loại

linh và 5 loại

chày kim cương

được đặt ở

những vị trí cố

định trên đại

đàn tu pháp. Số “5” là tượng trưng cho 5

trí 5 Phật, linh tiêu biểu cho thuyết pháp.

Chày kim cương là hình Tam muội da của

Kim cương tát đóa, vị tôn thứ nhất, 1 trong

37 vị tôn; còn Kim cương linh là hình Tam

muội da của bồ tát Kim cương linh, là vị

tôn cuối cùng.

III. Linh.

Loại chuông nhỏ, bên trong có con lắc,

được treo trên màn báu hoặc trang nghiêm

trên tàu mái trước điện Phật, mỗi khi gió

thổi làm lay động thì linh phát ra âm thanh

như trỗi nhạc.

Kinh Di lặc thướng sinh (Đại 14, 419

trung), nói: “Bấy giờ, trăm nghìn vị Phạm

vương ở 10 phương, mỗi vị đều cầm một

vật báu nhiệm mầu của Phạm thiên, lấy đó

làm linh báu, treo trên bảo trướng”.

LINH ẨN SƠN

Cũng gọi Vũ lâm sơn, Linh uyển, Tiên

cư.

Tên núi, ở gần Tây hồ, Hàng châu, tỉnh

Chiết giang, là 1 trong 5 núi nổi tiếng của

Phật giáo Trung quốc.

Cứ theo Hoàn vũ kí thì các danh sĩ Hứa

do, Cát hồng v.v… đều ẩn cưtạiphía tây

núi này. Núi có ngọn Bắc cao phong là cao

nhất. Cùng với Nam cao phong gọi là “Song

phong sáp vân” (2 ngọn núi cắm vào mây), là

LINH ẨN SƠN

Linh tháp Linh 5 chĩa

 

L

2806

một trong 10 thắng cảnh ở Tây hồ. Dưới

chân núi có chùa Linh ẩn, là ngôi chùa cổ

nổi tiếng.

LINH ẨN TỰ

Cũng gọi Linh thứu tự.

Chùa ở phía trước ngọn Phi lai, chân núi

Linh ẩn ở Tây hồ, Hàng châu, tỉnh Chiết

giang, Trung quốc.

Vào niên hiệu Hàm hòa năm đầu (326)

đời Đông Tấn, có vị sa môn người Ấn độ

tên là Tuệ lí đến đây, trông thấy ngọn Phi

lai, khen rằng (Đại 49, 339 hạ): “Ngọn núi

nhỏ của Linh thứu ở Thiên trúc không

biết đã bay đến đây bao giờ? Ngày đức Phật

còn tại thế, có nhiều vị tiên linh ẩn cư tại

núi này”. Ngài bèn trụ lại đây và xây chùa,

đặt tên là Linh ẩn. Năm Đại lịch thứ 6

(771) đời Đường, chùa được trùng tu, đến

niên hiệu Hội xương (841-846), chùa bị

phá hủy.

Vào thời Ngũ đại, vua Trung ý nước Ngô

việt xây dựng lại, toàn chùa có 9 lầu, 18 gác,

73 điện, hơn 1.300 gian phòng, 3.000 chư

tăng, cực thịnh một thời. Năm Cảnh đức

thứ 4 (1007) đời Tống, chùa được đổi tên là

Cảnh đức Linh ẩn thiền tự. Cuối năm Kiến

viêm (1127-1130), chùa bị giặc Hồ phá hủy,

đến khoảng năm Thiệu hưng (1131-1162)

mới khôi phục lại được cảnh chùa như xưa,

Thiền sư Tuệ viễn trụ trì, giáo hóa rất thịnh.

Năm Chí chính 19 (1359) đời Nguyên, chùa

bị phá hủy. Khoảng năm Hồng vũ (1368-

1398) đời Minh, chùa được tái thiết, đổi tên

chùa là Linh ẩn như hiện nay. Khoảng năm

Khang hi (1662-1722) đời Thanh, chùa được

ban hiệu là Vân Lâm Thiền Tự, nhưng dân

gian vẫn gọi theo tên cũ.

Từ khi được sáng lập đến nay, chùa Linh

ẩn đã trải qua hơn 1.600 năm, từng bị phá

hủy 14 lần bởi chiến tranh, thiên tai. Những

kiến trúc trong chùa mà ta thấy ngày nay

phần lớn là do người đời sau xây cất lại,

riêng 2 tòa tháp đá 8 góc 9 tầng trước Đại

Hùng Bảo Điện và 2 cột đá khắc kinh trước

điện Thiên vương đều là những di vật của

thời Ngũ đại, do nước Ngô việt kiến tạo.

Những nham thạch của ngọn Phi lai trước

chùa đã do tạo hóa xếp đặt thành tầng

thành lớp, đẹp một cách kì lạ, ở trong có

nhiều hang động. Trên vách núi và trong,

ngoài các hang động, có 338 pho tượng

Phậtđược khắc vào các thời Ngũ đại,

Tống và Nguyên. Trong đó, các tượng

được khắc vào

đời Nguyên là

nhiều hơn cả,

lại vì do thợ

tạo tượng đời

Nguyên đều

sùng tín Lạt

ma giáo, cho

nên các tượng

phần nhiều

mang hình

dáng tượng

của Mật tông.

[X. Tống cao tăng truyện Q.14, 15; Phật

tổ thống kí Q.26, 36; Đại minh nhất thống

chí Q.38; Cổ kim đồ thư tập thành thần dị

điển thứ 110; Sơn xuyên điển thứ 105].

LINH BẠ

…. .

Cũng gọi Quá khứ trướng, Linh danh

bạ, Linh hội bạ, Trước quỉ bạ, Quỉ bạ,

Thường lạc kí, Điện hương lục.

Quyển sổ ghi chép danh hiệu Phật, Bồ

tát để lễ bái và tên người chết để cầu nguyện

hàng ngày.

Đầu đời Đường, Giới thiền sư vâng

mệnh vua đem phối hợp mỗi ngày trong

30 ngày của 1 tháng với danh hiệu của 1 vị

Phật, ngày mùng 1 là Phật Định quang, cho

đến ngày 30 là Phật Thích ca. Hàng ngày lễ

LINH BẠ

Tháp và chùa Linh Ẩn

 

L

2807

bái danh hiệu Phật, Bồ tát là tu phúc báo

nhân thiên.

Người đời sau lập Linh bạ ghi chép danh

hiệu Phật, Bồ tát để lễ bái, cúng dường hàng

ngày, chính là đã bắt nguồn từ đó.

LINH BIÊN (477-522)

…..

Danh tăng Trung quốc, sống vào thời

Bắc Ngụy, người Tấn dương, Thái nguyên

(thuộc tỉnh Sơn tây).

Sư xuất gia từ thủa nhỏ, thường đọc

kinh Đại thừa và có chí nguyện chú thích

kinh Hoa nghiêm. Sau, sư đến chùa Thanh

lương trên núi Ngũ đài, niên hiệu Hi bình

năm đầu (516) sư bắt đầu viết luận Hoa

nghiêm, năm sau sư dời đến chùa Tung

nham tại núi Huyền đoài; đến năm Thần

qui thứ 3 (520) sư hoàn thành bộ luận Hoa

nghiêm 100 quyển. Vua Hiếu minh đế

thường thỉnh sư vào đại nội giảng kinh Đại

phẩm bát nhã.

Năm Chính quang thứ 3 (522) sư tịch ở

chùa Dung giác, hưởng dương 46 tuổi. Luận

Hoa nghiêm do sư soạn nay chỉ còn quyển

thứ 10 là chú thích phẩm Như lai quang

minh giác.

[X. Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.1;

Đại phương quảng Hoa nghiêm kinh cảm

ứng truyện; Cổ thanh lương truyện

Q.thượng].

LINH BÌNH

Dáng đi thất thểu.

Phẩm Tín giải kinh Pháp hoa (Đại 9, 17

trung), nói: “Linh bình tân khổ ngũ thập dư

niên”(Đắng cay thất thểu hơn 50 năm).

LINH CHI (1048-1116)

Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Bắc

Tống, người Dư hàng (huyện Hàng, tỉnh

Chiết giang), họ Đường, sư vốn tên là Nguyên

chiếu, nhưng trụ trì chùa Linh chi ở Hàng

châu trong 30 năm, nên người đời gọi là Linh

chi tôn giả.

(xt. Nguyên Chiếu).

LINH CHIẾU

I. Linh Chiếu.

Nữ cư sĩ Phật giáo Trung quốc, là con

gái của Bàng uẩn ở Tương châu.

Bàng cư sĩ ngữ lục quyển thượng (Vạn

tục 120, 31 hạ), ghi: “Cư sĩ sắp nhập tịch,

bảo Linh chiếu rằng: Hãy xem chừng mặt

trời, hễ đến giờ ngọ thì báo cho ta biết.

Linh chiếu liền thưa: Mặt trời đã đúng

ngọ rồi, nhưng bị nhật thực. Cư sĩ vừa

bước ra cửa để xem, Linh chiếu liền lên

chỗ ngồi của cha, ngồi chắp tay mà hóa.

Cư sĩ cười bảo: Con gái của ta nhanh

thật!”.

Người sau dùng tên Linh chiếu để gọi

chung cho các cô gái.

[X. Phật tổ thống kỉ Q.40].

II. Linh Chiếu (870-947).

Thiền sư Cao li, đến Trung quốc vào thời

Ngũ đại.

Đầu tiên, sư đến Mân (Phúc kiến), Việt

(Chiết giang) tham lễ ngài Tuyết phong

Nghĩa tồn và được nối pháp. Tính sư điềm

đạm, sống đơn giản, chỉ giữ 1 áo nạp(áo vá),

siêng làm mọi việc, người vùng Mân gọi sư

là Chiếu Bá Nạp(Linh chiếu áo vải). Sư lần

lượt ở núi Tề vân tại Vụ châu, viện Kính

thanh ở Việt châu, viện Báo từ, người đến

theo học rất đông. Sau, Trung hiến vương

họ Tiền xây chùa Long hoa ở Hàng châu,

thờ linh cốt của Phó Đại sĩ Kim hoa, ban

sắc cho sư làm trụ trì.

Năm Thiên phúc 12 (947) sư tịch, thọ

78 tuổi, thụy hiệu là Chân Giác Đại Sư.

[X. Tổ đường tập Q.11; Cảnh đức truyền

đăng lục Q.18; Liên đăng hội yếu Q.24].

LINH CHIẾU

 

L

2808

LINH CỐC TỰ

……..

Chùa ở phía nam Chung sơn, đông bắc

thành phố Nam kinh, tỉnh Giang tô,

Trung quốc, do thiền sư Bảo chí sáng lập

vào thời Lưu Tống thuộc Nam triều, có

tên là chùa Bảo lâm. Thời Lương vũ đế,

chùa được đổi tên là Khai thiện, đến đời

Tống gọi là chùa Thái bình hưng quốc,

sau lại đổi là chùa Tưởng sơn, cửa sơn môn

(Tam quan) có tấm biển đề dòng chữ: Đệ

Nhất Thiền Lâm. Khoảng năm Hồng vũ

(1368-1398) đời Minh, chùa được dời đến

chân núi phía đông, được vua ban hiệu là

chùa Linh cốc.

Chùa này có qui mô rất lớn, từ sơn

môn(Tam quan) đến Đại điện cách nhau

khoảng 3 cây số, dọc đường nhà điện san

sát, được xem là ngôi chùa nổi tiếng bậc

nhất ở Kim lăng. Về sau, chùa bị giặc Thái

bình thiên quốc phá hủy, chỉ còn lại Đại

điện là kiến trúc đầu đời Minh. Năm Dân

quốc 17 (1928), sau cuộc Bắc phạt, chính

phủ có xây tháp để kỉ niệm các chiến sĩ

trận vong ở chùa này và đặt tên là Linh

cốc tự tháp.

Hiện nay, trong chùa có tháp xá lợi thờ

xương đầu của ngài Huyền trang và tàng trữ

các di vật văn hóa Phật giáo được tìm thấy

trong tháp Lôi phong như: Kinh Nhất thiết

Như lai tâm bí mật toàn thân xá lợi bảo

khiếp ấn đà la ni, di tích chép kinh của người

đời Đường, v.v…

[X. Kim lăng phạm sát chí Q.3; Đại minh

nhất thống chí Q.6].

LINH CỐT

…..

Phạm:Zarìra

Hán âm: Xá lợi.

Cũng gọi Cốt thân.

Thông thường chỉ cho di cốt của Phật,

tức là xá lợi Phật. Ngoài ra di cốt của người

chết cũng được tôn xưng là Linh cốt.

Trong Sắc tu Bách trượng thanh qui

quyển 3, có mục “Linh cốt nhập tháp”, tức

nói về việc đưa di cốt của vị tăng quá cố vào

tháp sau khi thiêu.

[X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5].

LINH CÚNG

Cúng thức ăn chay trước bài vị của người

chết.

Trong vòng 49 ngày sau khi chết, người

chết vẫn chưa đầu thai qua thế giới khác,

còn là thân Trung ấm, cũng gọi Kiện đạt

phược, Hán dịch là Tầm hương, tức là tìm

mùi thơm mà ăn, bởi thế đặt cúng các thức

ăn chay cho người chết hưởng mùi hương

của thực vật. Nếu người phúc ít thì hưởng

mùi hôi, người phúc nhiều thì hưởng mùi

thơm.

[X. luận Câu xá Q.9; Tứ phần luật san

phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng].

LINH DIÊU

…..

Thiêng liêng mầu nhiệm. Chỉ cho việc

vi diệu bất khả tư nghị mà trí của con người

không lường biết được.

Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự

quyển hạ phần 1 (Đại 48, 409 thượng), nói:

“Chỉ vì tâm ấy vốn linh diệu tự tại, nhưng

LINH DIÊU

Kinh Nhất thiết Như lai bí mật toàn thân xá lợi bảo khiếp ấn đà la

ni và di bản chép kinh vào đời Đường được cất giữ ở chùa Linh cốc

 

L

2809

không giữ được tự tính, nên theo duyên mê

ngộ, tạo nghiệp chịu báo thì gọi là chúng

sinh, còn nếu tu đạo chứng được chân lí thì

gọi là Phật”.

LINH DỤ (518-605)

Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Tùy,

người huyện Khúc dương, Định châu (tỉnh

Hà bắc), họ Triệu.

Năm 18 tuổi, sư xuất gia ở chùa Ứng

giác tại quận Triệu. Năm 22 tuổi, sư theo

ngài Đạo bằng học Địa luận, 3 năm sau, trở

về Định châu, thụ giới Cụ túc. Năm 26 tuổi,

sư theo ngài Ẩn công học luật Tứ phần, theo

2 ngài Tung, Lâm học luận Thành thực, theo

3 ngài An, Du, Vinh học luận Tạp a tì đàm

tâm. Sau, sư theo học ngài Đại thống Pháp

thượng (495-580), từ đó sư chuyên học Hoa

nghiêm, Niết bàn, Địa luận, Luật bộ. Sư còn

thông suốt cả ngoại điển, nổi tiếng ở đất

nghiệp. Lúc học hỏi, sư thường tìm hiểu sâu

rộng những cách giải thích xưa và phát hiện

những điều mới lạ. Khi giảng thuyết thì sư

chỉ nói về cương lĩnh, chứ không giảng từng

câu từng chữ, do đó 7 chúng đều cảm phục,

tôn sư là Dụ Bồ Tát.

Khi Vũ đế nhà Bắc Chu hủy diệt Phật

pháp, sư hướng dẫn hơn 20 vị tăng đồng

học vào ở trong xóm làng vắng vẻ, ban ngày

đọc sách đời, ban đêm bàn Phật lí. Đến đời

Tùy giáo pháp được phục hưng, sư đi du

hóa các vùng Yên, Triệu v.v…

Năm Khai hoàng thứ 10 (590) sư đến

chùa Linh thông ở Lạc châu, năm sau sư trụ

ở chùa Đại từ tại Tương châu, rồi vâng sắc

trụ ở chùa Hưng thiện tại Trường an. Vua

muốn trao chức Quốc thống cho sư, nhưng

sư nhất định chối từ, rồi trở về trụ ở chùa

Diễn không tại Tương châu, chuyên việc

thuyết giảng.

Niên hiệu Đại nghiệp năm đầu (605) sư

tịch, thọ 88 tuổi.

Sư có các tác phẩm: Thập địa kinh sớ,

Duy ma kinh sớ, Bát nhã kinh sớ, Đại thừa

nghĩa chương, Thánh tích kí, Phật pháp đông

hành kí, An dân luận, Diệt pháp luận, Tế

thế tam bảo kí.

[X. Tục cao tăng truyện Q.9; Hoa nghiêm

kinh truyện kí Q.2; Thích thị lục thiếp Q.hạ;

Tân tu khoa phân lục học tăng truyện Q.13;

Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.2;

Cựu đường thư kinh tịch chí thứ 27].

LINH DƯƠNG QUẢI GIÁC

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Dê rừng treo sừng mà ngủ. Thiền gia

dùng nhóm từ này để ví dụ người đại ngộ,

dứt bặt sự mê chấp, giống như con dê rừng

khi ngủ treo sừng lên cành cây, chân không

chạm đất, hoàn toàn không để lại dấu vết gì.

Cảnh đức truyền đăng lục quyển 16 (Đại

51, 328 trung), nói: “Nếu ta nói đông nói

tây, thì ông đuổi theo lời nói, còn nếu ta

như “linh dương quải dác” thì ông tìm bắt

chỗ nào?”

LINH ĐỘ TỰ

Chùa ở núi Linh độ (núi Đại đầu), phía

tây thôn Nguyên lãng hạ tại Tân giới, Hương

cảng, đối diện với núi Bôi độ.

Cứ theo thiên Thích lão trong Quảng

đông khảo cổ tập yếu và mục Nhân vật lược

trong Bảo an huyện chí, thì vào đầu năm

Nguyên gia (424?) đời vua Văn đế nhà Lưu

Tống thuộc Nam triều, Thiền sư Bôi độ đến

trụ ở núi Đồn môn (tức núi Bôi độ), sau dời

đến trụ ở 1 ngọn núi nhỏ cách phía ngoài

núi Đồn môn vài dặm, gọi là núi Linh độ,

trong núi có chùa, tức là chùa Linh độ.

Hình dáng núi Linh độ giống như con

mãnh hổ ngồi trên mặt đất, còn chùa này

được xây dựng trên đầu con hổ. Bên cạnh

chùa là cây rừng, hang đá, có dòng suối trong

LINH ĐỘ TỰ

 

L

2810

mát, gọi là giếng Bôi độ, nước ngọt, trong

vắt, không bao giờ cạn. Trong chùa có một

quả chuông được đúc vào khoảng năm Đạo

quang.

Chùa này không rõ được sáng lập bao

giờ, chỉ biết là vào đời Tống và Minh chùa

được trùng tu. Năm Đạo quang 20 (1840)

đời Thanh, chùa được dời đến địa chỉ hiện

nay, năm Hàm phong 11 (1861) chùa được

xây dựng lại và năm Dân quốc 11 (1922)

được trùng tu.

LINH ĐƯỜNG

Điện đường thờ thần Phật có sự linh

thiêng kì lạ, hoặc chỉ căn nhà cúng tế di thể

người chết.

LINH GIÁC

…. .

Chỉ cho tính Phật giác ngộ sẵn có trong

chúng sinh, hoặc chỉ cho trí tuệ linh diệu

không thể nghĩ bàn.

Ngoài ra, tính Phật sẵn có của chúng sinh

với trí tuệ của Phật không khác, gọi là Linh

giác bất nhị.

LINH GIỚI

…..

Chỉ cho thế giới tối tăm của vong linh.

Diệm la vương cúng hành pháp thứ

đệ (Đại 21, 376 thượng), nói: “Với lòng

kính cẩn, đem hương thơm, thức ăn uống,

tiền của, vải vóc, v.v… trước dâng cúng

chư Phật mười phương (…) tất cả Minh

quan, Minh đạo, Tăng, Ni, 500 quỉ đói ở

Linh giới”.

LINH HÀ

…..

Cũng gọi Long tuyền.

Sông có loài rồng ở. Nhờ sức của rồng,

dù có hạn hán, nước sông vẫn không khô

cạn.

An lập tập quyển thượng (Đại 47, 7 trung

nói: “Gửi hoa nơi Ngũ tịnh, nắng gió không

sợ héo; gửi nước nơi Linh hà, trời hạn không

làm cạn”.

LINH HỒN

Thông thường, linh hồn được xem là yếu

tố làm chủ tể các hoạt động và tri giác của

con người.

Theo sự nghiên cứu của các nhà khảo cổ

học và nhân loại học cận đại, cách đây 50.000

năm về trước con người đã có quan niệm về

linh hồn và cho rằng sau khi chết linh hồn

vẫn tiếp tục tồn tại. Nhưng nói chung thì

quan niệm về linh hồn của người nguyên

thủy rất đơn giản, chất phác, thường mang

tính cách vật chất mạnh mẽ. Mãi đến sau

khi tông giáo, triết học dần dần phát triển,

thì quan niệm linh hồn của nhân loại mới

hướng tới “tinh thần thống nhất” phi vật

chất hóa. Chẳng hạn có những tông giáo,

triết học tin rằng linh hồn có thể tồn tại độc

lập sau khi nhục thể tan rã, rồi tiến bước

nữa mà cho rằng linh hồn là thực thể tinh

thần bất diệt.

Tuy có nhiều tông giáo, triết học chủ

trương linh hồn tồn tại, nhưng bàn về đặc

tính, nguồn gốc, cứu cánh của linh hồn là gì

thì lại có rất nhiều quan điểm khác nhau.

LINH HỒN

Cổng chùa Linh Độ

 

L

2811

Có thuyết chủ trương linh hồn đồng nghĩa

với tinh thần hoặc tâm ý.

Gần đây, trong triết học, người ta thấy

xuất hiện những học thuyết như: Hiện tượng

luận, Hiện thực luận, Duy vật luận v.v… đại

khái đều phản đối thuyết linh hồn tồn tại,

không thừa nhận nó là 1 thực thể.

Phật giáo vốn không chủ trương “Linh

nhục nhị nguyên quan”, “Linh hồn bất diệt

luận”. Đối với vấn đề đồng, dị giữa linh hồn

và nhục thể, đức Phật không giải đáp. Nghĩa

là đức Phật đã không trả lời câu hỏi như

linh hồn và thể xác là 1 hay khác nhau, mà

Ngài cũng không thừa nhận linh hồn và thể

xác là 2 cái hoàn toàn tách biệt hẳn nhau.

Đức Phật vốn chủ trương thực tiễn, nên coi

trọng sự tồn tại của tâm và triệt để đứng

trên lập trường tâm, vật tương quan, chẳng

coi cái nào là thực thể bất diệt, cũng chẳng

coi cái nào là giả tướng sinh diệt, mà thừa

nhận tâm, vật đều là không, không có tự

tính. Nhưng, từ sau khi thuyết luân hồi

chuyển sinh được Phật giáo sử dụng, thì vấn

đề chủ thể của luân hồi đã dẫn đến cuộc

tranh luận trọng đại trong Phật giáo, như

“Thần diệt bất diệt luận tranh” ở thời Nam

Bắc triều v.v… kết quả là chủ thể của luân

hồi mang sắc thái giống như linh hồn.

(xt. Thần Diệt Bất Diệt Luận Tranh).

LINH HỮU HỘI

Một giáo phái thuộc tông Nhật liên, Nhật

bản, do ông Cửu bảo dác thái lang (1892-

1944) sáng lập.

Linh hữu nghĩa là liên kết linh hồn của

chính mình với vạn linh trong vũ trụ.

Phái này chủ trương kết hợp tín ngưỡng

kinh Pháp hoa với tập tục tế tổ và cho rằng

thể hiện pháp Bồ tát của trí Phật là dạy người

cúng dường tổ tiên; mà cúng dường linh hồn

của tổ tiên cũng tức là cúng dường vạn linh

trong vũ trụ, khiến cho Thần, Phật, Linh

hợp làm một; nhờ lòng tin thành kính ấy

mà Thần, Phật, Linh cảm ứng lẫn nhau rồi

phát sinh linh nghiệm.

Hội này lấy tín ngưỡng kinh Pháp hoa

và cúng dường tổ tiên làm giáo nghĩa nền

tảng. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, hội

này lại chia ra nhiều giáo phái khác.

LINH KIÊU (?-?)

Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm

tế, sống vào đời Đường, là đệ tử của Ngài

Mã tổ Đạo nhất. Sư từng ở ẩn trong hang

động trước núi Cổ sơn ở huyện Mân, tỉnh

Phúc kiến, tức nay là chùa Dũng tuyền ở

chân ngọn núi Bạch vân thuộc Cổ sơn.

Tương truyền,

vùng đất này vốn

là cái đầm sâu,

trong đầm có con

rồng độc, thường

làm hại dân cư.

Năm Kiến trung

thứ 4 (783) đời

Đường, viên quan

ở quận này là Bùi

trụ thỉnh sư chế

phục rồng; sư đến

bên bờ đầm tụng kinh Hoa nghiêm, rồng

bèn bỏ đi. Dân chúng thâm cảm uy đức của

sư, nên xây cất một ngôi chùa ở đầm này và

thỉnh sư trụ trì, được vua ban tấm biển “Hoa

Nghiêm”, gọi là chùa Hoa nghiêm. Sư ở đây

hoằng pháp rất thịnh.

[X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư

vân)].

LINH MỘC ĐẠI CHUYẾT (1870-1966)

Học giả Phật giáo Nhật bản, thuộc tông

Lâm tế.

Ông giỏi Anh văn, các sách Thiền viết

bằng tiếng Anh của ông có tới vài mươi bộ.

LINH MỘC ĐẠI CHUYẾT

Linh Kiệu

 

L

2812

Ông có công rất lớn đối với việc truyền bá

tư tưởng Đông phương và Thiền học sang

các nước Âu Mĩ.

Năm lên 5 tuổi, cha mất. Năm 21 tuổi

ông vào trường chuyên môn ở Đông kinh

(tiền thân của đại học Tảo đạo điền ở Đông kinh)

để học Anh văn. Về sau, ông theo ngài Kim

bắc Hồng xuyên học Thiền ở chùa Viên giác

tại Liêm thương. Năm sau, ngài Kim bắc

Hồng xuyên thị tịch, ông đến ngài Tông diễn

tham thiền, chuyên tâm tu hành và đọc rất

nhiều sách nói về Thiền, Phật học, triết học

Tây phương, v.v… Trong thời gian này, ông

liên tục phiên dịch các sách tiếng Anh và

làm chủ biên tạp chí trong 11 năm. Năm 30

tuổi sau khi phiên dịch cuốn “Phật Đà Chi

Phúc Âm” (The Buddha’s Gospel), ông lại

hoàn thành bản dịch tiếng Anh bộ luận “Đại

Thừa Khởi Tín” của ngài Mã minh

(Azvaghowa’s Discourse on the Awakening

of Faith in the Mahàyàna). Năm 35 tuổi,

ông theo ngài Tông diễn đi giảng diễn ở các

vùng thuộc miền Đông châu Mĩ. Năm 37

tuổi, ông cho ra đời cuốn “Đại Thừa Phật

Giáo Khái Luận” (Out lines of Mahàyàna

Buddhism) bằng tiếng Anh.

Sau đó, ông du học ở các nước Anh, Đức,

Pháp, Thụy sĩ… Sau khi về nước, ông làm

giáo sư ở các trường Đại học Đế quốc ở Đông

kinh, Đại học Đại cốc và chủ biên tạp chí

“Thiền Đạo”. Ông lại cộng tác với ông Tá tá

mộc nguyệt tiều phiên dịch các sách nói về

giáo nghĩa Chân tông ra tiếng Anh. Năm 41

tuổi, ông kết hôn. Năm Chiêu hòa thứ 8

(1933), lúc đó ông đã 63 tuổi, đạt được học

vị Tiến sĩ văn học qua luận án “Nghiên cứu

kinh Lăng già”. Năm sau ông đến các nước

Triều tiên, Trung quốc… tìm các di tích Phật

giáo. Ông đã nhiều lần sang Mĩ dạy học và

giảng diễn. Ông từng thành lập “Hiệp hội

tín đồ Phật giáo Đông phương” ở trường Đại

học Đại cốc, xuất bản tạp chí bằng tiếng

Anh, phát hành liên tục trong 20 năm. Ông

thiết lập văn khố Tùng Gia Cương ở chùa

Đông khánh tại Liêm thương. Năm 79 tuổi,

ông được tiến cử làm hội viên của viện Học

sĩ Nhật bản và được tặng huân chương văn

hóa. Ông từng tham dự Đại hội các nhà Triết

học Đông Tây lần thứ 2, thứ 3 do trường

Đại học Hạ uy di tổ chức.

Năm 85 tuổi,

ông thành lập và

làm Hội trưởng

hội Nghiên cứu

Đại tạng kinh Tây

tạng, xúc tiến việc

in chụp Đại tạng

kinh Tây tạng bản

Bắc kinh, gồm

151 quyển (Cam

châu nhĩ 45

quyển, Đan châu

nhĩ 105 quyển,

Mục lục bộ 1 quyển) và tham gia biên soạn

“Vọng Nguyệt Phật Giáo Đại Từ Điển”.

Năm 91 tuổi, ông lại ấn hành “Tây Tạng

Đại Tạng Kinh Tục Thiên” bản Bắc kinh

(Tông khách toàn thư, Chương gia toàn

thư) gồm 13 quyển, Tây Tạng Đại Tạng

Kinh Tổng Mục Lục và Sách Dẫn 4 quyển.

Năm 92 tuổi, ông cải tổ hội Nghiên cứu

thành Linh Mộc Học Thuật Tài Đoàn”.

Năm sau, ông hoàn thành “Vọng nguyệt

Phật giáo đại từ điển bổ di” 2 quyển.

Năm Chiêu hòa 41 (1966) ông qua đời,

thọ 97 tuổi.

Ông có các tác phẩm: Linh mộc đại

chuyết tuyển tập, Linh mộc đại chuyết

toàn tập.

[X. Linh mộc đại chuyết đích sinh bình

dữ tư tưởng (Thu nguyệt Long mân)].

LINH MỘC ĐẠI CHUYẾT TUYỂN TẬP

Tác phẩm, 26 quyển, do ông Linh mộc

đại chuyết (1870-1966), người Nhật bản

LINH MỘC ĐẠI CHUYẾT TUYỂN TẬP

Linh Mộc Đại Chuyết

 

L

2813

soạn. Trong các tác phẩm của Linh mộc đại

chuyết, tuyển tập này là bộ sách tương đối

phổ thông, dễ hiểu, mọi người đều có thể

tiếp thu được.

Nội dung sách này chia làm 4 phần:

1. Về Thiền, gồm các bộ luận: Tư tưởng

thiền, Con đường vào thiền, Nghiên cứu

kinh nghiệm thiền, Tư tưởng cơ bản của ngài

Lâm tế, Thiền và văn hóa Nhật bản, Sinh

hoạt thiền, Ý nghĩa sinh hoạt Thiền đường

thời cận đại, v.v…

2. Về Tịnh độ, gồm các bộ luận nói về

sự thực thể nghiệm tông giáo, về người cực

tốt, về hệ thống tư tưởng Tịnh độ, v.v…

3. Về Phật giáo, gồm các luận nói về

Phật giáo và Cơ đốc giáo, Đại ý của Phật

giáo, Phật giáo Nhật bản, Điểm nổi bật của

tư tưởng Phật giáo trên lịch sử văn hóa

Viễn đông, Sinh hoạt Phật giáo, và tính bị

động.

4. Tổng luận, gồm các luận nói về tông

giáo với con người hiện đại, Đông phương

và Tây phương, Tông giáo nhập môn, Linh

tính Nhật bản, Tính phủ định văn hóa của

tông giáo, Nói với thanh niên.

[X. Linh mộc đại chuyết đích nhân dữ

học vấn (Cổ điền Thiệu khâm)].

LINH MỘC HỌC THUẬT TÀI ĐOÀN

Một tổ chức nghiên cứu học thuật do

giới Phật giáo và giới kinh tế tài chính

Nhật bản liên kết thành lập sau chiến

tranh thế giới lần thứ 2 với mục đích

nghiên cứu tư tưởng Đông phương và tông

giáo thế giới.

Những vị lãnh đạo chủ chốt trong đoàn

thể này gồm những học giả Phật giáo nổi

tiếng quốc tế như: Linh mộc đại chuyết,

Kim thương viên chiếu, Trủng bản thiện

long, Sơn khẩu ích, Trường vĩ nhã nhân,

Trung thôn nguyên, Cửu tùng chân nhất,

v.v… Ngoài ra còn có 1 số các học giả,

lãnh tụ các tông phái làm hội viên, nghiên

cứu viên, bình luận viên, v.v… cho nên từ

khi thành lập đến nay, tổ chức này được

khen ngợi là đoàn thể nghiên cứu học

thuật cao nhất trong giới văn hóa Phật

giáo hiện nay. Hội trưởng là ông Linh mộc

đại chuyết, Phó hội trưởng là ông Cửu

tùng chân nhất. Sau khi ông Linh mộc

đại chuyết qua đời thì chức vụ Hội trưởng

bỏ trống.

Từ ngày thành lập đến nay, ngoài việc

đặt ra các khoản tiền khen thưởng để giúp

đỡ các học giả nghiên cứu, Tài đoàn này

còn xuất bản nhiều bộ sách lớn, các loại

kinh điển nguyên bản của Phật giáo và

các sách nghiên cứu chuyên đề. Trong đó,

quan trọng nhất gồm các bộ: “Ấn độ Phật

giáo sử”(nguyên văn Tây tạng, được dịch ra

tiếng Đức) của Đa la na tha (Phạm:

Tàranàtha), “Phật giáo sử”(bản dịnh tiếng

Anh)của Bố đốn (Tạng: Bu-ston), Trung

biên phân biệt luận thích sớ, Trung biên

phân biệt Thế thân thích luận(bản tiếng

Phạm), Phạm tạng Anh Bát nhã kinh điển

từ điển, Tạng Hòa đối chiếu cứu cánh

Nhất thừa bảo tính luận nghiên cứu, Phạm

Hòa đại từ điển, Vọng nguyệt Phật giáo

đại từ điển(bản tăng đính).

Ngoài ra, tổ chức này còn in chụp bộ

Đại tạng kinh Tây tạng bản Bắc kinh, gồm

168 quyển, bắt đầu in vào năm 1955 và hoàn

thành vào năm 1961. Rồi từ năm 1964, mỗi

năm Tài đoàn phát hành 1 kì “Niên báo

nghiên cứu”, gồm những luận văn chuyên

môn do các ủy viên văn hóa của Tài đoàn

soạn, phần nhiều là việc báo cáo về việc

nghiên cứu các văn hiến tiếng Phạm, Tây

tạng và có phụ thêm hơn 10 bài phê bình

sách với nội dung nghiêm túc, đều rất cần

thiết cho việc nghiên cứu Phật giáo học

đương đại.

[X. Cận đại Nhật bản Phật giáo nghiên

cứu đích phát triển (Lâm truyền phương)].

LINH MỘC HỌC THUẬT TÀI ĐOÀN

 

L

2814

LINH MỘNG

Giấc mộng linh nghiệm, không thể tưởng

tượng.

Thông thường, dân gian tin rằng mộng

là do chư thiên, thần, Phật báo trước một

việc gì sắp xảy ra, căn cứ vào điềm mộng

lành, dữ, chính, tà có thể đoán được việc

lành, dữ sắp xảy ra trong hiện thực, cho

nên bất luận người báo mộng là thần, Phật

hoặc tổ tiên, nếu như cảnh trong mộng

đúng với hoàn cảnh thực tế ngày sau, thì

gọi là Linh mộng. Thuyết nhất thiết hữu

bộ của Tiểu thừa cho linh mộng là có thật,

nhưng Đại thừa thì bác bỏ và cho đó là

vọng kiến. Trong kinh điển Phật có rất

nhiều chỗ ghi chép về linh mộng, như kinh

Tu hành bản khởi quyển thượng, kinh Quá

khứ hiện tại nhân quả quyển 1, v.v… có

ghi linh mộng bạch tượng gá thai, kinh Đại

phẩm bát nhã, kinh Bát chu tam muội

quyển thượng, v.v… cũng có nói việc trong

mộng quán thấy Phật A di đà và được cảm

ứng. Ngoài ra, trong các bộ Cao tăng truyện

Trung quốc, Nhật bản cũng có rất nhiều

sự tích về linh mộng.

[X. luận Đại trí độ Q.6]. (xt. Mộng,

Mộng Kinh).

LINH MỤ TỰ

……..

Chùa ở thành phố Huế, tỉnh Thừa thiên

thuộc miền Trung Việt nam, do chúa

Nguyễn hoàng sáng lập vào năm 1601, đây

là ngôi chùa nổi tiếng của Việt nam.

Trong cuộc nội chiến thế kỉ XVII, XVIII,

chùa đã bị phá hủy nghiêm trọng. Năm 1815

chùa được sửa lại. Năm 1844, ngôi tháp Phúc

duyên được xây cất trước chùa để ghi nhớ

lại chư Phật 7 đời. Trong chùa có một quả

chuông lớn, tiếng rất trầm hùng, là 1 trong

những thứ Quốc bảo Việt nam.

LINH NGHIÊM

Cũng gọi Linh ứng, Linh cảm, Uy

nghiệm.

Gọi tắt: Nghiệm.

Sự hiệu nghiệm mầu nhiệm không thể

nghĩ bàn, do nguyện cầu chư Phật, Bồ tát

hoặc do thụ trì đọc tụng kinh điển mà có

được.

Theo Cao tăng Pháp hiển truyện, thủa

xưa, vua A dục cất tinh xá trên thềm báu

nơi đức Phật giáo hóa, ở phía sau tinh xá có

dựng cột đá, trên đầu cột tạc tượng sư tử.

Có 1 luận sư ngoại đạo tranh giành chỗ ở

với 1 vị sa môn, vị sa môn viện lí lẽ để tự

bênh vực, bấy giờ cùng nhau lập thệ rằng,

nếu đây là chỗ ở của sa môn thì xin có ứng

nghiệm. Lúc đó, tượng sư tử trên đầu cột

rống lên một tiếng thật to để hiển hiện sự

linh nghiệm, ngoại đạo kia liền rút lui.

Trong các kinh điển Hiển giáo, Mật giáo

cũng thường thấy những sự tích chư Phật,

Bồ tát hoặc các vị Kim cương v.v… hiển hiện

sự linh nghiệm. Đại nhật kinh sớ quyển 9

(Đại 39, 679 trung), nói: “Nếu người trì Kim

cương, thì những uy lực mạnh mẽ không

dám cản trở, vì vị tôn này có sự linh nghiệm,

nên hành giả làm các việc thiện đều được

thành tựu”.

Ngoài ra, những bộ sách ghi chép các

việc linh nghiệm, gọi là Cảm ứng truyện,

Linh nghiệm kí.

[X. Vu lan bồn kinh sớ Q.hạ; Cảnh đức

truyền đăng lục Q.18].

LINH NGHIÊM KÍ

Cũng gọi Nghiệm kí, Cảm ứng truyện.

Những bộ sách ghi chép những câu

chuyện nói về sự linh nghiệm của thần, Phật,

Bồ tát.

Linh nghiệm kí trong Phật giáo được viết

LINH NGHIÊM KÍ

 

L

2815

dưới dạng tiểu thuyết, thì như ở đời Tấn có:

Minh tường kí của ông Vương diễm, Sưu

thần kí của ông Vu bảo, v.v… Rồi đến: Tập

thần châu Tam bảo cảm thông lục 3 quyển

của ngài Đạo tuyên đời Đường, Tam bảo

cảm ứng yếu lược lục 3 quyển của ngài Phi

trược đời Tống, v.v… đều thuộc loại Linh

nghiệm kí.

Còn Linh nghiệm kí chỉ riêng cho 1 bộ

kinh nào đó, thì có: Kim cương kinh cưu dị

1 quyển của Đoàn thành thức đời Đường,

Pháp hoa kinh hiển ứng lục 2 quyển của

ngài Tông hiểu đời Tống, Hoa nghiêm kinh

cảm ứng lược kí 1 quyển của ngài Châu

hoành đời Minh, v.v…

LINH NGUYÊN

…..

I. Linh Nguyên.

Nguồn thiêng, chỉ cho Phật tâm, Phật

tính, chân như, v.v…

Tham đồng khế (Đại 51, 459 trung), nói:

“Linh nguyên vốn sáng trong,

Vẩn đục bởi chia dòng

Chấp sự thành mê tối

Khế lí cũng chẳng thông”.

II. Linh Nguyên (1902-1988).

Danh tăng Trung quốc, người huyện Lâm

hải, tỉnh Chiết giang, họ Truyền.

Lúc nhỏ, sư thường đau yếu, nhưng được

mẹ chỉ dạy, sư dốc lòng niệm danh hiệu bồ

tát Quán thế âm, nhờ thế mà hết bệnh. Năm

Dân quốc 11 (1932), sư từ giã cha mẹ, vợ

con đến chùa Dũng tuyền, núi Cổ sơn, tỉnh

Phúc kiến, xuất gia. Sư bái yết Hòa thượng

Hư vân và xin được làm đệ tử. Mùa xuân

năm sau, sư thụ giới Cụ túc, sau đó, sư theo

giới sư của mình là pháp sư Ứng từ đến chùa

Thiên minh kết hạ an cư và học kinh Phạm

võng. Sau, sư trở về Cổ sơn, vào học viện

Pháp giới, theo pháp sư Từ chu học kinh

Hoa nghiêm và luật Tứ phần. Nhiều năm

sau đó, sư tham học khắp nơi và tham bái

các đại danh sơn. Năm Dân quốc 34 (1945),

sư giảng luận Đại thừa khởi tín ở am Từ tu

tại Thượng hải. Sau đó, vâng lời chỉ dạy của

Hòa thượng Hư vân, sư đến trụ ở chùa Vân

môn. Năm Dân quốc 38 (1949), sư dời đến

Hương cảng; năm Dân quốc 43 (1954), sư

ra Đài loan, sáng lập Thập phương Đại giác

thiền tự. Năm Dân quốc 53 (1964), sư sáng

lập Phật học viện Đại giác, khai giảng kinh

Phạm võng, luận Khởi tín, Bát thức qui củ

tụng, v.v…

Những năm về già sư chuyên tu tịnh

nghiệp.

Sư có các tác phẩm: Tịnh nghiệp cương

yếu, Phạm võng kinh tập nghĩa cú giải.

LINH NHAM SƠN TỰ

………..

Chùa ở huyện Ngô, tỉnh Giang tô, Trung

quốc, tương truyền vốn là tư dinh của quan

Tư không tên là Lục ngoạn đời Đông Tấn

hiến cúng.

Khoảng năm Thiên giám (502-519) đời

Vũ đế nhà Lương, chùa được mở rộng và

đặt tên là chùa Tứ phong. Theo truyền

thuyết, chùa này là đạo tràng ứng hóa của

bồ tát Trí tích nói trong kinh Đại ai (do

ngài Trúc pháp hộ dịch). Khoảng năm

Thiên bảo (742-755) đời vua Huyền tông

nhà Đường, tổ Trung hưng tông Thiên thai

là ngài Đạo tuân từng tu Pháp hoa tam muội

tại đây. Đầu đời Tống, chùa này là tự viện

của Luật tông. Khoảng năm Nguyên phong

(1078-1085) được đổi thành Thiền viện.

Trong chùa có một tòa tháp 9 tầng, do ông

Tôn thừa hữu xây dựng vào khoảng năm

Thái bình hưng quốc (976-983) đời Tống.

Năm Vạn lịch 28 (1600) đời Minh, vì bị

sét đánh nên bộ phận làm bằng gỗ của tháp

đã đổ nát, nay chỉ còn thân tháp bằng gạch.

Năm Hàm phong thứ 10 (1860) đời Thanh,

trừ ngôi tháp 9 tầng còn quá nửa các kiến

trúc trong chùa đã bị quân giặc Thái bình

LINH NHAM SƠN TỰ

 

L

2816

thiên quốc thiêu hủy. Năm Tuyên thống

thứ 3 (1911), ngài Chân đạt trụ trì chùa

này, cùng với sự giúp sức của ngài Diệu

chân, bắt đầu xây cất lại các phòng xá, điện

đường, trở thành ngôi chùa nổi tiếng ở

Giang nam.

Năm Dân quốc 20 (1931), sau chiến

tranh giữa Trung quốc và Nhật bản, vị cao

tăng thuộc tông Tịnh độ Trung quốc đương

thời là Đại sư Ấn quang thường trụ ở chùa

này, kẻ tăng người tục xa gần đều tụ về rất

đông. Ngài Ấn quang tham khảo, đối chiếu

các loại qui ước của tùng lâm từ bộ Bách

trượng thanh qui về sau, rồi lập ra các qui

định nghiêm khắc về tu hành niệm Phật như:

Linh nham sơn tự cộng trụ qui ước, Niệm

Phật đường qui ước, Tăng trị qui ước v.v…

Từ đó chùa này trở thành ngôi tùng lâm

chuyên tu tịnh nghiệp vào bậc nhất của

Trung quốc, hàng ngày chỉ xưng niệm danh

hiệu Phật, mà không làm các Phật sự khác

như giảng kinh, truyền giới, truyền pháp,

thu nhận đồ chúng, kinh sám, v.v… Năm

Dân quốc 29 (1940), ngài Ấn quang thị tịch,

sau khi hỏa thiêu các đệ tử thu được xá lợi 5

màu và xây tháp tôn thờ. Hiện nay có nhà

kỉ niệm Đại sư Ấn quang. Từ năm 1949 về

sau, ngài Diệu chân làm Trụ trì, vẫn duy trì

và tuân thủ các qui ước do ngài Ấn quang

đặt ra.

[X. Trung quốc Phật giáo phát triển sử

(Trung thôn nguyên)].

LINH NHAM TỰ

……..

Chùa ở chân núi Phương sơn, mạn đông

nam huyện Trường thanh, tỉnh Sơn đông,

Trung quốc, do ngài Pháp định sáng lập vào

khoảng năm Chính quang đời Bắc Ngụy.

Đất này vốn là nơi mà ngài Phật đồ trừng

đời Hậu Triệudộng tích trượng và ngay đó

có dòng suối trong phun lên, cũng chính là

nơi ngài Tăng lãng người Thiên trúc thuyết

pháp khi xưa. Khoảng năm Khai hoàng đời

Tùy, ngài Tuệ tiêu đến đây tu hành, không

bao lâu vâng mệnh vua Văn đế, xây dựng

chùa Hoa dương vương, rất hưng thịnh, các

ngài Đạo nhân, Đạo biện đều đã từng trụ ở

chùa này. Vào đầu đời Đường, ngài Tuệ sùng

kiến tạo điện Thiên Phật, rồi khoảng năm

Thiên bảo lại xây thêm tháp Bích chi phật.

Khoảng năm Cảnh đức đời Tống, vua ban

tấm biển “Cảnh Đức Linh Nham Tự” và ban

cho ruộng vườn. Vào khoảng năm Thiên hựu,

điện Ngũ hoa(nay không còn) được sáng lập,

điện Thiên Phật được mở rộng thêm. Khoảng

năm Gia hựu, tháp Bích chi phật được trùng

tu, dựng bia kí điện

Thiên Phật, cảnh quan

chùa hoàn toàn mới.

Khoảng năm Hi ninh

thứ 3 (1070), chùa

được đổi làm Thập

Phương Tùng Lâm.

Chùa này cùng với các

chùa: Thê hà ở Nhuận

châu, Quốc thanh ở

Thai châu, Ngọc tuyền

ở Kinh châu được gọi

chung là “Thiên Hạ

Tứ Tuyệt”.

[X. Phật tổ thống kí Q.39; Thái sơn chí

Q.15-18; Sơn đông thông chí Q.20; Cổ kim

đồ thư tập thánh thần dị điển thứ 108; Sơn

xuyên điển thứ 13, 15, 17].

LINH NHAM TỰ

Chùa Linh Nham Sơn

Tháp Bích Chi Phật

Chùa Linh Nham

 

L

2817

LINH PHÁP CỬU TRỤ

Làm cho chính pháp của đức Phật được

lưu truyền lâu dài ở thế gian.

Giữ giới là nhân chủ yếu khiến cho chính

pháp cửu trụ. Trong 10 điều lợi ích của việc

kết giới nói trong luật Ngũ phần quyển 1,

thì điều thứ 9 ghi là: “Làm cho chính pháp

được tồn tại lâu dài”.

Ngoài ra, “Linh pháp cửu trụ pháp” là

1 trong những pháp Văn thù thuộc sự

tướng Mật giáo, tức là pháp tu bí mật căn

cứ vào pháp Văn thù nhất tự. Pháp Vô

danh của Đông tự ở Nhật bản chính là pháp

tu này.

[X. kinh Tạp a hàm Q.41; phẩm Kiến

bảo tháp trong kinh Pháp hoa Q.4; phẩm

Phó chúc kinh Kim quang minh tối thắng

vương Q.10; chương Thập thụ kinh Thắng

man; A sa phược sao Q.102].

LINH PHONG PHÁI

……..

Một trong các phái thụôc tông Tịnh độ

ở đời Minh, Trung quốc, do Đại sư Ngẫu

ích Trí húc (1599-1655) sáng lập. Vì phái

này trụ ở núi Linh phong tại Hàng châu nên

gọi là Linh phong phái.

Phái này thừa kế thuyết Tính Tướng

dung hội, Thiền Tịnh nhất trí của ngài Tử

bá Chân khả, Vân thê Châu hoành, Hàm

sơn Đức thanh, v.v…, chủ trương Tam học

(giới định tuệ) 1 nguồn, Thiền tông, Giáo

tông (các tông Thiên thai, Hoa nghiêm

v.v…) và Luật tông phải kết hợp với nhau,

không nên phân biệt và cho rằng Thiền là

tâm Phật, Giáo là lời Phật, Luật là hạnh

Phật. Đặc biệt phái này đem Thiền, Giáo,

Luật thu nhiếp vào môn Tịnh độ, hoàn

thành hệ thống tư tưởng Tam học 1 nguồn

bằng luận Niệm Phật tam muội. Niên hiệu

Thiên khải năm đầu (1621), ngài Ngẫu ích

phát 48 nguyện cầu sinh Tịnh độ, về già,

ngài soạn Tịnh độthập yếu, đề xướng việc

niệm Phật vãng sinh.

Tịnh độ thập yếu là tác phẩm quan trọng

về giáo học của ngài Trí húc. Sau khi ngài

tịch, đệ tử là Kiên mật Thành thời thu chép

các tác phẩm của ngài để lại thành 10 quyển,

tức là bộ Linh phong Ngẫu ích Đại sư tông

luận. Sau sư Kiên mật, có sư Tỉnh am Tư tề

phát triển đạo pháp khiến cho phái này cực

thịnh. Từ giữa đời Minh trở đi, Phật giáo

Trung quốc từ Tam học 1 nguồn lại diễn

biến thành Nho Phật 1 mối, bèn có tổ chức

Phật giáo cư sĩ ra đời và hưng thịnh. Tiền

khiêm ích (1582-1664) có soạn Đại Phật đính

thủ lăng nghiêm giải mông sao 10 quyển,

Bát nhã tâm kinh lược sớ thiểu sao 2 quyển…

có thể nói đã mở đường cho Phật giáo cư sĩ

đời Minh.

[X. Hữu học tập Q.40,50; Tịnh độ toàn

thư; Linh phong chí (Chu khánh vân); Linh

phong nhất thiền sư ngữ lục; Tân tục cao

tăng truyện Q.9,10,45; Trung quốc Phật giáo

sử Q.4 (Tưởng duy kiều); Ngẫu ích đại sư

đích tịnh độ tư tưởng (Thánh nghiêm)]. (xt.

Trí Húc).

LINH QUÁN

…..

I. Linh Quán (?-?).

Thiền sư Trung quốc, sống với đời

Đường, là đệ tử nối pháp của ngài Hoàng bá

Hi vận.

Sư trụ ở núi Ô thạch tại Phúc châu, thích

sống ở nơi vắng vẻ, thường ở một mình trong

phòng nên ít người được gặp mặt, chỉ đến

giờ ngọ trai sư mới mở cửa phòng để một

tín sĩ dâng cơm mà thôi. Người đời gọi sư là

Lão quán hòa thượng.

Sư có công án “Lão quán bế hộ”(Lão

quán đóng cửa)truyền ở đời, nội dung là cơ

duyên vấn đáp giữa sư và ngài Tuyết phong.

Thiền uyển mông cầu quyển thượng (Vạn

LINH QUÁN

 

L

2818

tục 148,108 hạ), nói: “Thiền sư Linh quán

thường đóng cửa, nên ít người được gặp mặt.

Một hôm, ngài Tuyết phong đến gõ cửa, sư

mở cửa, ngài Tuyết phong chụp ngay lấy ngực

áo, nói: “Là phàm hay Thánh”. Sư mắng

rằng: “Đồ con chồn thô lỗ!” Rồi đẩy ra, đóng

cửa lại. Ngài Tuyết phong nói: “Chỉ cần biết

lão huynh vậy thôi”.

[X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.12].

II. Linh Quán (1485-1571).

Cũng gọi Liên thuyền đạo nhân.

Thiền sư Triều tiên, sống vào đời Lí,

người Tấn châu, Lĩnh nam (tỉnh Khánh

thượng nam), hiệu Ẩn am.

Năm 17 tuổi, sư đến núi Đức dị xuất gia,

học giáo thiền khắp nơi, thông cả học thuyết

Lão-Trang. Sư ở nội viện tại ngọn Di lặc,

núi Kim cương, tham thiền trong 9 năm và

được tỉnh ngộ. Sau, sư đến tham yết ngài

Bích tùng Trí nghiêm ở núi Trí dị và được

nối pháp. Sau khi ngài Trí nghiêm thị tịch,

sư kế thừa pháp tọa, trở thành bậc Đại tông

sư ở vùng phía nam Lĩnh hồ.

Năm Tuyên tổ thứ 4 (1571) sư tịch, thọ

87 tuổi.

[X. Phù dung đường hành tích (được

thu vào Thanh hư đường tập của ngài Hữu

tỉnh); Triều tiên Phật giáo thông sử trung

biên (Lí năng hòa); Lí triều Phật giáo (Cao

kiều hanh); Triều tiên thiền giáo sử (Hốt

hoạt cốc khoái thiên)].

LINH QUANG

Ánh sáng linh thiêng, thanh tịnh vô

nhiễm, chiếu soi mầu nhiệm, tức là Phật tính

sẵn có của chúng sinh.

Chương Bách trượng trong Ngũ đăng hội

nguyên quyển 3 (Vạn tục 138, 44 hạ), nói:

“Linh quang độc chiếu, lìa khỏi căn trần,

hiển lộ chân thường, không chấp văn tự,

tâm tính không nhiễm, vốn tự thành tựu,

chỉ lìa vọng duyên, tức Như như Phật”.

LINH QUANG TỰ

Chùa ở chân núi phía đông núi Giác sơn

(nay là núi Thúy vi) tại Bắc bình, được sáng

lập vào khoảng năm Đại lịch (766-779) đời

Đường.

Mới đầu chùa có tên là chùa Long tuyền;

năm Đại định thứ 2 (1162) đời Kim, chùa

được trùng tu, gọi là chùa Giác sơn. Mãi đến

năm Thành hóa 14 (1478) đời Minh, chùa

mới lại được trùng tu và đổi tên là chùa Linh

quang như hiện nay. Điện đường chùa này

cao rộng, cạnh chùa có ao nước, trên ao có

nhà ngồi ngắm cảnh, rất yên tĩnh vắng vẻ.

Bên hông chùa có am Qui lai, phía sau chùa

vốn có am Thao quang, nhưng đã bị cháy

trong hỏa hoạn.

Chùa này vốn có tháp Chiêu tiên, được

xây cất vào năm Hàm ung thứ 7 (1071) đời

vua Đạo tông nhà Liêu, nhưng đã bị quân

đội của 8 nước phá hủy, nay chỉ còn nền

tháp. Từ năm 1958 đến mùa xuân năm 1964,

người ta phát hiện

được xá lợi răng

của đức Phật

Thích ca trong

nền của ngôi tháp

này, cho nên một

tòa tháp mới hình

bát giác, 13 tầng,

cao 15 mét đã

được xây cất trong

khuôn viên của

chùa để thờ xá lợi.

LINH SƠN HỘI THƯỢNG

………..

Trên hội Linh sơn. Tức pháp hội trên

núi Linh thứu khi đức Thích tôn thuyết pháp

độ chúng đệ tử. Có 2 thuyết:

1. Chỉ cho pháp hội lúc đức Phật diễn

nói kinh Pháp hoa:

LINH SƠN HỘI THƯỢNG

Tháp thờ răng Phật ở chùa

Linh Quang

 

L

2819

Pháp hoa kinh khoa chú (Vạn tục 48,

355 hạ) nói: “Thủa xưa, đức Thế tôn đã

tuyên thuyết kinh Diệu pháp liên hoa trên

hội Linh sơn”.

2. Chỉ cho hội niêm hoa phó pháp:

Cứ theo kinh Đại phạm thiên vương vấn

Phật quyết nghi, thủa xưa, trên hội Linh sơn,

đức Thích ca cầm một hoa sen đưa lên trước

đại chúng, Tôn giả Ca diếp nhìn và mỉm

cười, đức Thế tôn liền đem Chính pháp nhãn

tạng phó chúc cho Ngài.

LINH SƠN TỊNH ĐỘ

………..

Linh sơn, gọi đủ là Linh thứu sơn, là nơi

xưa kia đức Thế tôn Thích ca nói kinh Pháp

hoa. Tức núi Linh thứu là Tịnh độ của báo

thân đức Thích tôn thường cư trụ.

Cứ theo phẩm Như lai thọ lượng trong

kinh Pháp hoa quyển 5, vì hóa độ chúng

sinh nên đức Thích tôn phương tiện thị hiện

Niết bàn, chứ thực ra Ngài không diệt độ

mà thường ở trên núi Linh thứu nói pháp.

Khi hỏa tai ở kiếp mạt nổi lên, thế giới đều

bị thiêu rụi, chỉ có Tịnh độ Linh sơn là không

hề hấn gì, vẫn thường trụ an ổn, người, trời

đông đảo.

[X. phẩm Như lai thọ lượng trong kinh

Kim quang minh tối thắng vương Q.1; kinh

Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp; Diệu

pháp liên hoa kinh ưu ba đề xá Q.hạ; Pháp

hoa huyền luận Q.9; Pháp hoa văn cú Q.10

phần trên].

LINH TẠNG (519-586)

…. .

Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Tùy,

người Ung châu (huyện Trường an, tỉnh

Thiểm tây), họ Vương.

Sư y vào Luật sư Dĩnh xuất gia từ thủa

nhỏ, chuyên học tạng Luật. Vua Văn đế nhà

Tùy nghe danh sư, ban sắc triệu sư về ở chùa

Đại hưng thiện tại kinh đô Trường an. Sư

và nhà vua kết giao rất thân. Văn đế từng

viết sắc rằng (Đại 50, 610 trung): “Đệ tử là

vua của tục nhân, Luật sư là vua của đạo

nhân, nếu có người muốn xa lìa thế tục, thì

sư được tùy ý độ cho họ”, do đó mà sư đã độ

được mấy vạn người.

Năm Khai hoàng thứ 6 (586) sư tịch, thọ

68 tuổi.

[X. Tục cao tăng truyện Q.21].

LINH THỨU SƠN

I. Linh Thứu Sơn.

Linh thứu, Phạm: Gfdhrakùỉa.

Pàli:Gijjha kùỉa.

Hán âm: Kì xà quật.

Gọi tắt: Linh sơn, Thứu phong, Linh

nhạc.

Núi ở

phía đông

bắc thành

Vương xá,

nước Ma

yết đà,

Trung Ấn

độ. Vì

hình dáng

núi này

giống như

đầu con

chim thứu(kên kên) và trong núi cũng có

nhiều chim thứu, nên đặt tên là Linh thứu.

Đức Như lai từng tuyên thuyết các kinh

Đại thừa như kinh Pháp hoa, v.v… ở đây,

cho nên núi này đã trở thành Thánh địa

của Phật giáo. Các núi Linh thứu hoặc

Linh sơn ở Trung quốc đều được gọi theo

tên của núi này. Như ngọn Thứu phong

ở phía bắc huyện Phúc thanh, tỉnh Phúc

kiến, hoặc ngọn Phi lai ở huyện Hàng,

tỉnh Chiết giang cũng gọi là Linh thứu

sơn, v.v…

(xt. Kì Xà Quật Sơn).

LINH THỨU SƠN

Núi Linh Thứu ở Ấn Độ

 

L

2820

II. Linh Thứu Sơn.

Cũng gọi Bồ tát đính.

Núi ở

phía đông

nam Trung

đài, thuộc

núi Ngũ đài,

tỉnh Sơn

tây, Trung

quốc. Trên

núi này có

viện Chân

dung, là chỗ

ở của vị Lạt

ma Trát tát khắc thuộc Hoàng giáo.

(xt. Ngũ Đài Sơn).

LINH THỨU TỰ

Chùa ở dưới ngọn Linh thứu thuộc núi

Ngũ đài, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, được sáng

lập vào thời Minh đế nhà Đông Hán.

Đời Bắc Ngụy, vua Hiếu văn đế đặt 12

viện, đổi tên là chùa Hoa viên. Đến đời

Đường chùa được xây cất lại, trang nghiêm

hoành tráng hơn xưa và được đổi tên là chùa

Hoa nghiêm, qua các đời Hậu Liêu, Kim,

Nguyên, Minh, chùa đều được trùng tu,

trong năm Vạn lịch đời Minh, chùa lại được

đổi tên là Hiển thông, là ngôi tùng lâm lớn

nhất ở núi

Ngũ đài. Vì

vị tăng

quan cai

quản núi

Ngũ đài trụ

ở chùa này,

nên gọi là

Thủ tự,

trong chùa

có điện Vô

lượng, trên

nóc điện

không có xà, vì thế cũng gọi là điện Vô lương

( ), còn có điện Đồng(được làm bằng

đồng), phía trước điện có 5 ngôi tháp bằng

đồng, tượng trưng 5 ngọn núi Ngũ đài, sắp

xếp theo vị trí Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung.

II. Linh Thứu Tự.

Chùa ở bên cạnh Tây hồ tại Hàng châu,

cũng gọi Linh ẩn tự.

(xt. Linh Ẩn Tự).

LINH TRI BẤT MUỘI

………..

Cái biết linh hoạt, mầu nhiệm, sáng suốt,

không mờ tối.

Trong Hoa nghiêm tâm yếu pháp môn,

ngài Trừng quán dựa vào sự thể nghiệm

Thiền mà mở bày tư tưởng Hoa nghiêm,

trong đó “Vô trụ tâm thể linh tri bất muội”,

là sự biểu hiện cùng tột về việc thể nghiệm ý

chỉ Thiền. “Linh tri bất muội” biểu thị trạng

thái tự giác cùng cực về Phật đạo và tâm;

còn ngài Tông mật thì giải thích “Linh tri

bất muội” là lí trong sáng thanh tịnh.

Bản thể của linh tri bất muội là Như lai

tạng tâm của chúng sinh; chữ “tri” này là

chung cho cả phàm và Thánh, vì thế có sự

sai khác với Thánh trí. Lại nữa, “tri” này

chẳng phải là cái tri vọng tưởng phân biệt

mà là chân tri vô niệm. Các sư phái Sơn

ngoại thuộc tông Thiên thai đời Bắc Tống

thích dùng 2 chữ “Linh tri”, do đó mà có

các dụng ngữ như: Linh tri tâm tính, Chân

tịnh linh tri, Linh tri nhất niệm, v.v…

[X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.15 (Trừng

quán); Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự

Q.thượng phần 2; Cảnh đức truyền đăng

lục Q.28, 30].

LINH TUÂN (?-?)

Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Hậu

Ngụy, người Ngư dương (thuộc tỉnh Hà bắc)

họ Phó.

Núi Linh Thứu ở Ngũ Đài Sơn, Trung Quốc

LINH TUÂN

Năm ngọn tháp của chùa Linh Thứu

ở Ngũ Đài Sơn

 

L

2821

Sư xuất gia lúc còn niên thiếu, lớn lên

chuyên nghiên cứu luận Thành thực và kinh

Niết bàn. Sư đọc khắp các sách; văn chương

bóng bảy, giỏi cả thư pháp và hội họa. Sư

từng đến các vùng Yên, Triệu để giáo hóa.

Mới đầu sư làm Quốc đô, vào những năm

cuối đời Hậu Ngụy, sư giữ chức Tăng thống

Tinh châu.

Sư tịch vào năm đầu thời Bắc Tề (khoảng

550) thọ 69 tuổi.

Sư có tác phẩm: Thành thực luận chú

thích, Duy ma kinh sớ kí.

[X. Tục cao tăng truyện Q.8].

LINH TỪ

…..

Đền miếu linh nghiệm. Chỉ cho chùa

Phật, hoặc đền miếu thờ cúng thổ thần…

LINH TƯỢNG

…..

Những hình tượng Phật, Bồ tát, thần già

lam, được khắc hay vẽ, vì có ứng hiện sự

linh nghiệm nên gọi là Linh tượng.

Thích môn qui kính nghi quyển thượng

(Đại 45, 859 hạ), nói: “Tư duy hình ảnh, chỉ

thấy bụi dày, nhướng mắt định thần, đều

thấy linh tượng”.

LINH VÂN (?-?)

…..

Thiền sư Trung quốc, sống vào đời

Đường, người Trường khê, tỉnh Phúc kiến;

tức là Thiền sư Chí cần ở núi Linh vân thuộc

Phúc châu, là đệ tử nối pháp của ngài Trường

khánh Đại an.

Mới đầu, sư trụ ở núi Đại qui, nhân thấy

hoa đào nở mà ngộ đạo. Sư làm bài kệ rằng

(Đại 51, 285 thượng):

“Kiếm tìm ba chục năm qua,

Cành trơ lá rụng phôi pha bấy chày;

Hoa đào chợt thấy từ ngày,

Đến nay vẫn chẳng mảy may nghi ngờ”.

Ngài Qui sơn Linh hựu xem kệ, gạn

hỏi về điều sư ngộ, thấy khế hợp, ngài

bèn nói: “Từ duyên mà đạt ngộ, không

bao giờ mà lui mất nữa, hãy tự giữ gìn

cho khéo”.

[X. Tổ đường tập Q.19; Cảnh đức truyền

đăng lục Q.11; Ngũ đăng hội nguyên Q.4;

Thích thị kê cổ lược Q.3].

LOA KẾ PHẠM VƯƠNG

Cũng gọi Loa kế phạm.

Vị Phạm vương có búi tóc hình xoắn ốc

trên đỉnh đầu. Trên pháp hội Duy ma, vị

Phạm vương này từng vấn đáp với ngài Xá

lợi phất.

Tịnh tâm giới quán pháp quyển thượng

(Đại 45, 823 thượng) nói:

“Đức như Loa kế phạm vương, đi đâu

cũng thấy Tây phương”.

[X. phẩm Phật quốc, kinh Duy ma].

LOA KẾ TIÊN NHÂN

………..

Tiền thân của đức Phật Thích ca mâu

ni.

Cứ theo luận Đại trí độ quyển 17,

thủa xưa, đức Thích ca là vị tiên tên

Thượng xà lê, vì có búi tóc hình trôn ốc

trên đỉnh đầu nên gọi là Loa kế tiên nhân.

Vị tiên này thường vào đệ tứ thiền, hơi

thở ra vào đã dứt bặt, ngồi dưới gốc cây

sừng sững bất động, chim trông thấy

tưởng là khúc gỗ, liền làm tổ và đẻ trứng

trong búi tóc. Sau đó, vị tiên này xuất

định, muốn bước đi, nhưng biết trên đầu

mình có ổ trứng chim đang ấp, liền tự

nghĩ: “Nếu ta đứng dậy bước đi, gây động,

chim mẹ sẽ bay mất, trứng sẽ hư hết”,

nghĩ xong, ông vào định trở lại, đợi đến

khi trứng nở, chim con bay đi ông mới

đứng dậy.

[X. Quan âm huyền kí Q.hạ].

LOA KẾ TIÊN NHÂN

 

L

2822

LOA PHÁT

…..

Cũng gọi là La phát, Lê phát.

Tóc trên đầu xoắn lại xoay về bên phải

giống như trôn ốc, là 1 trong 32 tướng tốt, 1

trong 80 vẻ đẹp của đức Phật.

Tóc của đức Phật Thích ca bóng mượt,

mềm mịn, xoay về bên phải giống như hình

trôn ốc, cho nên tượng đức Thích tôn ở đời

sau phần nhiều được tạo theo hình dạng

này, cùng với Nhục kế ở trên đỉnh đầu đều

là đặc trưng của tượng Phật. Trong những

tượng Phật hiện còn ở Ấn độ, tượng được

tìm thấy ở Trung Ấn độ phần nhiều có hình

tóc xoắn. Nhưng, các tượng Phật được phát

hiện ở Kiện đà la thuộc Bắc Ấn độ thì

không có hình tóc xoắn, mà là hình gợn

sóng. Tượng Phật Thích ca và tượng Phật

Di đà của 2 tông Hiển giáo, Mật giáo ở Trung

quốc, Triều

tiên, Nhật

bản, v.v…

thông thường

là hình xoắn

ốc. Phật A

súc (Bảo

chàng),Phật

Bảo sinh

(Khai phu

hoa) của Mật

giáo cũng

mang hình

tóc xoắn này.

[X. kinh Tăng già la sát sở tập Q.trung;

kinh Đại bát nhã Q.381; kinh Quán Phật

tam muội hải Q.1; Tổ đình sự uyển Q.4].

LOẠI TRÍ

Phạm: Anvaya-jĩàna.

Cũng gọi Vị tri trí, Vô sinh trí.

Trí vô lậu quán xét Tứ đế ở cõi Sắc và

cõi Vô sắc, là 1 trong 10 trí, 1 trong 11 trí.

Trí này đồng loại với Pháp trí, là trí quán

xét Tứ đế ở cõi Dục.

[X. luận Tập dị môn Q.7; luận Câu xá

Q.23]. (xt. Thập Trí).

LOẠN THIÊN

…..

Các hạnh lành như lễ Phật, tụng kinh

được thể hiện bằng tâm tán loạn.

Thích môn qui kính nghi quyển

thượng (Đại 45, 861 thượng), nói: “Loạn

thiện cõi Dục, khiến chúng sinh bị trói

buộc ở hạ giới”.

LOẠN TƯỞNG

…..

Tâm tưởng tán loạn, buông thả, tức chỉ

cho tất cả phiền não.

Kinh Lăng nghiêm quyển 7 (Đại 19, 138

hạ), nói: “Hòa hợp với khí thành tám vạn

bốn nghìn loạn tưởng bay lặn”.

Kinh Tăng nhất a hàm quyển 1 (Đại 2,

552 hạ), nói: “Diệt trừ các loạn tưởng để

chứng quả Sa môn”.

LONG

..

Phạm,Pàli:Nàga.

Hán âm: Na già, Nẵng nga.

Loài rồng, 1 trong 8 bộ chúng hộ trì Phật

pháp.

Rồng đứng đầu trong loài rồng, gọi là

Long vương hay Long thần. Thông thường,

rồng là loại quỉ(có thuyết cho là súc sinh)có

thân hình giống rắn sống ở trong nước, có

sức thần gọi gió kêu mưa. Trong thần thoại

Ấn độ, rồng là một thứ nửa thần có mặt

người, đuôi rắn, gồm 1.000 giống, do vợ của

Ca diếp ba (Phạm: Kazyapa) là Ca đầu

(Phạm:Kadru) sinh ra, ở trên đất hoặc dưới

cung rồng (Phạm:Pàtàla).

Theo phẩm Súc sinh trong kinh Chính

L O N G

Tóc xoắn hình trôn ốc

 

L

2823

pháp niệm xứ quyển 18, thì Long vương

thuộc loài súc sinh, là quả báo của người

ngu si, nóng giận, chỗ ở của rồng gọi là Hí

lạc thành. Rồng có 2 loại: Pháp hành long

vương và Phi pháp hành long vương.

1. Pháp hành long vương có 7 đầu,

như các long vương Tượng diện, Bà tu cát,

Đắc xoa ca, Bạt đà la, v.v… là loài ít sân si,

hay làm việc phúc đức, cho nên không bị

cái khổ cát nóng, do tâm tốt nên làm mưa

đúng thời vụ, giúp cho ngũ cốc ở thế gian

được mùa.

2. Phi pháp hành Long vương gồm có

Ba la ma thê, Tì mưu lâm bà, Ca la, v.v…

loài này thường làm những việc bất thiện,

không kính Sa môn, Bà la môn, nên thường

chịu cái khổ cát nóng, do tâm ác nên làm

mưa to gió dữ, khiến ngũ cốc hư hại.

Theo phẩm Long điểu trong kinh Trường

a hàm quyển 19, thì rồng có 4 loại: Đẻ trứng,

đẻ bọc, sinh nơi ẩm ướt và tự nhiên hóa

sinh, thường bị 4 loại đại bàng(chim cánh

vàng) đẻ trứng, đẻ bọc, đẻ nơi ẩm ướt và tự

nhiên hóa sinh nuốt ăn.

Theo kinh Phật mẫu đại khổng tước

minh vương quyển thượng, thì Long vương

có loài đi trên mặt đất, hoặc thường ở trong

hư không, hoặc trên núi Diệu cao, hoặc ở

dưới nước. Có loại Long vương 1 đầu, 2

đầu, cho đến nhiều đầu; hoặc Long vương

không chân, 2 chân, 4 chân cho đến nhiều

chân, v.v…

Còn trong tín ngưỡng của Trung quốc

đời xưa, thì Long là chỉ cho “loài động vật

có vảy mình dài” nói chung, vào tiết xuân

phân thì lên trời, đến tiết thu phân thì xuống

đất. Loài có vảy thì gọi là Giao long, loại có

cánh gọi là Ứng long, loại có sừng gọi Cầu

long, loại không sừng gọi Li long, loại không

bay được gọi là Bàn long.

[X. kinh Long tượng trong Trung a hàm

Q29; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q1;

kinh Phổ diệu Q 2; kinh Tu hành bản khởi

Q thượng; kinh Phật bản hạnh tập Q1; luận

Đại trí độ Q3, 14, 30; Đại đường tây vực kí

Q3, 8; Tuệ lâm âm nghĩa Q.9].

LONG CĂN (1921- )

Danh tăng Trung quốc, sống vào thời

Dân quốc, người huyện Thái, tỉnh Giang tô,

họ Lữ.

Sư theo ngài Trí tường ở am Quảng tế,

Bắc thái, xuất gia, lần lượt tham học tại các

Phật học viện Thượng hải, Vũ xương. Về

sau, sư làm chủ biên các tạp chí Vô tận đăng

ở Hương cảng, Hải triều âm ở Đài loan, Vô

tận đăng ở Mã lai á; chủ nhiệm hoằng pháp

của Tổng hội Phật giáo Tân gia ba – Mã lai

á; sư cũng từng làm Giám viện chùa Thiện

đạo ở Đài loan.

Hiện nay sư đang chủ trì nhà xuất bản

Phật giáo Nam dương và giảng đường Linh

phong bát nhã tại Tân gia ba.

Sư có các tác phẩm: Phật giáo bình nghị

tập, Huyền trang Đại sư sinh niên chi nghiên

cứu, Thánh tăng chưởng cố, Phật học thông

giải, Thiện sinh kinh giảng kí.

LONG CHÂU

…..

Hạt châu ở dưới cằm con rồng.

Cứ theo Tứ phần luật hàm chú giới bản

sớ hành tông kí quyển 5, xưa kia có Phạm

chí Loa kế sống ở bờ sông Hằng, thường bị

rồng quấy nhiễu, đức Phật bảo vị Phạm chí

hãy xin hạt châu ở dưới cổ con rồng thì nó

sẽ không đến quấy nhiễu nữa.

LONG CHÂU TỰ

……..

Chùa ở núi Hoa sơn, quận Hoa thành,

tỉnh Kinh kì, Hàn quốc, do ngài Liêm cư

sáng lập vào năm Văn thánh vương 16 (854).

Ban đầu, chùa có tên là chùa Cát dương.

Năm Chính tổ vương 14 (1790) chùa được

LONG CHÂU TỰ

 

L

2824

trùng tu, vào ngày khánh thành, nhà vua

nằm mộng thấy con rồng ngậm viên ngọc

báu như ý bay lên trời, vua bèn ban sắc đổi

tên chùa là Long châu.

Hiện nay, chùa có các kiến trúc như: Đại

hùng bảo điện, điện Minh phủ, điện Hộ

thánh, lầu Thiên bảo, Cực lạc đại viên bảo

điện, gác Phổ tín, v.v… Trong tháp thờ 2

viên xá lợi của Phật, bình báu cam lộ và bồ

đoàn 5 sắc, v.v… các báu vật báu này đều từ

Trung quốc truyền sang.

Ngày nay, Long châu là 1 trong 31 bản

sơn của Phật giáo Hàn quốc, có 48 chùa phụ

thuộc như chùa Thất trường, chùa Thanh

long, chùa Phổ quang, v.v…

[X. Triều tiên tự sát sử liệu Q.thượng;

Triều tiên Phật giáo thông sử, Lí triều Phật

giáo; Triều tiên tự sát tam thập nhất bản

sơn tả chân thiếp].

LONG CHỦ TIÊN

……..

Tiên làm chủ loài rồng. Nghĩa là hành

giả y theo pháp Thánh ca ni kim cương

đồng tử quĩ, trí tụng 60 vạn biến chân

ngôn trước tháp xá lợi, sau đó, dùng bổ sa

thiết làm sợi dây niệm tụng, thì thành

Long chủ tiên.

[X. Thánh ca ni kim cương đồng tử quĩ

Q.thượng].

LONG CHỦNG THƯỢNG TRÍ TÔN VƯƠNG PHẬT

Cũng gọi Long chủng tịnh trí tôn vương

Phật, Long chủng thượng Phật, Long chủng

tôn, Long tôn vương, Long tôn.

Tên bản địa của bồ tát Văn thù, còn có

rất nhiều tên khác nữa.

[X. kinh Quán dược vương dược

thượng nhị bồ tát; kinh Tâm địa quán Q.3;

luận Đại trí độ Q.29]. (xt. Văn Thù Bồ

Tát, Bản Địa).

LONG CHƯƠNG

…..

Chỉ cho kinh điển. Vì kinh tiếng Phạm,

chữ viết cuộn tròn như hình rồng rắn, nên

gọi là Long chương.

LONG CỐC ĐẠI HỌC

… … … ..

Trường Đại học ở khu Hạ kinh tại Kinh

đô (Kyoto) Nhật bản, do phái Bản nguyện

tự thuộc Tịnh độ Chân tông sáng lập.

Long cốc(hang rồng) làtấm bảngtên

núi(tên bản sơn) do vị Tổ đời thứ 14 của

chùa Bản nguyện là ngài Tịch như treo

trước điện Phật của chùa này. Năm Khoan

vĩnh 16 (1639), ngài Lương như Tông chủ

sáng lập Học liêu(tiền thân của Đại học

Long cốc) trong khuôn viên chùa Bản

nguyện. Năm Đại chính 11 (1922), Học

liêu được đổi tên là Đại học Long cốc, do

ngài Linh mộc Pháp sâm làm Hiệu trưởng

đầu tiên, đặt ra bộ Nghiên cứu, bộ Văn

học, khoa Dự bị Đại học và bộ Chuyên

môn. Năm Chiêu hòa 24 (1949), đổi theo

chế độ Đại học mới và mở thêm Đại học

ngắn hạn, chương trình Tiến sĩ, v.v… Ở

đây lưu trữ rất nhiều sách vở.

[X. Long cốc đại học tam bách niên sử;

Học lâm diên cách sử; Học liêu tạo lập sự

phó dĩ hậu pháp luận thứ đệ].

LONG CỐC ĐẠI HỌC

Đại Hùng Bảo Điện của chùa Long Châu

 

L

2825

LONG CUNG

…..

Cũng gọi Long hộ.

Chỗ ở của Long vương hoặc Long thần.

Theo truyền thuyết, dưới đáy biển lớn,

Long vương dùng sức thần hóa ra cung điện

làm nơi giữ gìn của báu, kinh điển khi Phật

pháp ẩn mất ở thế gian. Bởi vì con rắn giữ

gìn của báu ở Ấn độ là Na già (Phạm:

Nàga), tức là rắn mắt gương, còn được dịch

là rồng. Nhưng theo truyện cổ Ấn độ, Na

già là nửa thần mặt người đuôi rắn ở chốn

Long cung (Phạm:Pàtàla) dưới mặt đất,

mà Hòa tu cát (Phạm:Vàsuki) là vua các

Na già.

Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 19,

dưới đáy biển lớn có cung điện của Long

vương Sa kiệt, giữa khoảng núi Tu di và núi

Khư đà la có cung điện của 2 vị Long vương

Nan đà và Bạt nan đà.

Theo phẩm Nhật tạng phân tống sứ trong

kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 43, thì

khắp nơi trên thế giới này đều có Long

vương, ở trong Long cung giữ gìn các vật:

Đất, nước, lửa, gió, cây, hoa, quả.

Theo phẩm Thỉnh Phật trong kinh Hải

long vương quyển 3, Hải long vương đến

núi Linh thứu, nghe đức Phật thuyết pháp,

được lòng tin vui mừng, muốn thỉnh Phật

đến Long cung trong biển để cúng dường,

bèn dùng sức thần hóa làm cung điện.

Kinh Liên hoa diện quyển hạ chép, tất

cả bát Phật và xá lợi Phật, trong 10 phương

của cõi Diêm phù đề đều cất giữ trong cung

điện của Long vương Bà già la.

Còn theo các kinh truyện như: kinh Bồ

tát xử thai quyển 7, kinh Ma ha ma da quyển

hạ, Long thụ bồ tát truyện, Hiền thủ Hoa

nghiêm truyện quyển 1, v.v… thì trong Long

cung có kinh điển thắng diệu.

[X. kinh Đại bảo tích Q.86; kinh Lâu

thán Q.1; kinh Hoa nghiêm Q.43 (bản dịch

mới); kinh Khởi thế nhân bản Q.2; luận

Thi thiết Q.6; luận Đại trí độ Q.3, 14; luận

Du già sư địa Q.2; Chỉ quán phụ hành

truyền hoằng quyết Q.1; Phó pháp tạng

truyện Q.5].

LONG CUNG CHUNG

……..

Quả chuông bằng đá ở viện Tu đa la tại

Ấn độ.

Cứ theo Tổ đình sự uyển quyển 4, thì

chuông này rất lớn, có màu ngọc bích.

Chung quanh chuông khắc tượng Phật

thành đạo trong 10 phương và tượng chư

Thiên. Mỗi buổi sáng có các hóa Phật diễn

nói 12 bộ kinh, các đồng nam, đồng nữ

trong thành Xá vệ đều đến nghe pháp và

chứng Thánh quả. Khi tiếng chuông được

gióng lên thì trăm ức thế giới đều nghe

trăm nghìn Phật Thích ca tuyên thuyết Tu

đa la(kinh).

Theo truyền thuyết, chuông này do đức

Phật Câu lưu tôn tạo ra, sau khi Ngài nhập

diệt, thì Long vương Sa kiệt thu giữ. Đến

khi đức Thích ca ra đời, chuông mới xuất

hiện trở lại, sau khi Phật Thích ca nhập diệt,

Long vương Sa kiệt lại thu giữ ở Long cung.

LONG ĐẦU

…..

Cũng gọi Long thủ.

Đầu rồng, chỉ cho cái quai để treo

chuông.

Sách Chu lễ và Chu lễ sớ gọi là Chung

huyền, Toàn trùng, Chung toàn. Sách Mạnh

tử chú thì gọi là Chung

nữu. Hoặc có thuyết cho

rằng gọi Long đầu là vì

nhận lầm hình con bồ lao

là hình con rồng. Bồ lao là

con vật sống ở bờ biển, rất

sợ cá kình, mỗi khi bị cá

kình tấn công thì nó kêu

LONG ĐẦU

Long Đầu

 

L

2826

lên inh ỏi. Đỉnh chuông được đúc giống hình

con bồ lao, dùng chày gỗ hình cá kình để

đánh, chuông kêu như bồ lao.

Đời sau gọi tiếng chuông là kình thanh,

là do điển tích này.

LONG ĐẦU QUAN ÂM

………..

Bồ tát Quan âm ngồi trên đầu con rồng,

là 1 trong 33 hóa thân Quan âm.

Phẩm Phổ môn

trong kinh Pháp hoa

(Đại 9, 57 trung) nói:

“Nếu cần dùng thân

trời, rồng, dạ xoa (…) để

độ thì liền hiện những

thân ấy mà nói pháp”.

Vì rồng là vua

trong các loài thú nên

được dùng để ví dụ

cho uy thần của bồ tát

Quan thế âm.

[X. Phật tượng đồ vậng Q.2; (xt. Tam

Thập Tam Quan Âm).

LONG ĐỔ LẠT MA TOÀN THƯ

Tác phẩm, 31 quyển, do Lạt ma Long đổ

thuộc phái Cách lỗ soạn.

Nội dung chủ yếu là chú thích các loại

danh từ của Hiển tông, Mật tông và Ngũ

minh của Đại thừa, Tiểu thừa.

LONG HÀ

…..

Cũng gọi Ni liên thiền hà.

Phạm:Nairaĩjanà.

Pàli:Neraĩjarà.

Chỉ cho sông Ni liên thiền, 1 chi nhánh

của sông Hằng, cách nơi đức Phật thành

đạo về phía đông không xa. Vì trong sông

này có con rồng Già lăng già nên gọi là

Long hà.

Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển

4 (Đại 54, 229 hạ), nói: “Nhặt ngọc châu

trên Thứu sơn thì được điều chân thực,

chọn của báu dưới Long hà thì gặp sự kì

diệu”.

[X. Phá tăng sự Q.5]. (xt. Ni Liên Thiền

Hà).

LONG HOA PHÁI

Phái Long hoa, 1 trong 3 phái Trai giáo

thuộc tông giáo dân gian ở Đài loan.

Phái này có nguồn gốc từ Vô vi giáo

(cũng gọi La tổ giáo) do ông La nhân(cũng

gọi La tổ 1442-1527) pháp hiệu Phổ nhân,

người Sơn đông sáng lập vào khoảng năm

Gia tĩnh đời Minh. Khi La tổ truyền cho

con gái thì gọi là La quảng nữ giáo, về sau

cũng gọi là Cơ lưu nữ giáo. Nhị tổ Ân kế

nam(pháp hiệu Phổ năng), Tam tổ Diêu văn

(pháp hiệu Phổ thiện) cùng với La nhân gọi

chung là Tam tổ phái Long hoa, cũng gọi

Tam công.

Đến khoảng năm Ung chính đời Thanh,

có tổ thứ 10 là Trần phổ đồng thiết lập

Giảng đường ở huyện Hưng hóa, tỉnh Phúc

kiến làm Đại bản sơn. Đến tổ thứ 16 là

Lư phổ đào mới đến huyện Đài nam, tỉnh

Đài loan truyền giáo trong 6 năm, đến đệ

tử của ông là Phổ tước mới sáng lập Đức

thiện đường ở Đài nam, là hoạt động

truyền giáo sớm nhất của phái Long hoa

tại Đài loan.

Nghi thức thờ phụng của phái này khác

với Phật giáo. Chính đường thờ tượng bồ

tát Quan thế âm, dưới thờ Tam công. Môn

đồ phái này được chia làm 9 cấp bậc: Không

không, Thái không, Thanh hư, Tứ kệ, Đại

dẫn, Tiểu dẫn, Tam thừa, Đại thừa, Tiểu

thừa. Người mới nhập môn gọi là Tiểu thừa,

về sau dần dần lên cấp, nghi thức lên cấp

rất chặt chẽ. Không không là cấp cao nhất,

có thể đảm nhiệm chức Chưởng giáo truyền

LONG HOA PHÁI

Long Đầu Quan Âm

 

L

2827

đăng của phái. Ở Đài loan hiện nay không

có cấp Không không, mà chỉ do cấp Thái

không thay quyền chưởng quản. Các nghi

thức “Quá công trường”, “Tọa pháp

thuyền” được tổ chức rất qui mô và trang

nghiêm.

Ngoài ra còn có pháp hội tế Phật, gọi là

“Biện cúng”, được cử hành theo nghi thức

ghi trong “Long hoa chính giáo khoa nghi”.

Tín đồ thường ngày tu hành pháp thiền,

phối hợp với thuật thần tiên của Đạo giáo,

lấy việc tu luyện tinh, khí, thần làm căn

bản. Trong 3 phái Trai giáo, phái này mang

đậmmàu sắc xã hội hơn cả, giới luật không

nghiêm lắm, không cấm việc hôn nhân,

ăn chay có định kì, gọi là “hoa trai”, cho

nên tín đồ của phái này đông nhất trong

3 phái.

Những kinh điển chủ yếu mà phái Long

hoa y cứ gồm có: Ngũ bộ lục sách của La tổ,

Ngũ bộ kinh bổ chú khai tâm pháp yếu,

Minh tông hiếu nghĩa kinh, Long hoa hội

tính mệnh môn giáo, Long hoa chính giáo

khoa nghi…

[X. Đài loan đích trai giáo do lai (Đình

gia, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san

87)]. (xt. Vô Vi Giáo, Trai Giáo, La Ngộ

Không).

LONG HOA SÁM NGHI

Gọi đủ: Đắc ngộ long hoa tu chứng sám

nghi.

Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Như tỉnh

soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục

tạng tập 129.

Nội dung sách này nói về nghi thức cầu

nguyện bồ tát Di lặc, sám hối tội chướng.

Gồm 12 phẩm: Khai phát chính tín, Quảng

cầu lương hữu, Nghiêm trì giới luật, Phát

bồ đề tâm, Minh kết đàn nghi, Lễ thỉnh

Tam bảo, Sám hối vãng tội, Chuyên tụng

Pháp hoa, Tam bảo phúc điền, Tổng quán

Đâu suất, Biệt quán Long hoa và Niệm nhất

thực tướng.

LONG HOA TAM HỘI

Cũng gọi Long hoa hội, Long hoa tam

đình, Di lặc tam hội, Từ tôn tam hội.

Gọi tắt: Long hoa.

Ba hội thuyết pháp của bồ tát Di lặc

sau khi Ngài thành Phật dưới gốc cây Long

hoa.

Sau khi đức Phật Thích ca nhập diệt 56

ức 7 nghìn vạn năm(có thuyết nói 57 ức 6

nghìn vạn năm, 56 ức vạn năm), bồ tát Di lặc

từ cõi trời Đâu suất hạ sinh xuống nhân gian,

xuất gia học đạo, ngồi dưới gốc cây Long

hoa, trong vườn Hoa lâm ở thành Sí đầu,

thành bậc Chính đẳng chính giác, trước sau

thuyết pháp 3 lần. Những người trong giáo

pháp của đức Phật Thích ca mâu ni thủa

xưa, tu hành chưa giác ngộ thì đến hội của

đức Phật Di lặc, tất cả đều đắc đạo.

Cứ theo phẩm Tam thế đẳng trong kinh

Bồ tát xử thai quyển 2, trong Long hoa tam

hội, hội thứ 1 thuyết pháp độ 96 ức người

thành đạo quả, hội thứ 2 độ 94 ức người và

hội thứ 3 độ 92 ức người. Nhưng trong phẩm

Ba bà lê kinh Hiền ngu quyển 12 và luận

Đại trí độ quyển 3, nói số người được độ

trong 3 hội có hơi khác.

Từ xưa đến nay rất nhiều người lập thệ

nguyện sinh lại trong nhân gian khi đức

Phật Di lặc ra đời, để được gặp Long hoa

tam hội. Vì, như đã nói ở trên, những người

trong giáo pháp của đức Phật Thích ca tu

hành chưa đắc đạo, thì đến hội Long hoa

của đứcDi lặc đều được giác ngộ thành

Phật.

[X. kinh Di lặc hạ sinh, kinh Di lặc đại

thành Phật; kinh Quán Di lặc thướng sinh;

kinh Nhất thiết trí quang minh tiên nhân

từ tâm nhân duyên bất thực nhục; luận Đại

tì bà sa Q.135].

LONG HOA TAM HỘI

 

L

2828

LONG HOA THỤ

Long hoa, Phạm: Nàga-puwpa.

Cũng gọi Na già thụ, Long hoa bồ đề

thụ.

Gọi tắt: Long hoa.

Tên khoa học: Mesuna roxburghü Wigh,

hoặc Mesuna ferrea L.

Cây Long hoa, nơi bồ tát Di lặc thành

Phật.

Cây Long hoa thuộc loại kiều mộc (cây

cao, cành cong), họ cây đào, thân cây giống

như cây Thiết đao(dao sắt), thẳng đứng, da

cây bóng láng. Lá hình trứng và dài, đầu lá

nhọn rủ xuống, cánh hoa màu trắng, quả to

bằng quả hồ đào.

Hoặc có thuyết cho

rằng chùm hoa giống

như đầu rồng, cành

cây giống như mình

rồng, vì thế gọi là cây

Long hoa. Loại cây

này thường mọc

nhiều ở vùng Bengal,

hoặc 2 bên bờ đông

tây bán đảo Ấn độ

và quần đảo An đạt

mạn v.v…

[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.44; kinh Di

lặc hạ sinh; kinh Di lặc thành Phật; phẩm

Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa Q.5;

Pháp uyển châu lâm Q.24].

LONG HOA TỰ

Chùa ở ngoại ô phía tây nam thành phố

Thượng hải, do Ngô tôn quyền thời Tam

quốc sáng lập vào năm Xích ô thứ 5 (242)

đặt tên là chùa Long hoa. Đến năm Xích ô

thứ 10 (247) tòa tháp 7 tầng thờ xá lợi Phật

được hoàn thành. Ngài Khang tăng hội đã

từng trụ ở chùa này.

Trên đây chỉ là truyền thuyết, không biết

thực hư thế nào, bởi vì chùa Tĩnh an ở

Thượng hải cũng có truyền thuyết hệt như

vậy. Mà truyện Khang tăng hội trong Lương

cao tăng truyện quyển 1 cũng không thấy

nói đến việc này. Lại nữa, theo Thượng hải

huyện chí, thì vào năm Càn phù thứ 2 (875)

đời Đường, Hoàng sào làm loạn, tháp Long

hoa đã bị thiêu hủy trong binh lửa, nhưng

đây cũng chỉ là truyền thuyết, không hơn

không kém.

Cứ theo Thiệu hi vân gian chí và Chí

nguyên gia hòa chí, thì chùa này là do ông

Trương nhân thái xin vua Trung ý Tiền

hoằng thúc xây dựng, xưa gọi là chùa Long

hoa, đến niên hiệu Trị bình năm đầu (1064)

đời vua Anh tông nhà Tống, được đổi tên là

chùa Không tướng.

Theo Gia tĩnh thượng hải huyện chí, ngài

Tăng quân(Pháp vân Phổ quân) là Tổ khai

sơn chùa Long hoa. Qua các đời Tống,

Nguyên, Minh đều có trùng tu và từ chùa

Không tướng lại được đổi thành chùa Long

hoa. Về sau, nhiều lần chùa bị phá hủy trong

chiến tranh, rồi lại được trùng tu và qui mô

vẫn như trước. Hiện nay, chùa có các kiến

trúc như: Đại hùng bảo điện, Phương trượng

thất lâu phòng, Kim cương điện, Tam thánh

điện, Tổ sư điện v.v… là 1 trong những tự

viện nổi tiếng ở

Giang nam.

Tháp chùa Long

hoa bằng gỗ, hình

bát giác, 7 tầng, cao

khoảng 41 mét, là tòa

pháp Phật duy nhất

ở Thượng hải được

kiến trúc vào năm

Thái bình hưng quốc

thứ 2 (977). Ruột

tháp bằng gạch,

chung quanh nền

tháp là hồi lang bằng

LONG HOA TỰ

Cây Long Hoa

Tháp Bát Giác 7 tầng của

chùa Long Hoa

 

L

2829

gỗ, tất cả kết cấu cũng như hình thức đều là

kiểu kiến trúc đời Tống.

[X. Doanh nhuyên tạp chí (Vương thao);

Long hoa giảng thoại, Long hoa tự sử; Long

hoa tự tàng kinh khảo; Long hoa tự lược chí

(Thang nghĩa phương)].

LONG HỘ

Long cung, nơi ở của loài rồng.

Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1

(Đại 54, 205 thượng), nói: “Luật hiển rõ thì

tội lỗi tiêu mất; nếu như sân hận giảm thì

phiền não nhẹ, sinh vào Long hộ”.

LONG HƯNG PHẬT GIÁO BIÊN NIÊN THÔNG LUẬN

Cũng gọi Long hưng biên niên thông

luận, Biên niên thông luận.

Tác phẩm 29 quyển, do ngài Tổ tú soạn

vào năm Long hưng thứ 2 (1164) đời Tống,

được thu vào Vạn tục tạng tập 130.

Nội dung sách này viết theo thể biên

niên, nói về lịch sử truyền bá Phật giáo Trung

quốc trong khoảng thời gian từ vua Minh

đế (năm 65) nhà Đông Hán đến vua Hiếu

tông (năm 1163) nhà Nam Tống. Đồng thời,

tường thuật về cuộc đời và sự nghiệp của

các bậc cao tăng qua các thời đại.

Văn chính của sách này là 28 quyển, còn

phụ thêm 1 quyển phần tựa do các vua: Thái

tông, Chân tông, Nhân tông, Huy tông v.v…

đời Tống ngự chế.

LONG KHÁM

Chỉ cho cỗ quan tài đặt di hài của bậc

hiền thánh. Vì uy đức của bậc hiền thánh

cũng như rồng, cho nên gọi là Long khám.

Chương Mã minh đại sĩ trong Cảnh đức

truyền đăng lục quyển 1 (Đại 51, 209 hạ), nói:

“Truyền pháp xong (…) sau đó thị tịch, bốn

chúng đặt chân thể của Đại sĩ vào long khám”.

LONG KHÁM THỦ GIÁM

Cũng gọi Long khám thủ kính.

Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Hành quân

soạn vào đời Liêu, Trung quốc, được thu

vào Tứ bộ tùng san tục biên kinh bộ.

Nội dung sách này giải thích văn tự trong

kinh luận, lấy bộ thủ và chữ của các bộ rồi

theo 4 thanh mà xếp thứ tự trước sau, nói

rõ hình chữ xưa và nay của các chữ cũng

như phản thiết, tự nghĩa và chú thích âm

nghĩa của từng chữ.

Sách được hoàn thành vào năm Thống

hòa 15 (997) đời vua Thánh tông nhà Liêu,

gồm 26.430 chữ, chú giải 163.170 chữ. Vì

sách này chưa được đưa vào Đại tạng kinh

nên ít người biết đến.

Năm Dân quốc 23 (1934), Thương vụ

ấn thư quán ở Thượng hải xuất bản. Ngoài

bản 4 quyển, còn có bản 8 quyển, được thu

vào sách Tục Tự Hòa Dị Tự, thông dụng ở

đời Tùy, Đường. Có thuyết cho rằng bản 8

quyển này được hoàn thành tại Triều tiên.

[X. Kinh tịch phỏng cổ chí Q.2].

LONG KÌ (1592-1673)

…..

Tổ khai sáng tông Hoàng bá Nhật bản,

sống vào đời Minh, người Phúc châu, tỉnh

Phúc kiến, họ Lâm, hiệu Ẩn nguyên.

Năm 23 tuổi, sư đến núi Phổ đà lễ bồ

tát Quán thế âm, rồi đến đạo tràng của

Triều âm Động chủ giữ chức Trà đầu(người

hầu trà).

Niên hiệu Thái xương năm đầu (1620),

sư đến núi Hoàng bá, y vào ngài Giám

nguyên thọ xuất gia. Sau, sư đến chùa Hưng

thiện ở huyện Gia hưng học kinh Pháp hoa,

rồi đến chùa Bích vân ở núi Giáp thạch học

kinh Lăng nghiêm. Năm Thiên khải thứ 4

(1624), sư được ngài Mật vân Viên ngộ

truyền tâm ấn. Năm Sùng trinh thứ 6 (1633),

LONG KÌ

 

L

2830

sư nhận chức Tây đường ở núi Hoàng bá.

Năm Sùng trinh thứ 10 (1637), sư kế thừa

pháp tịch Hoàng bá, phát huy tông phong,

phục hưng tổ đạo.

Năm Thuận trị 11 (1654), đời Thanh,

nhận lời mời của sư Dật nhiên, người Nhật,

sư sang Nhật bản, trụ ở chùa Hưng phúc tại

Trường kì (Nagasaki). Năm 1661, sư sáng

lập chùa Vạn phúc ở núi Hoàng bá để xiển

dương Thiền phong Hoàng bá. Sau, sư mở

đàn truyền Đại giới. Sư được Nhật hoàng

ban hiệu “Đại Quang Phổ Chiếu Quốc Sư”.

Đệ tử nối pháp có 23 vị, như Vô đắc Tính

ninh, Tuệ môn Tính bái, Tức phi Tính nhất,

Tuệ lâm Tính cơ, v.v…

Sư có các tác phẩm: Phổ chiếu quốc sư

ngữ lục 3 quyển, Phổ chiếu quốc sư pháp

ngữ 2 quyển, Tùng đường tập 2 quyển, Thái

hòa tập 2 quyển.

[X. Ngũ đăng toàn thư Q.70; Chính

nguyên lược tập Q.5; Phổ chiếu quốc sư

niên phổ].

LONG LỰC BẤT KHẢ TƯ NGHỊ

Năng lực không thể nghĩ bàn của loài

rồng, 1 trong 5 bất khả tư nghị.

Nghĩa là rồng có khả năng nổi mây làm

mưa và thấm nhuần cả 4 thiên hạ bằng 1

giọt nước, cho nên gọi là Long lực bất khả

tư nghị.

[X. luận Đại trí độ Q.30; Vãng sinh luận

chú Q.hạ]. (xt. Ngũ Bất Khả Tư Nghị).

LONG MÔN

Cửa rồng, nơi thiên nhiên hiểm yếu, do

những ngọn núi đứng đối nhau tạo thành

hình dáng cái cổng, nằm giữa dòng sông

Hoàng hà thuộc địa phận huyện Tây an, tỉnh

Thiểm tây và bờ sông Bình dương, thuộc

tỉnh Sơn tây, Trung quốc.

Tương truyền, khi trị thủy, vua Vũ nhà

Hạ đã cho đục dãy núi ở đây để nước sông

Hoàng hà chảy qua. Lại theo truyền thuyết

từ xưa, các loại cá hoặc ba ba trong sông,

nếu có thể vượt qua được chỗ này thì sẽ hóa

thành rồng, cho nên từ ngữ Long môn còn

mang ý nghĩa là cửa lập thân xuất thế, hoặc

được dùng để ví dụ danh vọng cao sang. Bởi

thế tục ngữ đã có câu: “Vượt được cửa rồng,

danh dự gấp trăm”.

Trong Thiền lâm, Long môn được sử

dụng để chỉ cho bậc thầy ưu việt, danh vọng

lẫy lừng với cơ pháp hiểm yếu; nếu người

học đạo có khả năng vào được cửa của bậc

thầy này, thì tương lai chắc chắn sẽ thành

Phật, làm Tổ.

[X. phần Tuyết đậu niêm cổ trong Tổ

đình sự uyển Q.2; Đại minh nhất thống chí

Q.20; Đại thanh nhất thống chí Q.99; Độc

sử phương dư kỉ yếu Q.41].

LONG MÔN THẠCH QUẬT

Quần thể hang động núi Long môn.

Những hang động này nằm ở núi Long

môn(núi Tây)và núi Hòa hương(núi Đông)

trên 2 bờ cửa sông Y hà, cách huyện Lạc

dương, tỉnh Hà nam, Trung quốc, 14 cây số

về phía nam.

Đá núi Long môn thuộc loại đá hoa Đại

lí, vì cửa hang núi có hình dáng giống như

cái cổng nên từ xưa đã được gọi là Y khuyết

thạch quật. Núi Long môn được xoi đục

thành những hang động, trong hang động

có khắc những cỗ khám và tượng Phật, cho

nên cũng gọi là Long môn khám, Y khuyết

Phật khám. Quần thể hang động này cùng

với hang động Mạc cao, hang động Vân

cương được gọi là 3 kho báu lớn về nghệ

thuật hang động của Phật giáo Trung quốc

đời xưa.

Sự nghiệp xoi đục hang động trước tiên

được bắt đầu ở núi Vân cương tại Đại đồng

vào đầu đời Bắc Ngụy, đến năm Thái hòa

LONG MÔN

 

L

2831

18 (494), sau khi Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy

dời đô từ Đại đồng về Lạc dương và, để truy

niệm công tích của Tiên đế, việc kiến tạo

hang động cũng được dời từ Vân cương đến

Long môn, từ đó, công tác khai mở hang

động và tạc tượng Phật lại được bắt đầu tại

núi Long môn.

Trải qua các triều đại Đông Ngụy, Tây

Ngụy, Bắc Chu, Bắc Tề, Tùy, Đường, Ngũ

đại, Bắc Tống, Kim, cho mãi đến cuối đời

Thanh, trước sau hơn 1.000 năm, trong các

tác phẩm tượng đá được khắc tạo thì: Bắc

Ngụy chiếm 30%, Đường chiếm 60%, được

phân bố trên vách đá của 2 núi Đông và

Tây. Có hơn 30 hang động lớn và phần

nhiều nằm ở núi Tây, hiện còn 2.100 cỗ

khám thờ Phật, hơn 10 vạn tượng Phật,

2.700 tấm bia và trên 40 tòa tháp Phật.

Trong đó, tác phẩm đời Đường, nhất là thời

Vũ tắc thiên, là nhiều nhất.

Đa số các hang động ở đây đều có liên

quan đến việc cầu phúc của các Đế vương.

Như động Cổ dương(cũng gọi là động Lão

quân)ở núi Tây, là hang động xưa nhất, được

khai tạo vào khoảng năm Thái hòa đời Bắc

Ngụy, là nơi tập trung công việc khai khám

tạc tượng của các Vương công quí tộc và

tướng lãnh cao cấp. Động này(Cổ dương)

rộng khoảng 7 mét, cao, sâu khoảng 10 mét,

phía sau động nửa hình tròn (demi-cercle).

Trên vách bên trái có cỗ khám thờ tượng

đức Di lặc được khắc vào năm Thái hòa 19

(495), bên trong khám có khắc bài minh, là

bài văn khắc vào đá xưa nhất hiện còn tại

Long môn.

Động Tân

dương do vua

Tuyên vũ đế

nhà Bắc Ngụy

khai tạo để

hồi hướng

công đức cho

cha mẹ là vua

Hiếu văn đế

và Hoàng thái

hậu Văn

chiêu. Động

này rộng

khoảng 12

mét, sâu khoảng 11 mét, tượng đức Bản tôn

Thích ca ngồi ở vách phía sau, nét mặt mỉm

cười, tướng hảo uy nghi, vòng hào quang

sau lưng có hình viên ngọc khuê và được

trang nghiêm bằng hoa sen với các ngọn lửa.

Trên mặt bức vách giữa động khắc 5 tượng

Phật Thích ca ngồi, 3 tượng đứng, trên nóc

động trang trí hoa văn hình hoa sen, tượng

thiên thần bay, trên mặt đất cũng khắc hoa

văn hình hoa sen, hình vằn rùa; trên vách

phía trước khắc các bức tranh các Hoàng

phi đứng xếp hàng lễ bái, nét chạm trổ rất

sống động. Trên vách 2 bên cửa động có

khắc tượng Nhân vương (vua nhân từ) khí

thế rất hùng vĩ.

Động Y khuyết(cũng gọi động Liên hoa)

rộng khoảng 6 mét, sâu 10 mét, phía sau

cũng nửa hình tròn giống như động Cổ

dương. Ở giữa vòm nóc động khắc 1 hoa

sen lớn, có 6 thiên thần bay vòng quanh,

nét khắc rất tinh xảo đẹp đẽ, chính vì thế

mà động này được gọi là động Liên hoa.

Chùa Phụng tiên là hang đá lộ thiên,

qui mô hoành tráng, chia làm 2 khu trong

LONG MÔN THẠCH QUẬT

Tượng Phật trên vách động Cổ dương ở Long môn

Tượng Phật Thích ca ngồi ở

động Tân dương

 

L

2832

và ngoài. Khu

trong rộng

khoảng 38

mét, sâu 23

mét; khu

ngoài rộng

khoảng 36

mét, sâu 14

mét, là hang

đá có qui mô

lớn nhất, tiêu

biểu cho nghệ

thuật hang đá

đời Đường. Ở

chính giữa bức vách phía sau khắc tượng

đức Phật Lô xá na ngồi, cao khoảng 16

mét, tướng hảo trang nghiêm, thân hình

to lớn, tóc dợn sóng, nếp áo mềm mại,

nhưng hiện nay 2 tay không còn, 2 chân

cũng bị phá hại. Đài tòa gồm 3 tầng hoa

sen, trên mỗi cánh sen có khắc tượng Phật

nhỏ, tượng trưng cho Liên hoa tạng thế

giới. Phía sau tầng hoa sen ở giữa, chung

quanh có khắc hình nổi hóa Phật, phi

thiên, hỏa viêm, cực kì tráng lệ, đây là pho

tượng Phật đẹp nhất, lớn nhất ở Long

môn. Hai vị Bồ tát, Ca diếp, A nan đứng

hầu 2 bên Đại Phật cao hơn 11 mét, mũ

báu, chuỗi ngọc của các vị Bồ tát rất tinh

xảo. Trên 2 vách ở 2 bên cửa vào có tượng

Kim cương lực sĩ cao khoảng 10 mét và

tượng 2 thần vương cao khoảng 11 mét,

khí tượng hùng hồn, oanh liệt, trông giống

như thật.

Nói tóm lại, đặc điểm phong cách của

các hang động trên đây, hình dạng thì đơn

thuần, ít biến hóa, đề tài cũng đơn giản

sáng sủa, tập trung vào chủ đề đột xuất.

Ngoài những hang động nêu ở trên, còn

có động Dược phương, động chùa Kính

thiện, Đại động, Phá động, Tháp động,

động Vĩnh long (động Vạn Phật), động

Nam cực, v.v… Trong các động ở núi

Đông, nổi tiếng nhất là Thạch quật tự, có

động bên trái và động bên phải. Động bên

trái rộng khoảng 9 mét, sâu hơn 6 mét;

động bên phải rộng độ 7 mét, sâu 6 mét,

đều là tác phẩm đời Đường. Ngoài ra, ở

phía bắc núi Đông còn có chùa Hương

sơn rất nổi tiếng, thi hào Bạch cư dị từng

đã trụ ở chùa này.

Đá Long môn thuộc loại đá hoa cứng,

nhẵn, lại nghiêng khoảng 30 độ, nên rất

khó đục thành những hang động lớn, vì

thế vòm nóc(thiên tỉnh: giếng trời) đều được

tạo hình dáng khum khum. Hình thức tạo

dựng chịu ảnh hưởng của Kiện đà la và

Cấp đa của Ấn độ, được dung hòa với

phong cách Trung quốc. Chẳng hạn như

tượng Phật trong các hang động thời Bắc

triều, chủ yếu là tượng Phật Thích ca, Phật

Di lặc vàtượngPhật Thích ca ngồi ngang

hàng với Phật Đa bảo, Phật Tam thế và 7

Phật quá khứ. Tượng Phật nói chung, thân

hình đều to lớn, môi dày, mũi cao, tuy biểu

hiện phong cách họ Thác bạt, nhưng đã có

khuynh hướng tạo hình dáng người Hán

hơn là các tượng ở hang đá Đại đồng. Thời

Tùy, Đường, tượng Phật ngồi phần nhiều

là tượng A di đà, tượng Di lặc, tượng Lô xá

na, tượng Dược sư, v.v… phảnánh sự hưng

khởi của tông Tịnh độ đời Đường và xu

hướng thông tục hóa nghệ thuật tạo tượng

hang động. Vẻ mặt tượng Phật ởthời kì

này rất đẹp, nếp áo mềm mại; tóc Phật phần

nhiều là hình dáng nước xoáy, rất ít dợn

sóng. Còn tượng đứng hầu2bêntượngBản

tôn, phần nhiều là 2 vị La hán, 2 vị Bồ tát

đây là đặc sắc của nghệ thuật điêu khắc ở

thời Tùy, Đường. Nghệ thuật Phật giáo

Trung quốc từ thời Bắc Ngụy đến giữa đời

Đường cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với

mĩ thuật Phật giáo Nhật bản. Ngoài ra,

những bài minh được khắc trên những tấm

bia đá rải rác trong các hang động là tư liệu

quan trọng cho việc nghiên cứu chữ viết

LONG MÔN THẠCH QUẬT

Khám thờ Phật chùa Phụng tiên ở

Long môn

 

L

2833

của Trung quốc, đồng thời cũng là 1 bộ

biên niên sử về tư liệu hang động.

[X. Phật tổ thống kỉ Q.39, 44, 53; Lạc

dương già lam kí Q.5; Quảng hoằng minh

tập Q.2; Cổ kim đồ thư tập thành thần dị

điển thứ 61; Chi na Phật giáo sử tích Q.2;

Phật giáo nghệ thuật luận tập (Hiện đại Phật

giáo học thuật tuần san 20)].

LONG NÃO BÁT VU

Vốn là cái bát được làm bằng gỗ cây long

não, sau, từ ngữ này được sử dụng để chỉ

cho vị tăng giữ gìn giới luật nghiêm cẩn.

Cứ theo Thần khuê các bi trong Đông

pha tập 33, Thiền sư Hoài liễn (1009-1090)

đời Tống, giữ giới rất nghiêm, vua Nhân tông

ban cho sư 1 chiếc bát bằng gỗ long não, sư

đem đốt ngay chiếc bát ấy trước mặt sứ giả

và nói rằng: Người xuất gia mặc áo hoại sắc,

dùng bát sắt, bát sành, bát long não không

đúng pháp, vì thế phải đốt đi. Sứ giả về triều

tâu lại, vua Nhân tông rất mực kính trọng

sư. Từ đó, “Long não bát vu” được dùng để

chỉ cho vị tăng giữ gìn giới luật một cách

nghiêm cẩn.

LONG NÃO HƯƠNG

… … ..

Phạm:Karpùra.

Pàli:Kappùra.

Hán âm: Yết bố la, Kiếp bố la.

Cũng gọi Phiến não.

Tên khoa học: Dryobalanops camphora,

hoặc Shorea camphorifera.

Một loại hương liệu được chế từ cây long

não. Loại cây này sinh sản ở miền Nam Ấn

độ, Sumatra, bán đảo Đông nam và miền

Nam Trung quốc.

Long não thuộc loại cây cao từ 40 đến

60 mét, lá xanh quanh năm, hình tròn quả

trứng, mọc cặp đôi, đầu lá nhọn, hoa màu

trắng rất thơm.

Điều Mạt la củ

tra quốc trong Đại

đường tây vực kí

quyển 10, cho rằng

cây Yết bố la giống

như cây tùng nhưng

lá thì khác, mùi

thơm của nó gọi là

Long não hương,

dáng như vân mẫu

(mica), màu trắng

như tuyết. Loại tuyệt diệu gọi là Mai hoa

long não.

Kim quang minh tối thắng vương kinh

sớ quyển 5 phần đầu của ngàiTuệ chiểu

nói: “Bà luật cao hương tức là dầu hương

long não”.

[X. kinh Kim quang minh tối thắng

vương Q.7; kinh Tô tất địa yết ra Q.thượng;

luận Du già sư địa Q.3; điều Long não

hương trong Tăng quảng bản thảo cương

mục Q.34; Giác thiền sao hương dược sao].

(xt. NgũHương).

LONG NHA TÂY LAI Ý

Cũng gọi Long nha quá bản.

Tên công án trong Thiền lâm.

Công án này nói về cơ duyên vấn đáp

giữa các ngài Long nha Cư độn, Thúy vi

Vô học và Lâm tế Nghĩa huyền đời

Đường.

Tắc 20 Bích nham lục nói, ngài Long nha

hỏi ngài Thúy vi (Đại 48, 160 thượng): “Ý

của Tổ sư từ phương Tây đến là thế nào?”

Ngài Thúy vi đáp: “Đưa Thiền bản lại

đây cho ta”.

Long nha đưa Thiền bản cho Thúy vi,

Thúy vi cầm Thiền bản liền đánh. Long

nha nói:“Đánh thì cứ đánh, nhưng chẳng

có ý Tổ sư từ phương Tây đến”.

Long nha lại hỏi Thiền sư Lâm tế: “Thế

nào là ý của Tổ sư từ phương Tây đến?”

LONG NHA TÂY LAI Ý

Hương Long Não

 

L

2834

Ngài Lâm tế nói: “Đưa bồ đoàn lại đây

cho ta”.

Long nha đưa bồ đoàn cho Lâm tế, Lâm

tế cầm bồ đoàn liền đánh.

Long nha nói: “Đánh thì cứ đánh, nhưng

không có ý của Tổ sư từ phương Tây đến.”

[X. Tắc 80, Thung dung lục].

LONG NỮ HIẾN CHÂU

………..

Long nữ dâng viên bảo châu cúng đức

Phật, biểu thị việc chứng quả viên mãn.

Cứ theo phẩm Đề bà đạt đa trong kinh

Pháp hoa quyển 4, thì Long nữ có 1 viên

ngọc báu, giá trị bằng 3 nghìn đại thiên thế

giới, dâng lên cúng dường đức Phật, Phật

liền nhận. Long nữ nói với bồ tát Trí tích và

tôn giả Xá lợi phất rằng (Đại 9, 35 hạ): “Tôi

dâng cúng viên ngọc báu, đức Thế tôn nhận,

việc ấy có mau không?”

Đáp: “Mau lắm”.

Long nữ nói: “Các ngài hãy dùng sức

thần xem tôi thành Phật còn mau hơn

việc ấy”.

LONG NỮ THÀNH PHẬT

Chỉ cho Long nữ 8 tuổi nhờ công đức

thụ trì kinh Pháp hoa mà thành Phật.

Cứ theo phẩm Đề bà đạt đa trong kinh

Pháp hoa quyển 4, thì Long nữ là con gái

của vua rồng Sa kiệt la, mới có 8 tuổi mà

trí tuệ sắc bén, có khả năng thụ trì bí tạng

sâu xa của Phật, trong khoảng giây lát phát

tâm bồ đề, liền được bất thoái chuyển

(không sụt lui). Long nữ lại dâng cúng đức

Phật 1 viên ngọc quí, nhờ công đức ấyliền

được chuyển thân nữ thành thân nam, đầy

đủ hạnh Bồ tát. Trong khoảng sát na, trụ ở

thế giới Vô cấu tại phương Nam, ngồi trên

hoa sen báu, thành Đẳng chính giác, đầy

đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, nói pháp cho

tất cả trời người. Bồ tát, Thanh văn, Thiên

longbát bộ, nhân, phi nhân, v.v… ở thế

giới Sa bà, từ xa trông thấy Ngài đều vui

mừng kính lễ.

Ở Ấn độ cổ đại, địa vị của người phụ

nữ rất thấp. Phật giáo Tiểu thừa cho rằng

thân người phụ nữ nhơ nhớp, không thể

thành Phật, nhưng Phật giáo Đại thừa thì

chủ trương tất cả chúng sinh đều có khả

năng thành Phật, cho nên trong kinh nói

người phụ nữ có thể chuyển thành thân

nam mà thành Phật. Bởi thế, về phương

diện lí luận tu hành, thuyết “Long nữ thành

Phật” đã cho thấy rõ sự phát triển của Phật

giáo Đại thừa.

[X. kinh Tu ma đề bồ tát; phẩm Nữ

bảo cẩm thụ quyết trong kinh Hải long

vươngQ.3; phẩm Bát hiền thánh trai trong

kinh Bồ tát xử thai Q.7; Pháp hoa kinh

huyền nghĩa Q.5 phần đầu; Pháp hoa kinh

văn cú Q.8 phần cuối]. (xt. Nữ Nhân Vãng

Sinh).

LONG PHẤN TẤN TAM MUỘI

…………..

Chỉ cho tam muội (chính định) hiện ra

uy lực dũng mãnh, thần tốc như loài rồng.

Chương Mã minh đại sĩ trong Cảnh đức

truyền đăng lục quyển 1 (Đại 51, 209 hạ)

nói: “Truyền trao pháp xong, Ngài liền vào

Long phấn tấn tam muội”.

LONG PHƯƠNG

Long phương(phương rồng)có 2 nghĩa:

1. Chỉ cho phương Bắc, vì trong Ngũ

hành, phương Bắc thuộc về thủy, cho nên

được gọi là Long phương.

2. Tên khác của phương Tây. Trong

Mật giáo, vị trời giữ gìn, che chở phương

Tây là Thủy thiên, Thủy thiên là thủ lãnh

của loài rồng, cho nên phương Tây (tức

phương Thủy thiên)được gọi là Long phương.

Kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 8 thượng),

LONG PHƯƠNG

 

L

2835

nói: “Các Đại thần, Biện tài và Tì nữu (…)

đều ở Long phương (phương Tây), khi vẽ

không được bỏ sót và lầm lẫn”.

LONG QUANG THỤY TƯỢNG

Tượng hiếm có thờ ở chùa Long quang.

Chỉ cho pho tượng Phật Thích ca bằng

gỗ chiên đàn, do vua Ưu điền, người Ấn độ,

sai thợ tạc, được thờ ở chùa Long quang tại

Trung quốc.

Tương truyền, ngài Cưu ma la diễm,

thân phụ của ngài Cưu ma la thập, muốn

mang tượng nàytừ Ấn độđến Trung quốc,

dọc đường đến nước Cưu tư thì sinh ra

ngài La thập. Về sau, tượng này được ngài

La thập mang đến Trung quốc, thờ ở chùa

Long quang tại Giang nam, vì thế gọi là

“Long quang thụy tượng”. Đến đời Tùy,

tượng được rước về chùa Trường lạc. Về

sau, trải qua nhiều đời, đến năm Diên hựu

thứ 3 (1316) đời vua Nhân tông nhà

Nguyên, tượng được cung nghinh về thờ ở

điện “Chiên Đàn Thụy Tượng” của chùa

Đại thánh vạn an tại Yên kinh. Hiện nay,

không biết tượng được yên trí ở đâu.

[X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết

hành sự sao Q.hạ phần 2; Tứ phần luật hành

sự sao tư trì kí Q.hạ phần 3; Thích thị kê cổ

lược Q.4]. (xt. Chiên Đàn Thụy Tượng, Long

Quang Tự).

LONG QUANG TỰ

Chùa ở chân núi Phúc chu, thuộc Nam

kinh, tỉnh Giang tô, Trung quốc, do Hoàng

hậu Cung tư sáng lập vào đời Đông Tấn.

Mới đầu, chùa có tên là Thanh viên. Năm

Nghĩa hi thứ 5 (409), ngài Trúc đạo sinh từ

Trường an trở về Kiến khang, được mời trụ

ở chùa này. Niên hiệu Cảnh bình năm đầu

(423) đời Lưu Tống, ngài Trúc đạo sinh và

ngài Tuệ nghiêm thỉnh ngài Phật đà thập

dịch Sa di tắc Ngũ phần luật. Vua Văn đế

rất kính trọng ngài Đạo sinh, các nhà hiền

sĩ như Vương hoằng, Phạm thái, Nhan diên

chi, v.v… đều đến hỏi đạo. Về sau, ngài Đạo

sinh đề xướng thuyết “Xiển đề thành Phật”,

bị những tăng sĩ thủ cựu bài bác, nên ngài

phải bỏ chùa mà đi. Mùa hạ năm ấy, điện

Phật chấn động mạnh, có 1 con rồng bay

lên trời, ánh sáng của rồng chiếu rọi vào bức

vách phía Tây, từ đó chùa được đổi tên là

Long quang. Năm Hàm thông thứ 2 (861),

đời Đường, vua ban tấm biển chùa là “Long

Quang Viện”.

Tương truyền, pho tượng Phật Thích ca

tạc bằng gỗ chiên đàn, đầu tiên do ngài Cưu

ma la thập đưa đến Trung quốc, đến năm

Nghĩa hi 11 (415), đời Đông Tấn, Lưu dụ

tiến đánh Trường an lấy được và đem về

thờ ở chùa này.

[X. Phật tổ thống kỉ Q.15, 36; Lương cao

tăng truyện Q.3, 7, 10, 13, 14; Tục cao tăng

truyện Q.6,7,9; Xuất tam tạng kí tập Q.2;

Kim lăng phạm sát chí Q.48].

LONG QUANG VƯƠNG PHẬT

Phật Long quang vương ở quá khứ rất

lâu xa.

Cứ theo kinh Nhân vương hộ quốc bát

nhã ba la mật quyển thượng, cách nay 10.000

kiếp vào thời đức Phật Long quang vương ở

quá khứ, vua Ba tư nặc nước Xá vệ đã là Bồ

tát Tứ địa và đức Thích tôn là Bồ tát Bát địa

trong Chính pháp của đức Phật này.

LONG SÚC

…..

Chỉ cho loài rồng, thuộc loài súc sinh

trong 6 đường nên gọi là Long súc.

Bài tựa trong Kim sư tử chương (Đại 45,

667 trung), nói: “Giả sử những người mang

thân long súc mà ngộ đạo thì con số ấy có

được 1 vạn chăng?”

LONG SÚC

 

L

2836

LONG TẠNG

…..

I. Long Tạng.

Chỉ cho kinh điển Đại thừa. Tương

truyền, sau khi đức Phật nhập diệt, kinh điển

Đại thừa được cất giữ tại Long cung nên có

tên là Long tạng.

Kinh Bồ tát xử thai quyển 7, kinh Ma

ha ma da quyển hạ, đều nói kinh điển thắng

diệu được tàng trữ ở Long cung.

Cảnh đức truyền đăng lục quyển 23 (Đại

51, 390 hạ), ghi: “Tăng hỏi: Thế nào là cảnh

giới thắng diệu? Sư đáp: Khi Long tạng mở,

kinh điển phân minh”.

[X. Long thụ bồ tát truyện; Hiền thủ

Hoa nghiêm truyện Q.1; Quảng hoằng

minh tập Q.19].

II. Long Tạng.

Cũng gọi Thanh tạng.

Tức là Đại tạng kinh bản khắc vào năm

Càn long, đời Thanh.

(xt. Thanh Tạng).

LONG TÂM

Đồng nghĩa: Long thú tâm(tâm loài rồng).

Tâm nhiều tham muốn, không biết

nhàm chán, là tâm thứ 17 trong 60 vọng

tâm của phàm phu.

Phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật

quyển 1 (Đại 18, 3 hạ), nói: “Thế nào là Long

tâm? Nghĩa là tâm mong cầu nhiều của cải”.

Về cách đối trị tâm này, nên tư duy thiểu

dục, tri túc, vô thường, v.v…

[X. Đại nhật kinh sớ Q.2]. (xt. Lục Thập

Tâm).

LONG THANG

Cũng gọi Hoàng long thang, Đại hoàng

thang, Hoàng thang.

Loại thuốc làm bằng phân người, phân

súc vật, là 1 trong các loại trần khí dược

(thuốc người ta đã vứt bỏ).

Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3

(Đại54, 225 thượng), nói: “Có nơi phong tục

bỉ lậu, lưu hành đã lâu đời, hễ bịbệnh thì

uống phân, nước tiểu; thân thể không được

khỏe thì ăn phân lợn(heo), phân mèo đựng

trong vò, hoặc trong hũ, gọi là Long thang”.

[X. Nam sơn yết ma sớ Q.3 hạ]. (xt. Trần

Khí Dược).

LONG THẦN

…..

Cũng gọi Long chúng.

Thần rồng, 1 trong 8 bộ chúng, vì có đủ

thần lực nên gọi là Long thần, hoặc gọi là

Long vương(vua rồng).

Kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 3 hạ)

nói: “Chư thiên, long thần, nhân và phi nhân

thường đem hương hoa, kĩ nhạc cúng dường.

LONG THẦN TAM NHIÊT

Ba thứ khổ nhiệt não mà tất cả quyến

thuộc của loài rồng ở cõi Diêm phù đề đều

phải chịu, ngoại trừ Long vương của ao A

nậu đạt. Ba thứ nhiệt não này cũng gọi là

Tam hoạn, Tam nhiệt. Đó là:

1. Chịu cái khổ gió nóng, cát nóng thổi

ập vào thân.

2. Chịu cái khổ cuồng phong thổi mạnh,

áo báu trên mình tự nhiên biến mất, để lộ

thân rồng.

3. Lo sợ chim cánh vàng(chim đại bàng)

ăn thịt rồng con trong cung.

[X. phẩm Diêm phù đề châu trong kinh

Trường a hàm Q.18].

LONG THÍ BỒ TÁT BẢN KHỞI KINH

Cũng gọi Long thí kinh, Long thí nữ

kinh, Long thí bản khởi kinh.

Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ

LONG THÍ BỒ TÁT BẢN KHỞI KINH

 

L

2837

dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại

chính tạng tập 14.

Nội dung kinh này ghi chép việc bồ tát

Long thí ở trước đức Phật thuật lại nhân

duyên tiền kiếp của mình là nàng Long thí

đã xả thân để cầu pháp Đại thừa.

(xt. Long Thí Nữ Kinh).

LONG THÍ NỮ KINH

………..

Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch

vào đời Ngô, Trung quốc, được thu vào Đại

chính tạng tập 14.

Nội dung kinh này thuật lại việc đức

Phật đi đến vườn cây Nại thị ở thành Tì xá

li, người con gái của Trưởng giả Tu phúc là

nàng Long thí vừa thấy tướng hảo của đức

Phật liền phát tâm bồ đề, tu hạnh Bồ tát.

Lúc ấy, ma liền hóa làm cha nàng dụ dỗ tu

theo Tiểu thừa, nhưng nàng không hề lay

động. Ma lại nói: “Người tu hạnh Bồ tát

không được tham đắm thế gian, không tiếc

thân mệnh, nếu có thể nhảy từ lầu cao

xuống đất thì được thành Phật”. Nàng Long

thí liền nhảy từtrênlầu xuống, nhưng chưa

chạm đất thì đã biến thành thân con trai.

Về sau, được cha mẹ cho phép theo Phật

xuất gia tu hành.

Theo Khai nguyên thích giáo lục quyển

2, kinh này là bản dịch khác của kinh Long

thí bồ tát bản khởi.

[X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại

Tam bảo kỉ Q.5].

LONG THIÊN

I. Long Thiên.

Danh hiệu của 1 đức Phật ở đời quá khứ.

Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại

12, 266 hạ), chép: “Đức Phật bảo tôn giả

A nan: Thủa xưa, cách nay vô lượng số

kiếp không thể nghĩ bàn (…) có đức Như

lai tên là Quang viễn (…), đức Như lai kế

tiếp hiệu là Long thiên”.

II. Long Thiên.

Chỉ cho Long chúng và Thiên chúng

trong 8 bộ chúng, là những vị thiện thần hộ

trì Phật pháp.

[X. kinh Thiên thủ Quan âm].

III. Long Thiên.

Từ gọi chung 2 bồ tát Long thụ và Thiên

thân (Thế thân).

LONG THỤ

Phạm:Nàgàrjuna.

Hán âm: Na già ứ lạt thụ na, Na già a

chu đà na.

Cũng gọi Long mãnh, Long thắng.

Tổ khai sáng của học phái Trung quán

thuộc Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ, sinh vào

khoảng thế kỉ thứ II, thứ III, thuộc dòng

dõi Bà la môn, Nam Ấn độ.

Từ nhỏ ngài đã thông minh dĩnh ngộ,

học 4 Phệ đà, thiên văn, địa lí, sấm vĩ, bí

tạng và các đạo thuật đều thông suốt. Ngài

từng cùng với 3 người bạn thân học phép

tàng hình, lén vào cung vua chơi bời. Việc

bại lộ, 3 người bạn bị vua chém đầu, riêng

ngài thoát khỏi. Do việc này, ngài cảm ngộ

ái dục là gốc của sự đau khổ, liền vào núi

đến trước tháp Phật xuất gia thụ giới.

Sau khi xuất gia, ngài nghiên cứu tam

tạng, nhưng thấy chưa đủ, lại đến núi Hi

mã lạp sơn, gặp 1 vị lão tỉ khưu trao cho

kinh điển Đại thừa, mặc dầu biết thực nghĩa

nhưng chưa thể thông suốt. Lại vì ngài từng

phá giáo nghĩa của luận sư ngoại đạo, nên

sinh tâm tà mạn, tự đặt ra giới mới, mặc áo

mới, ở riêng trong căn phòng thủy tinh tĩnh

mịch. Bấy giờ có bồ tát Đại long, thấy vậy

thương xót, bèn dẫn ngài vào Long cung trao

cho vô lượng kinh điển Đại thừa, ngài thấu

hiểu hết giáo lí.

Bấy giờ, vua Nam Thiên trúc tin theo Bà

la môn giáo, công kích Phật giáo, ngài đến

LONG THỤ

 

L

2838

đó giáo hóa, khiến vua bỏ tín ngưỡng Bà la

môn giáo mà qui y Phật giáo. Từ đó về sau,

ngài tận lực hoằng pháp, soạn các sách để

chú thích kinh điển Đại thừa, thiết lập hệ

thống giáo học Đại thừa, khiến cho học

thuyết “Bát nhã tính không” được truyền

bá rộng khắp trên toàn cõi Ấn độ. Về già,

ngài trụ ở núi Hắc phong thuộc miền Nam

Ấn độ, có người đệ tử tên là Đề bà.

Sự tích về ngài Long thụ theo Tây tạng

truyền có nhiều chỗ khác nhau với những

điều được trình bày ở trên. Chẳng hạn như

trong quyển “Thất Cao tăng”(7 vị cao tăng)

tiếng Tây tạng, tác giả Đa la na tha nói rằng,

ngài Long thụ từng tu tập các loại Thành

tựu(Tất địa) như: Vô lượng thọ đà la ni,

Thành tựu đại khổng tước nữ, Cửu dạ xoa,

v.v… khiến cho con gái của Long vương Đức

xoa ca và quyến thuộc xây dựng chùa, tháp…

Về sau, ngài và các nữ Dạ xoa ở núi Cát

tường cùng tu Đát đặc la, v.v… Còn có thuyết

cho rằng ngàitừng dùng 7 hạt cải trắng mở

tháp sắt ở Nam Ấn độ, lấy được kinh Kim

cương đính. Đại khái những truyện trên

đây đều là truyền thuyết của đời sau mang

nặng sắc thái Mật giáo.

Về niên đại xuất thế của ngài cũng có

các thuyết khác nhau:

1. Theo bài tựa luận Đại trí độ của ngài

Tăng duệ và các bài tựa Đại trí luận sao của

ngài Lô sơn Tuệ viễn(chép trong Xuất tam

tạng kí tập quyển 10), thì ngài ra đời khoảng

900 năm sau khi đức Phật nhập diệt.

2. Theo Bách luận sớ quyển thượng, ngài

sinh vào khoảng 530 năm sau khi đức Phật

nhập diệt.

3. Theo Tam luận du ý nghĩa, Nhị giáo

luận của ngài Đạo an, Long thụ bồ tát

truyện, v.v… thì ngài ra đời vào khoảng 880

năm sau khi đức Phật nhập diệt, tức là vào

cuối thế kỉ thứ IV Tây lịch. Các học giả hiện

đại như Pháp sư Ấn thuận, v.v… phần nhiều

theo thuyết thứ 3.

Còn về sự nhập diệt của ngài, theo Long

thụ bồ tát truyện, có 1 pháp sư Tiểu thừa, vì

ghanh ghét, không muốn thấy ngài sống lâu,

ngài biết được điều ấy liền vào tịnh thất thoát

xác mà đi.

Theo điều Kiêu tát la quốc trong Đại

đường tây vực kí quyển 10, thì vua nước này

là Sa đa bà ha qui y ngài, ngài đem diệu

dược tặng cho, 2 người cùng sống lâu không

suy yếu. Con vua muốn lên ngôi sớm, nên

thỉnh ngài tự tận, ngài dùng lá cỏ tranh khô

tự cắt cổ chết, vua quá buồn sầu thương tiếc,

nên không bao lâu cũng chết theo.

Về tuổi thọ của ngài, theo Thập nhị môn

luận tông trí nghĩa kí quyển thượng và Pháp

uyển châu lâm quyển 53, thì ngài thọ đến

100 tuổi, thuyết này khó tin. Tuy nhiên, nếu

căn cứ vào điều Triêu tước xỉ mộc trong Nam

hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 và các

sách khác nói về việc ngài chuyên về thuật

trường sinh mà suy đoán, thì tuổi thọ của

ngài cũng có thể ở mức 100 trở lên.

Về tên tiếng Phạm và tên dịch của ngài,

theo Long thụ bồ tát truyện, Đại đường

tây vực kí quyển 8, Thậpnhịmôn luận tông

trí nghĩa kí quyển thượng, kinh Bồ đề hạnh,

Trung luận thích của ngài Nguyệt xứng,

Bát nhã thích của ngài Sư tử hiền, v.v…

đều ghi tên Phạm của ngài làNàgàrjuna.

Nhưng kinh Nhập lăng già bằng tiếng Phạm

thì ghi tên Phạm của ngài làNàgàhvaya,

phải dịch là Long khiếu, Long mãnh, Long

danh. Nhưng chương 17 trong Ấn độ Phật

giáo sử của Đa la na tha thì cho rằng Long

thụ và Long khiếu là 2 người khác. Long

khiếu và Đề bà(đệ tử của ngài Long thụ) là

người đồng thời đại, trụ ở chùa Na lan đà.

Trong tác phẩm “Không Chi Thám Cứu”,

chương 4, phần 1, Pháp sư Ấn thuận căn

cứ vào thuyết trên, cho rằng Long khiếu

(hoặc Long mãnh) không phải là Long thụ,

niên đại muộn hơn so với niên đại ngài

Long thụ, có thể vào thời đại vua Chiên đà

LONG THỤ

 

L

2839

la cấp đa(từ 320 sau Tây lịch).

Ngoài ra, ngài còn là Tổ phó pháp tạng

thứ 13 của Thiền tông Ấn độ, đồng thời, tại

Trung quốc và Nhật bản xưa nay ngài cũng

được suy tôn làm Tổ của 8 tông.

Ngài có các tác phẩm: Trung luận tụng,

Thập nhị môn luận, Không thất thập luận,

Lục thập tụng như lí luận, Đại thừa phá

hữu luận, Đại trí độ luận, Thập trụ tì bà sa

luận, Đại thừa nhị thập tụng luận, Bồ đề

tư lương luận, Bảo hành vương chính luận,

Nhân duyên tâm luận tụng, Bồ đề tâm li

tướng luận, Phúc cái chính hành sở tập

kinh, Tánpháp giới tụng, Quảng đại phát

nguyện tụng.

[X. kinh Nhập lăng già Q.9; Đại thừa

huyền luận Q.5, Hoa nghiêm kinh truyện

kí Q.5; Phó pháp tạng nhân duyên truyện

Q.5; Truyền pháp chính tông kí Q.3, Phật

tổ thống kỉ Q.5; Pháp uyển châu lâm Q.38;

The Life of Nàgàrjuna from Tibetan and

Chinese Sources (M.Walleser)].

LONG THỤ BẢN TÍCH

Chỉ cho bản địa và thùy tích của ngài

Long thụ.

Bản, nghĩa là bản địa đã thành từ lâu;

Tích, nghĩa là dấu tích ứng hiện mới thành

gần đây. Tức là thực thể và ảnh hiện của nó.

Bản địa củabồ tát Long thụ là đức Phật

Diệuvân tướng ở đời quá khứ, hoặc gọi là

Diệu vân tự tại vương Như lai; còn ứng

thân thùy tích hiện tại của ngài làBồ tát

Hoan hỉ địa.

Tam bảo cảm ứng yếu lục quyển hạ (Đại

51, 856 thượng) nói: “Hai vị bồ tát Mã minh

và Long thụ cùng thị hiện bản tích lợi ích

chúng sinh (…), ngài Mã minh thời quá khứ

đã thành Phật hiệu là Đại quang minh Phật,

ngài Long thụ cũng đã thành Phật hiệu là

Diệu vân tướng Phật”.

[X. Bát tông cương yếu Q.thượng].

LONG THỤ BỒ TÁT KHUYẾN GIỚI VƯƠNG TỤNG

Phạm:Suhfl-lekha.

Tạng:Bzes-pa#i sprií-yig.

Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh

dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính

tạng tập 32.

Đây là tác phẩm của ngài Long thụ

nhằm khuyên răn vị Quốc vương ở Nam

Ấn độ. Nội dung gồm 126 bài kệ tụng, theo

thể 5 chữ 4 câu. Trong đó, 3 bài tụng đầu

tiên nói rõ mục đích soạn thuật, 41 bài kế

tiếp là nói về 6 Ba la mật, 8 chi Thánh giới,

thiểu dục v.v…, 13 bài tiếp theo bàn về 5

Cái(phiền não), 5 pháp tối thắng, 3 kết, 3

học, v.v…, 50 bài tiếp theo nói về vô thường

và những nỗi khổ não trong 6 đường như

địa ngục, quỉ đói, v.v…, 13 bài tiếp đó là

thuyết minh về 7 phần Bồ đề, 12 duyên

khởi, 8 Thánh đạo, 4 Thánh đế, v.v…, 6

bài cuối cùng nêu danh hiệu của đức Phật

A di đà và bồ tát Quán tự tại.

Vị vua được nói đến trong sách này,

ngài Nghĩa tịnh dịch là Thân Hữu Thừa

Thổ Quốc Vương, ngài Cầu na bạt ma đời

Lưu Tống dịch là Thiền Đà Ca Vương, ngài

Tăng già bạt ma đời Lưu Tống dịch là Minh

Thắng Công Đức Vương, Tây tạng dịch là

Đức Tây Âu Đắc Vương (Tạng: Bde-spyod),

Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4

dịch hiệu là Sa Na Bà Hán Na, tên là Thị

Dần Đắc Ca.

[X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9;

History of Buddhism by Bu-ston (E.

Obermiller)].

LONG THỤ BỒ TÁT TRUYÊN

Truyện kí, 1 quyển, do ngài Cưu ma la

thập dịch vào đời Hậu Tần, được thu vào

Đại chính tạng tập 50.

Sách này ghi chép sự tích của ngài Long

LONG THỤ BỒ TÁT TRUYÊN

 
Ý kiến bạn đọc