Chưa có thông tin tác giả

 
 
  • Hội quán thư pháp Thạch Thiện
 
 

Phật Quang Đại Từ Điển – G

 

Xem sách dạng pdf

G

1907

GIA BỊ

…..

Cũng gọi Gia hựu, Gia uy, Gia.

Chư Phật Như lai dùng tâm từ bi gia hộ

chúng sinh. Sức gia bị của chư Phật gọi là

Gia bị lực, hoặc Gia uy lực.

Gia bị có hai thứ:

1. Hiển gia: Mắt có thể thấy được, chẳng

hạn như người thuyết pháp được sức gia bị

của Phật và Bồ tát thì ba nghiệp thân,

miệng, ý của người ấy có thể diễn nói đúng

như pháp:

2. Minh gia(cũng gọi Minh hộ, Minh hựu):

Mắt thường không nhìn thấy được, nhưng

âm thầm cảm nhận có sức gia bị của chư

Phật và Bồ tát.

[X. kinh Bồ tát anh lạc Q.3; luận Đại trí

độ Q.41; A di đà kinh sớ sao tự (Vân thê);

Câu xá quang kí Q.1; Quán kinh huyền

nghĩa phần truyền thông kí Q.1].

GIA CẨU

…..

Chó nuôi trong nhà đã quá quen nên nó

không sợ người.

Từ ngữ này được dùng để ví dụ các phiền

não như tham lam, sân hận, oán hờn cứ

bám theo con người khó trừ diệt được.

Kinh Đại bát niết bàn quyển 15 (Đại12,

453 hạ) nói: “Như chó nhà không sợ người,

hươu rừng thấy người thì kinh hoàng bỏ

chạy; lòng sân hận khó đuổi đi, như chó

trong nhà, tâm từ bi dễ mất như hươu ở

rừng”.

[X. Vãng sinh yếu tập Q.trung phần cuối].

GIA CÚ

… ..

Những tiếng thêm vào đầu hoặc ở cuối

bài chân ngôn (chú). Tùy theo các loại pháp

tu mà những tiếng thêm ấy có khác nhau.

Chẳng hạn như bài chú tụng khi tu pháp

Tức tai, thì ở đầu thêm chữ “Án” (oô), ở

cuối thêm tiếng “Sa ha” (svàhà), hoặc “Phiến

để ca” (Zàntika). Khi tu pháp Điều phục

thì ở đầu là chữ “Hồng” (huô), ở cuối thêm

chữ “Hồng” (huô), “Phát tra” (phaỉ).

[X. Đại nhật kinh sớ Q.7; Bất tư nghị

sớ Q.hạ].

GIA ĐÀM BÀ THỤ

Phạm, Pàli:Kadamba.

Cũng gọi Ca đàm bà thụ.

Một loại cây cao sinh sản ở Ấn độ, hoa

hình tròn, mầu trắng phớt vàng, nở vào

khoảng tháng 6, mùi rất thơm.

Kinh Khởi thế quyển 1 do ngài Xà na

G

GIA ĐÀM BÀ THỤ

 

G

1908

quật đa dịch vào đời Tùy nói rằng, ở châu

Phất bà tì đề ha, có cây Ca đàm bà, đường

kính bảy do tuần, rễ ăn sâu vào lòng đất 21

do tuần, cao 100 do tuần, cành lá che rợp

50 do tuần. Duy có điều, loại cây được ghi

trong kinh này không giống với cây Gia đàm

bà người ta thấy hiện nay.

Ngoài ra, tín đồ Ấn độ giáo cho cây này

là cây thiêng liêng của thần Cát lật sắt noa

(Phạm:Kfwịa) và vị thần này thường cùng

với vợ là La đạt dạo chơi dưới cây Gia

đàm bà.

[X. phẩm Bất không kiến bản sự trong

kinh Bồ tát niệm Phật tam muội Q.1; kinh

Đại lâu thán Q.1].

GIA ĐẢO PHÁP LOẠN

………..

Cũng gọi Gia đảo pháp nạn, Nhiệt

nguyên pháp nạn.

Biến cố trong đó giáo đồ tông Nhật

liên bị bách hại ở làng Nhiệt nguyên trang

Gia đảo, huyện Tĩnh cương, quận Phú sĩ,

Nhật bản.

Sư Nhật liên, Sơ tổ tông Nhật liên, cùng

các đệ tử đến giảng đạo ở quận Phú sĩ,

dân chúng đến qui y mỗi ngày một đông,

làm cho sư Nghiêm dự, trụ trì chùa Thực

tướng thuộc tông Thiên thai tại Nham bản

và sư Hành trí trụ trì chùa Lang tuyền

thuộc tông Chân ngôn ở Hạ phương sinh

lòng ghen ghét.

Năm Hoằng an thứ 2 (1279), đệ tử qui

y của sư Nhật liên người làng Nhiệt

nguyên, trang Gia đảo, tên là Thân di Tứ

lang bị giết hại. Đệ tử xuất gia của sư Nhật

liên làNhật hưng bèn truy tố sư Nhật tú

của chùa Lang tuyền ra trước tòa án địa

phương. Kết quả ngược lại là nhóm đệ tử

qui y của sưNhật liên là Thần tứ lang v.v…

lại bị tử hình.

Do đó, sư Nhật liên mới làm sách “Thánh

Nhân Ngự Nạn Sao” để răn dạy môn đồ.

Về sau, Nhật tú đến Mạc phủ trình tờ đơn

minh oan của chùa Lang tuyền để bày tỏ rõ

sự thật. Việc đã xong, Nhật tú lui về ở ẩn.

GIA ĐẰNG ĐỐT ĐƯỜNG (1870-1949)

Nhà giáo dục xã hội Nhật bản, quê ở

phủ Kinh đô, vốn tên là Hùng nhất lang.

Thủa nhỏ, ông theo thân phụ học chữ

Hán, lớn lên ông vào học luật ở trường Anh

cát lợi (tiền thân Đại học Trung ương) tại

Đông kinh (Tokyo). Sau, ông cùng với các

bạn là Đảo điền Phồn căn và Đại nội Thanh

loan cùng theo ngài Đại qui Như điện

nghiên cứu Phật pháp, đồng thời, ông còn

lưu tâm đến việc giáo hóa xã hội. Ông từng

giữ các chức Quản lí sự vụ Hội liên hiệp

giáo hóa đoàn thể, Hội trưởng Thượng cung

giáo hội Trung ương, Chủ biên tạp chí “Tân

Tu Dưỡng” (năm Đại chính 13-1924 đổi

tên là “Tinh Thần”) và thường đi diễn

thuyết các nơi trong nước. Ông được tôn

là người có công lớn trong việc giáo hóa xã

hội và trong các năm Đại chính 13 (1924),

Chiêu hòa thứ 3 (1928), ông lần lượt được

Cung nội tỉnh và Văn bộ đại thần trao tặng

huân chương.

Ngoài ra, ông còn dạy ở các Đại học Đông

dương, Đại học Nhật bản và Đại học tông

Tào động.

Năm Chiêu hòa 24 (1949) ông qua đời,

thọ 80 tuổi.

Tác phẩm của

ông gồm có: Bích

nham lục đại giảng

tọa 12 quyển, Tu

dưỡng đại giảng tọa

12 quyển, Thiền

học yếu nghĩa, Duy

ma kinh giảng

thoại; Bích nham

lục giảng thoại,

Nhật bản Phật giáo

GIA ĐẰNG ĐỐT ĐƯỜNG

Gia Đằng Đốt Đường

 

G

1909

chi khái thuyết, Duy ma chi chântủy, Khởi

tín luận giảng thoại, Thiền dữ sinh hoạt.

[X. Minh trị Phật giáo sử (Thanh niên

Phật giáo tùng thư 20); Đại chính Phật giáo

sử (Thanh niên Phật giáo tùng thư 31); Minh

trị đại chính chiêu hòa thời đại Phật giáo sử

(Phật giáo đại giảng tọa)].

GIA ĐẰNG TINH THẦN (1872-1956)

Vị tăng học giả của phái Phong sơn thuộc

tông Tân nghĩa chân ngôn Nhật bản.

Thủa nhỏ, sư xuất gia, được thụ quán

đính. Lớn lên, sư chuyên học về chân ngôn

và tính tướng. Sư từng giữ các chức Giáo sư

và Hiệu trưởng các trường Đại học. Sư từng

mở đàn Quán đính ở chùa Dữ lạc tại Điền

đoan, Đông kinh. Năm Đại chính thứ 4

(1925), sư được bầu làm Đại tư giáo đại tăng

chính. Sư đã đóng góp rất nhiều công lao

cho Phật giáo và giới học thuật.

Năm Chiêu hòa 31 (1956) sư tịch, thọ

85 tuổi.

Tác phẩm của sư gồm hơn 10 loại, như:

Đại nhật Như lai chi nghiên cứu, Nhân

vương bát nhã kinh quốc dịch lược chú, Duy

thức nhị thập luận v.v…

GIA ĐÌNH KINH

……..

Phạm:Gfhya-sùtra.

Kinh cương yếu nói về các nghi thức tế

lễ trong gia đình ở thời đại Phệ đà của Ấn

độ đời xưa. Kinh này và kinh “Tùy văn” là

một phần của Kiếp kinh (Phạm: Kalpasùtra)

đều thuộc văn hiến phụ trợ của kinh

Phệ đà.

Kinh này được soạn thành vào khoảng

từ 400-200 năm trước Tây lịch. Nội dung

nói về các nghi thức và quá trình tế lễ trong

gia đình, vốn đã trở thành truyền thống dân

gian gắn liền với những sinh hoạt hàng ngày

của người Ấn độ. Phàm các việc như sinh

ra, đặt tên, nhập học, tốt nghiệp, hôn nhân,

chôn cất v.v… đều có tế lễ, trong đó còn

chia ra tế lễ lâm thời và định kì khác nhau.

Thông thường, nghi thức tế lễ để giữ cho

ngọn lửa cháy suốt năm không tắt thì do

người làm chủ trong gia đình cử hành.

Những phẩm vật dùng trong việc cúng

tế gồm có: Ngũ cốc, sữa, súc sinh v.v…

(xt. Tùy Văn Kinh).

GIA GIA THÁNH GIẢ

Gia gia là dịch ý từ tiếng Phạm

Kulaôkula.

Là tên của bậc Thánh Tiểu thừa. Một

trong 27 bậc Hiền thánh, một trong 18 bậc

Hữu học.

Gia gia chỉ cho bậc Thánh Nhất lai hướng

trong 4 quả Thanh văn, đã dứt được phẩm

thứ 3 và phẩm thứ 4 trong 9 phẩm Tu hoặc

ở cõi Dục. Sau khi mệnh chung, bậc Thánh

này còn phải qua 3 hoặc 2 lần thụ sinh trong

loài trời, người ở cõi Dục, từ nhà này đến

nhà khác, rồi mới chứng được quả A la hán

mà vào Niết bàn, cho nên gọi là Gia gia.

Tính theo số lần thụ sinh thì Gia gia có thể

chia làm 2 loại:

1. Tam sinh gia gia: Người đã đoạn được

3 phẩm Tu hoặc ở cõi Dục, đã diệt được 4

lần thụ sinh, nhưng vẫn còn 6 phẩm Tu

hoặc nữa.

2. Nhị sinh gia gia: Người đoạn được

bốn phẩm Tu hoặc ở cõi Dục, đã diệt được

5 lần thụ sinh, nhưng vẫn còn 5 phẩm Tu

hoặc nữa.

Nếu theo các loài sinh thì có thể chia

làm:

1. Thiên gia gia: Người thụ sinh ở cõi

Trời 3 hoặc 2 lần, rồi mới chứng Niết bàn.

2. Nhân gia gia: Người thụ sinh ở cõi

người 3 hoặc 2 lần, rồi mới chứng Niết bàn.

Ngoài ra, còn có hạng Bình đẳng gia

gia không nhàm chán thụ sinh và Bất bình

GIA GIA THÁNH GIẢ

 

G

1910

đẳng gia gia nhàm chán thụ sinh.

[X. luận Câu xá Q.24; luận A tì đàm tâm

Q.2; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.64].

(xt. Tứ Hướng Tứ Quả).

GIA GIÁO

Cũng gọi Gia huấn, Tiểu tham.

Trong Thiền lâm, ngoài giờ nghe pháp

chính thức trên Pháp đường là Đại tham ra,

chiều tối lại, người học vào phòng liêu riêng

của thầy để xin được chỉ dạy thêm những

điều mình chưa hiểu rõ, gọi là Tiểu tham. Ở

đây gọi Tiểu tham là Gia giáo là ví như cha

mẹ ban ngày giao việc cho các con, chiều tối

đến kiểm tra lại xem chúng làm có đúng hết

không, nếu còn sai sót thì dạy bảo, vì vậy

gọi là Gia giáo.

GIA HẠNH

Phạm: Prayoga.

Dịch cũ: Phương tiện.

Nghĩa là tu hành để tăng thêm công dụng.

Cứ theo luận Thành duy thức quyển 9

và Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương

quyển 2 phần cuối, thì giai vị của Tứ thiện

căn tiếp cận với Kiến đạo đặc biệt được gọi

là Gia hạnh, nhưng cũng chung cho cả giai

vị Tư lương. Như trong Bạch phẩm và Hắc

phẩm của luận Du già sư địa quyển 31 nêu

ra chín loại pháp gia hạnh là Tương ứng,

Quán tập, Vô đảo, Bất hoãn, Ứng thời, Giải

liễu, Vô yếm túc, Bất xả ách và Chính đẳng,

tức là ý ấy (nghĩa là chung cho các giai vị).

Ngoài ra, trong Mật giáo, Gia hạnh là

chỉ cho các pháp tu đặc biệt mà hành giả

Mật giáo phải tu trước khi chính thức được

truyền trao pháp Quán đính (Chính hạnh).

Những pháp ấy là: Thập bát đạo, Kim cương

giới, Thai tạng giới và Hộ ma. Đây là giai

đoạn thứ nhất của hành giả Mật giáo tu hành

mà đến nay vẫn còn được coi trọng.

[X. luận Câu xá Q.25; luận Hiển dương

Thánh giáo Q.18; Đại thừa pháp tướng danh

mục Q.5 phần dưới].

GIA HẠNH ĐẠI SĨ

Chỉ cho hàng Bồ tát ở giai vị gia hạnh

của Đại thừa. Giới Phật giáo Nhật bản gọi

ngài Thế thân là Gia hạnh đại sĩ.

(xt. Gia Hạnh Vị).

GIA HẠNH ĐẠO

Phạm: Prayoga màrga.

Cũng gọi Phương tiện đạo. Một trong

bốn đạo.

Giai đoạn tu gia hạnh để đoạn trừ phiền

não.

Gia hạnh ở đây cũng giống với vị gia hạnh

trong Ngũ vị của Duy thức, tức là vị Tứ thiện

căn (Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp)

trước giai vị Kiến đạo.

Cứ theo luận Câu xá quyển 25, thì trải

qua Gia hạnh đạo rồi, hành giả có thể đạt

đến Vô gián đạo.

Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương

quyển 2 (Đại 45, 282 hạ), nói: “Gia hạnh,

nghĩa là tu hành thêm công dụng để mong

cầu Đoạn đạo”.

[X. luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.8;

luận Thành duy thức Q.9; luận Du già sư

địa Q.69; luận Câu xá Q.21]. (xt. Gia Hạnh,

Gia Hạnh Vị).

GIA HẠNH ĐẮC

Cũng gọi Tu đắc, Nhân công đắc.

Pháp chứng được nhờ gia hạnh văn, tư,

tu. Nghĩa là nhờ sức tinh tiến tu hành mới

có thể chứng được.

[X. luận Câu xá Q.4, Q.5, Q.22; luận Đại

tì bà sa Q.144; Đại thừa pháp uyển nghĩa

lâm chương Q.6 phần cuối].

GIA HẠNH ĐẮC

 

G

1911

GIA HẠNH KẾT NGUYÊN

Truyền trao pháp bí mật sau khi kết thúc

giai đoạn tu gia hạnh (tu dự bị trước).

Đây là pháp tu đặc biệt của Mật giáo và

tùy theo các phái mà có khác nhau.

GIA HẠNH QUẢ

Phạm: Prayoga-phala.

Quả được sinh ra nhờ sức gia hạnh, như

trí vô lậu được sinh khởi là nhờ sức gia hạnh

của bất tịnh quán. Đây là một trong chín

quả do các vị Luận sư của nước Kiện đà la

lập ra.

Luận Đại tì bà sa quyển 121 (Đại 27,

630 trung), nói: “Gia hạnh quả, nghĩa là nhờ

sức gia hạnh tu bất tịnh quán, hoặc trì tức

niệm mà dần dần phát khởi tận trí, vô sinh

trí. Các quả gia hạnh khác đại khái cũng

như thế”.

[X. luận Câu xá Q.6].

GIA HẠNH THIÊN

Đối lại với “Sinh đắc thiện”.

Chỉ cho phương tiện thiện hoặc tu đắc

thiện, là tâm thiện có được nhờ sức phương

tiện gia hạnh. Nghĩa là tâm thiện sáng suốt

nhờ công lao tu hành mới đạt được chứ

chẳng phải tự nhiên sinh ra đã có.

Luận Câu xá quyển 7 (Đại 29, 39 thượng),

nói: “Tâm thiện trong 3 cõi chia làm 2 loại:

Gia hạnh đắc và Sinh đắc”.

Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương

quyển 6 (Đại 45, 354 trung), nói: “Nếu do

sức nghiên cứu ba tạng kinh điển mà thiện

tâm trí tuệ sáng suốt phát sinh, thì gọi là

Gia hạnh thiện; thuận theo pháp xuất thế,

gắng sức tu hành, tính rất sáng tỏ, gọi là

Văn tuệ (…). Ba loại thiện này không phải

tự nhiên mà có, nó rất sáng suốt và nhờ gia

hạnh mà được, cho nên gọi là Gia hạnh

thiện”.

[X. luận Đại tì bà sa Q.11; luận A tì đạt

ma thuận chính lí Q.20; luận Hiển dương

Thánh giáo Q.18; Câu xá luận quang kí Q.7].

(xt. Tam Tính).

GIA HẠNH VỊ

Cũng gọi Gia hạnh đạo, Phương tiện đạo.

Gia công sức tiến tu. Là giai vị thứ 2 trong

5 vị tu đạo do tông Duy thức lập ra.

Tức là vị Tứ thiện căn gồm: Noãn, Đính,

Nhẫn và Thế đệ nhất pháp do tu tập Tứ

tầm tư, Tứ như thực trí mà phát sinh, là gia

hạnh phương tiện để vào Kiến đạo, thông

suốt chân lí.

Luận Thành duy thức quyển 9 (Đại 31,

48 trung), nói: “Gia hạnh vị, nghĩa là tu Đại

thừa thuận quyết trạch phần (…) Bốn pháp

Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp gọi

chung là Thuận quyết trạch phần. Trong giai

vị tư lương trước cũng có sự dụng công gia

hạnh, nhưng đây nói gia hạnh là do ở chỗ

thuận tới chân thực quyết trạch phần, gần

được ngôi Kiến đạo mà lập danh”.

[X. luận Câu xá Q.22; luận Đại thừa a tì

đạt ma tạp tập Q.8; Thành duy thức luận

thuật kí Q.9; Bách pháp vấn đáp sao Q.5,

Q.6]. (xt. Ngũ Vị, Tứ Tầm Tư).

GIA HỘ

…..

Thêm sức giúp đỡ che chở.

Tức là chư Phật và Bồ tát dùng sức mình

để gia bị hộ trì cho chúng sinh.

Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển

27 (Đại 10, 147 hạ, nói: “Thường được tất

cả chư Phật gia hộ”.

Kinh Tối thắng vương quyển 8 (Đại 16,

443 thượng), nói: “Do chư thiên gia hộ mà

được làm quốc vương”.

(xt. Gia Trì).

GIA HỘ

 

G

1912

GIA HỘI ĐÀN MẠN ĐỒ LA

Gia nghĩa là hoan hỉ; Hội nghĩa là đến

hội họp.

Gia hội đàn mạn đồ la tức là mạn đồ

la của các Tôn vị Mật giáo hội họp để

hiển bày bản thệ, là 1 trong 4 loại mạn

đồ la Thai tạng được nói trong kinh Đại

nhật.

Mạn đồ la này được dùng trong nghi thức

quán đính Thụ minh, Truyền pháp.

[X. Đại nhật kinh sớ Q.6, Q.12; Bí tạng

kí sao Q.1; Thai tạng giới mạn đồ la sao

Q.thượng; Khê lam thập diệp tập Q.53].

GIA MỘC TƯỜNG

Gọi đủ: Gia mộc tường hiệp tỉ đa cát.

Dịch ý: Diệu ngữ tiếu kim cương.

Vị Phật sống chuyển thế thuộc phái Cách

lỗ của Phật giáo Tây tạng, cũng là vị tọa chủ

tối cao của chùa Lạp bốc lăng.

Căn khâm gia mộc tường hiệp tỉ đa

cát đời thứ I là Giác ngọa tôn truy hiệp

ba (1648-1721) quê ở Cam gia than sông

Hạ, thuộc tỉnh Cam túc. Ngài học kinh ở

Tây tạng, được học vị “Cách tây”, từng

giữ chức Quách mang trát thương kham

bố của chùa Triết bạng. Khoảng năm

Khang hi (1662-1722) đời Thanh ngài

được sắc phong là “Hộ pháp Thiền sư

Ngạch nhĩ đức ni nặc môn hãn”. Sau nhận

lời thỉnh của Thân vương Hà nam Thanh

hải Mông cổ, ngài trở về sông Hạ xây dựng

chùa Lạp bốc lăng (chùa lớn thứ 6 của

phái Hoàng giáo), hình thành hệ thống

Phật sống chuyển thế lớn nhất của Hoàng

giáo ở vùng An mộc đa. Đời thứ II là Cư

mễ vượng ba, từng được Hoàng đế Càn

long sắc phong là “Hộ pháp Thiền sư Hô

đồ khắc đồ”.

Gia mộc tường hiện nay là đời thứ VI.

GIA THÁI PHỔ ĐĂNG LỤC

Gồm 30 quyển và 3 quyển mục lục, do

ngài Lôi am Chính thụ biên soạn và hoàn

thành vào năm Gia thái thứ 4 (1204) đời

Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 137.

Bộ lục này là tiếp sau các bộ: Cảnh đức

truyền đăng lục, Thiên thánh quảng đăng

lục, Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục và

ngài Lôi am đã phải dành ra 17 năm trời

mới biên soạn xong.

Nội dung gồm: Thị chúng cơ ngữ, Thánh

quân hiền thần, Ứng hóa thánh hiền, Quảng

ngữ, Niêm cổ, Tụng cổ, Kệ tán, Tạp trứ v.v…

Mục lục quyển đầu có phụ thêm phần

tiểu sử của thiền sư Lôi am Chính thụ và

thư của ngài dâng bộ Gia thái phổ đăng lục

lên Hoàng đế Ninh tông nhà Tống.

GIA THẦN

…..

Thần linh thờ trong nhà để cầu cho gia

đình được yên vui.

Như tổ tiên thờ trong nhà được coi là

các vị thần che chở phù trì cho con cháu.

Trong bếp thì thờ Táo quân (vua bếp) để

cầu cho nhà cửa được bình an. Thời đại cổ

La mã bên Tây phương cũng có phong tục

này, như nghi thức thờ gia thần Lar hoặc

Lares.

GIA THI

…..

Phạm:Kàza.

Cũng gọi Gia tư, Ca xa, Ca thi.

Dịch ý là sáng bóng. Là tên một loại cỏ

thuốc.

Huyền ứng âm nghĩa quyển 3 nói: “Gia

thi, cũng gọi là Ca thi, Trung quốc dịch là

quang, nghĩa là sáng bóng”.

Cũng Huyền ứng âm nghĩa quyển 10 còn

nói Gia thi là một loại cỏ thuốc.

GIA THI

 

G

1913

Còn theo luật Ngũ phần quyển 25, thì

cỏ Ca thi có thể dùng làm tọa cụ (đồ trải để

ngồi).

Đại Đường tây vực kí quyển 1 thì nói, cỏ

Ca thi có thể dùng làm chổi để quét tước

nơi thờ Phật.

GIA THUYẾT

… ..

Nhờ sức gia bị của chư Phật mà thuyết

pháp.

Như kinh điển Bát nhã là giáo pháp Đại

thừa, nhưng đức Phật đã gia bị cho hàng đệ

tử Thanh văn là các ngài Tu bồ đề, Xá lợi

phất v.v… tuyên thuyết. Tông Thiên thai cho

rằng đây là phương tiện thiện xảo của đức

Phật để đưa hàng căn cơ Tiểu thừa vào pháp

môn Đại thừa.

Ma ha chỉ quán quyển 6 phần trên (Đại

46, 73 hạ), nói: “Trí Không của ngài Tu

bồ đề chưa viên mãn mà có thể ở trong

thạch thất thấy được pháp thân Phật, nên

trong Đại phẩm đức Phật đã gia bị cho

Ngài để nói về lí không, ngài Xá lợi phất

cũng được đức Phật gia bị để nói về Bát

nhã. Vì đức Phật muốn đem đại không

hòa vào tiểu không, đại trí hòa vào tiểu

trí nên gia bị cho hai Ngài nói pháp Đại

thừa”.

Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết

quyển 6 phần 2 giải thích rõ như sau (Đại

46, 335 trung): “Gia nghĩa là thêm vào chỗ

có thể thêm được, vì cái “Không” của ngài

Tu bồ đề và cái “Không” của Bát nhã giống

nhau và ứng hợp nhau, nên đức Phật gia bị

cho ngài Tu bồ đề thuyết “Không”; còn Bát

nhã là trí tuệ, nên đức Phật gia bị cho ngài

Xá lợi phất nói Bát nhã”.

GIA THƯỜNG

…..

Là những việc hàng ngày như bổ củi,

gánh nước, ăn cơm, mặc áo v.v… Đối với

người đã ngộ đạo thì tất cả công việc thường

nhật ấy đều là Phật pháp.

[X. Chính pháp nhãn tạng Q.95].

GIA THƯỢNG

…..

Vị danh tăng ở đời Đường, năm sinh năm

mất không rõ. Là một trong 4 vị đệ tử nổi

tiếng của ngài Huyền trang.

Sư bẩm tính thông minh, tài năng xuất

chúng. Sư học ngài Huyền trang ở chùa Từ

ân, lãnh hội yếu chỉ Du già, Duy thức. Khi

ngài Huyền trang dịch kinh Đại bát nhã, sư

giữ việc chứng nghĩa và trau chuốt lời văn.

Đến thời Vũ hậu Tắc thiên, sư vẫn tham gia

việc này trong dịch trường cùng với các ngài

Bạc trần, Linh biện v.v…

[X. Tống cao tăng truyện Q.4].

GIA TRÂN

…..

Của báu trong nhà mình.

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Trong Thiền lâm, từ ngữ này được

dùng để chỉ cho tính Phật sẵn có trong

mỗi người.

Bài tựa của tác giả Vô môn quan (Đại

48, 292 trung): “Các ông há không nghe nói:

Cái từ cửa mà vào chẳng phải là của báu

trong nhà mình, nó do duyên mà được, nên

trước sau gì cũng sẽ mất”.

GIA TRẤN

Giữ yên nhà cửa.

Là pháp tu cầu tiêu trừ tai ách trong Mật

giáo.

Tu pháp này thờ Bất động minh vương

làm Bản tôn, tụng thần chú để cầu nguyện.

Nếu pháp tu này được tổ chức ở triều đình

thì gọi là Quốc trấn hoặc An trấn quốc gia;

còn thực hành ở nhà thì gọi là Gia trấn

hoặc Trấn trạch. Trấn trạch là khi làm nhà

GIA TRẤN

 

G

1914

mới thì tu pháp này để cầu cho nhà cửa

được yên ổn.

(xt. An Trấn Pháp).

GIA TRÌ

Phạm:Adhiwỉhàna.Pàli:Adhiỉỉhàna.

Dịch âm: Địa sắt đà nẵng.

Cũng gọi Sở trì, Hộ niệm.

Nghĩa là chư Phật và Bồ tát dùng sức từ

bi che chở chúng sinh.

Mật giáo cho rằng đức Đại nhật Như lai

dùng đại bi đại trí tùy thuận chúng sinh để

giúp đỡ, gọi là “Gia”, còn chúng sinh thụ trì

tâm đại từ bi của Như lai thì gọi là “Trì”.

Sự giải thích này giống với nghĩa “Du già”

(Phạm: Yoga), tức là đức Đại nhật Như lai

và chúng sinh hợp nhất với nhau; tam mật

của Như lai và tam nghiệp của chúng sinh

ứng hợp với nhau, khiến chúng sinh cảm

nhận được tâm từ bi của Như lai, nhờ đó

có thể thành tựu mọi diệu quả. Đây gọi là

Tam mật gia trì.

Ngài Không hải của Nhật bản căn cứ vào

thuyết này mà lập ra thuyết “Tức thân thành

Phật” và chia Tam mật gia trì làm 2 loại:

1. Tự hành gia trì: Pháp tu trong đó

hành giả tự tay kết mật ấn, miệng niệm thần

chú, tâm an trụ trong Tam ma địa.

2. A xà lê gia trì: Pháp tu trong đó hành

giả được thấy A xà lê quán đính dùng tam

ma địa Phổ hiền dẫn Kim cương tát đỏa vào

trong thân hành giả.

Nhờ hai pháp gia trì này, hiện thân hành

giả có thể chứng bồ đề.

Đại nhật kinh yếu nghĩa sao quyển 1 nêu

ra bốn loại gia trì: Pháp pháp gia trì, Pháp

nhân gia trì, Nhân pháp gia trì và Nhân nhân

gia trì. Trong đó Pháp pháp, Nhân nhân là

gia trì đồng loại, còn Nhân pháp và Pháp

nhân là gia trì khác loại.

Ngoài ra, tác pháp cấm chú cũng gọi là

gia trì. Như Ngũ xứ gia trì, tức là hành giả

dùng ấn khế hoặc chày kim cương, chuông

kim cương gia trì ở 5 chỗ trên thân thể (trán,

hai vai, ngực, đỉnh đầu, và yết hầu) để cầu

tiêu trừ các tội nghiệp ở quá khứ và hiển

hiện 5 trí sẵn có. Còn có Gia trì cúng vật,

Gia trì niệm châu v.v… đều là pháp cấm chú

khiến các phẩm vật cúng dường và chuỗi

tràng được thanh tịnh.

Gia trì còn có nghĩa là cầu đảo nên

thường gọi là Gia trì kì đảo. Như Hoàng

ngưu gia trì (Ngưu vương gia trì) cầu cho

việc sinh nở được bình an. Thổ sa gia trì để

trừ bệnh hoặc diệt tội cho người chết; Đao

gia trì để trừ diệt ác ma v.v… Đó là những

pháp gia trì chuyên cầu lợi ích hiện tại.

[X. Đại nhật kinh sớ Q.1, Q.15; Đại nhật

kinh nghĩa thích Q.11].

GIA TRÌ ẨM THỰC ẤN

Ấn khế gia trì vào các thức ăn uống để

bố thí cho loài quỉ đói.

Cứ theo Thí chư ngã quỉ ẩm thực cập

thủy nghi quĩ do ngài Bất không dịch, thì

dùng ấn gia trì này và tụng bảy biến thần

chú “Vô lượng uy đức tự tại quang minh gia

trì ẩm thực” có thể khiến tất cả quỉ đói đều

ăn uống được no đủ, ăn xong liền sinh lên

cõi trời hoặc sinh về Tịnh độ, còn hành giả

thì cũng có thể tiêu trừ nghiệp chướng, tăng

thêm tuổi thọ, được vô lượng phúc đức trong

đời hiện tại và đời vị lai.

Cách kết ấn này là: Trước hết, lấy ngón

cái của tay phải xoa lên móng tay của ngón

giữa hai ba lần, ba ngón còn lại dựng đứng;

kế đến, lấy ngón cái bấm vào đầu ngón trỏ,

khảy cho ra tiếng, mỗi khi tụng xong một

biến chú thì khảy một cái.

Chân ngôn là: Nẵng mạc (nama#, qui

mệnh) tát phạ đát tha nghiệt rô cát đế (sarva

tathàgatàvalokite, quán tất cả các đức Như

lai) Án (oô, cúng dường) tam bà la tam bà

la (sambhara sambhara, người giúp đỡ

GIA TRÌ ẨM THỰC ẤN

 

G

1915

người bố thí) hồng (hùô, chủng tử).

GIA TRÌ ẤN MINH

I. Gia Trì Ấn Minh.

Trước khi tu pháp, hành giả Mật giáo

dùng ấn khế và minh chú để gia trì những

phẩm vật cúng dường khiến được thanh tịnh

và tội nghiệp quá khứ của hành giả được

tiêu trừ.

Đại nhật kinh sớ quyển 15 (Đại 39, 734

hạ), nói: “Đầu ngón tay cái bấm vào đầu

ngón áp út, ba ngón còn lại duỗi thẳng, dùng

ấn này gia trì vào tất cả các đồ cúng dường

trong đàn tràng thì đều được thành tựu”.

Bởi vì có khi vật cúng bị ô uế, nếu không

dùng ấn minh gia trì như thế thì sự cúng

dường không được tinh khiết, chẳng những

ba nghiệp của hành giả không thanh tịnh

mà còn dễ bị ma chướng phá hoại, không

thể thành tựu tất địa. Cho nên, ấn minh gia

trì thông thường phần nhiều được dùng để

gia trì các vật cúng dường, cũng có thể kết

Tiểu ấn ba chĩa, tụng Tiểu chú Quân đồ lợi

minh vương “Án (oô) a mật lí đế (amfte)

hồng (hùô) phát tra (phaỉ).

[X. A sa phược sao Q.37; Mật giáo áo

nghĩa Q.hạ].

II. Gia Trì Ấn Minh.

Hành giả Mật giáo kết ấn tụng minh gia

trì vào 4 chỗ: Ngực, trán, yết hầu, đỉnh đầu

để tránh khỏi chướng nạn, thành tựu Du

già, gọi là Gia trì ấn minh. Khi gia trì, ở mỗi

chỗ đều phải kết ấn tụng minh một lần.

Cứ theo kinh Thiên thủ thiên nhãn

nghi quĩ quyển thượng, do ngài Bất không

dịch thì tướng ấn là: Hai tay khóa vào

nhau, hai ngón trỏ hơi co lại, dáng như

cánh sen, hai ngón cái duỗi thẳng đứng.

Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) phạ

nhật ra đạt ma (vajra-dharma, pháp kim

cương) địa sắt sá (adhiwỉha, gia trì) sa phạ

hàm (svamàô, ngã).

[X. Du già liên hoa bộ niệm tụng pháp;

Quán tự tại vương Như lai tu hành pháp].

GIA TRÌ CÚ

Chân ngôn (chú, minh) có công năng làm

cho chính pháp tồn tại lâu dài, được dùng

sau pháp cúng dường của Thai tạng giới hoặc

tụng sau khi giải giới.

Cứ theo phẩm Chúc lụy trong kinh Đại

nhật thì bài chân ngôn ấy là: Nam mô tam

mạn đa bột đà nẫm (Nama# samanta

buddhànàm, qui mệnh khắp hết chư Phật)

tát bà tha (sarvatha, tất cả) thắng thắng

đát lăng đát lăng ngung ngung (ziôziô

traô traô guô guô) đạt lân đạt lân

(dharma dharma, trì trì) sa tha bả dã sa

tha bả dã (sthàpaya sthàpaya, trụ trụ),

bột đà tát để dã phạ (buddhha satya và,

sức chân thực của Phật) đạt ma tát để dã phạ

(dharma satya và, sức chân thực của pháp)

tăng già tát để dã phạ (saôgha satya và,

sức chân thực của tăng) hồng hồng (hùô

hùô, chủng tử), phệ na vĩ phệ (vedavide,

sáng sáng) sa ha (svàhà, thành tựu).

Nội dung bài chú này là lời thệ của đức

Thế tôn. Ngài nói: “Nếu ba ngôi báu Phật,

Pháp, Tăng là chân thực thì pháp của ta sẽ

tồn tại lâu dài”.

Khi tụng chú này, hành giả phải kết ấn

“Kim cương hợp chưởng” gia trì ở ngực, trán,

yết hầu, đỉnh đầu và hai vai của mình.

GIA TRÌ CÚNG VẬT

Gia trì vào những phẩm vật cúng dường.

Khi tu pháp, hành giả Mật giáo dùng ấn

chú của các bộ Biện sự minh vương gia trì

vào những phẩm vật cúng dường để ngăn

ngừa Dạ xoa, La sát, Tì na dạ ca v.v… ăn

vụng làm nhớp nhúa vật cúng.

Vì Biện sự minh vương có 3 bộ, 5 bộ

khác nhau nên ấn và minh của mỗi bộ được

GIA TRÌ CÚNG VẬT

 

G

1916

ghi chép trong các kinh và nghi quĩ không

giống nhau. Nhưng thông thường, những

ấn minh quan trọng được dùng gồm có:

1. Tiểu tam cổ ấn, Kim cương quân đồ

lợi tiểu chú trong kinh Tô bà hô quyển

thượng và Tô tất địa cúng dường pháp quyển

thượng.

2. Tiểu tam cổ ấn, Cam lộ quân đồ lợi

tiểu chú trong kinh Đà la ni tập quyển 3.

Khi gia trì những phẩm vật cúng dường

thì có hai cách nghịch và thuận; trước hết

gia trì nghịch để tiêu trừ ma chướng, sau đó,

gia trì thuận để kết giới thành tựu Tất địa.

GIA TRÌ HƯƠNG THỦY

Cũng gọi Sái tịnh, Sái thủy.

Phép rưới nước thơm khi tu pháp Mật giáo.

Hương biểu thị Lí, Thủy biểu thị Trí,

hương thủy hòa hợp nên thành tựu Lí và

Trí bình đẳng.

Khi tu pháp này, hành giả kết ấn và tụng

chú 21 lần để gia trì nước thơm, đồng thời,

dùng tán trượng hoặc nhành liễu hay ngón

tay viết hai chữ (raô) và (vaô) 21 lần

vào nước thơm theo chiều thuận và nghịch.

Sau đó, rưới nước ấy lên mình, vật cúng và

các nơi trong, ngoài đàn tràng thì hành giả

trừ diệt hết vọng chấp, các vật cúng được

thanh tịnh, mau chóng thành tựu Tất địa.

Nhưng ấn và chân ngôn được dùng tùy theo

pháp tu chứ không nhất định.

[X. Tô tất địa yết la cúng dường pháp

Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.9; A sa phược

sao Q.37].

GIA TRÌ NIÊM CHÂU

Gia trì vào tràng hạt.

Phép gia trì tràng hạt của hành giả tu

pháp Mật giáo trước khi chính thức tụng

niệm. Trước hết hành giả cầm chuỗi hạt,

đọc chân ngôn chữ Lãm, kế đến tụng chú

Tịnh châu khiến cho chuỗi hạt thanh tịnh.

Sau đó, đưa chuỗi hạt lên đầu 3 lần, tưởng

niệm 5 nguyện lớn, rồi đọc chân ngôn và

xoay vòng tràng hạt 3 lần (xoay vòng tượng

trưng quay bánh xe pháp).

Để thành tựu thân Bản tôn, khi gia trì vị

Bản tôn, hành giả dùng tướng quay bánh xe

pháp để biểu thị nghĩa thuyết pháp độ sinh

(tức là chính niệm tụng).

(xt. Niệm Tụng).

GIA TRÌ NIÊM TỤNG

Cũng gọi Chính niệm tụng. Gọi tắt:

Niệm tụng.

Khi tu pháp Mật giáo, tâm của hành giả

an trụ trong định để quán tưởng và tụng

niệm chân ngôn của Bản tôn. Đây là Tam

ma địa niệm tụng trong 5 loại niệm tụng

của Mật giáo.

[X. Thai tạng giới đại pháp đối thụ kí

Q.6]. (xt. Niệm Tụng).

GIA TRÌ THÀNH PHẬT

Cũng gọi Gia trì tức thân thành Phật.

Nhờ công phu tu hành và sức gia trì của

chư Phật mà hiện tướng thành Phật. Là một

trong ba loại Tức thân thành Phật do Mật

giáo chủ trương.

Ba nghiệp của chúng sinh nhờ tam mật

của Phật cảm ứng gia trì nên chỉ trong một

niệm biết rõ thực tướng các pháp và hiển

bày được bản thể giác ngộ sẵn có của chúng

sinh mà thành Phật.

[X. Đại nhật kinh sớ Q.14; Đại tì lô giá

na kinh trụ tâm sao Q.4; Đại nhật kinh yếu

nghĩa sao Q.1].

GIA TRÌ THÂN

Thân gia trì do Phật và Bồ tát vì lòng

đại bi muốn làm lợi ích cho chúng sinh mà

GIA TRÌ THÂN

 

G

1917

hóa hiện ra.

Hành giả Mật giáo tu hạnh tam mật:

Thân, khẩu, ý mầu nhiệm, ngay khi đạt đến

chỗ tam mật ứng hợp với nhau thì ở trong

Du già quán hiện ra thân Phật.

Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 1, hành

giả lấy tam mật thân, khẩu, ý bình đẳng gia

trì làm cửa phương tiện để đi vào. Tức là:

– Thân: Mật ấn bình đẳng.

– Khẩu: Lời chân ngôn bình đẳng.

– Ý: Tâm quán diệu bình đẳng.

Bằng cửa phương tiện này, hành giả thấy

được thân gia trì thụ dụng, là thân Biến nhất

thiết của Phật Tì lô giá na. Thân này chính

là thân Bình đẳng trí của hành giả. Cho nên

bậc trụ ở thừa (cỗ xe) này không đi mà đi,

không đến mà đến. Trong đó thân Bình đẳng

trí của hành giả, từ hạnh tam mật mầu nhiệm

ở trong tâm mình sinh khởi cảm ứng, gọi là

Trí pháp thân, tức là Gia trì thân. Vì thân

gia trì là thân và bóng được chia ra từ Tự

tính pháp thân, nên là thân hiện ra từ tâm

bồ đề thanh tịnh của hành giả.

Về vấn đề này, giữa phái Cổ nghĩa và

Tân nghĩa ở Nhật bản có những ý kiến khác

nhau.

[X. Đại nhật kinh sớ sao Q.1; Đại tì lô giá

na kinh trụ tâm sao Q.1]. (xt. Bản Địa Thân).

GIA TRÌ THẾ GIỚI

Cũng gọi Hải hội hiện tiền, Tùy tha pháp

giới cung, Đoan tướng độ, Trần đạo thế giới.

Là thế giới do đức Đại nhật Như lai của

Mật giáo hóa hiện ra để cứu độ chúng sinh.

Đây là thế giới sinh tồn của phàm phu

sinh tử, cũng tức là thế giới cảm ứng đạo

giao của Phật và chúng sinh. Đứng về phương

diện Tự tính pháp thân mà nói thì chúng

sinh vốn giác ngộ, nhưng vì chúng sinh tự

mê, cho rằng mình và Phật khác nhau, nên

đức Phật mới từ Tự tính pháp thân biến

hiện ra thân gia trì Tha thụ dụng để giáo

hóa làm lợi ích cho chúng sinh. Bởi thế Mật

tông mới cho rằng, Gia trì thế giới là do đức

Đại nhật Như lai vì muốn cứu độ chúng

sinh mà biến hiện ra. Nói cách khác, ngoài

Phật giới, không có chúng sinh giới.

[X. Đại nhật kinh sớ Q.1, Q.6, Q.20;

Tông nghĩa quyết trạch tập Q.9]. (xt. Gia

Trì Thân, Bản Địa Thân).

GIA TRÌ THUYẾT

Học thuyết có liên quan đến vị giáo chủ

của kinh Đại nhật do phái Tân nghĩa thuộc

tông Chân ngôn Nhật bản lập ra.

Phái này chia học thuyết của mình làm:

Tự chứng cực vị, Gia trì môn và Gia trì thế

giới. Họ chủ trương rằng, Cực vị không

thuyết pháp, cho nên kinh Đại nhật chỉ được

nói ra ở Gia trì môn mà thôi.

Kinh nghiệm tự chứng vốn là cảnh giới

dứt bặt nói năng, không thể dùng ngôn ngữ

để truyền đạt. Nếu Đại nhật Như lai trụ ở

cảnh giới này thì chúng sinh không được

phần lợi ích, cho nên Ngài hiện thân gia trì,

đối trước quyến thuộc của Ngài trong Tứ

trùng viên đàn mà nói kinh Đại nhật cho

chúng sinh đời vị lai.

Thuyết này do Lại du thuộc phái Tân

nghĩa ở viện Căn lai trung tính đề xướng và

do Thánh hiến tập đại thành.

GIA TRÌ TRÁT

Tờ giấy có vẽ bùa hoặc viết chân ngôn

(lời chú) dùng khi gia trì thì tụng chân ngôn

để gia trì trên đó.

GIA TRÌ TRƯỢNG

Cái roi dài khoảng hơn 30 phân tây làm

bằng cây thạch lựu hoặc cành cây đào, đã

được gia trì thần chú vào đó, dùng để đánh

vào vai người bị quỉ ám hoặc vào chỗ đau

GIA TRÌ TRƯỢNG

 

G

1918

của người bị bệnh để đuổi tà và trừ bệnh.

Dùng cành cây đào là bắt nguồn từ thuyết

của Đạo giáo, vì thuyết này cho rằng ma quỉ

rất sợ cây đào. Còn dùng cây lựu thì căn cứ

vào kinh Chỉ phong của Mật giáo.

[X. Ma ha chỉ quán Q.8; Sự vật kỉ nguyên

Q.8].

GIA TRÌ TỰ THÂN PHÁP

Pháp tu gia trì tự thân của hành giả Mật

giáo quán tưởng thân mình biến thành thân

đức Bản tôn.

Đại nhật kinh sớ diễn áo sao quyển 12

(Đại 59, 128 trung), nói: “Quán tưởng trong

tâm có chữ Phạ. Chữ Phạ biến thành chày

kim cương năm chĩa, chày biến thành Kim

cương tát đỏa, rồi quán tưởng thân mình

tức là Chấp kim cương. Quán tưởng như

thế xong, hành giả kết ấn Tát đỏa và tụng

thần chú, đó là pháp gia trì tự thân.

Pháp tu trên đây lấy Kim cương tát đỏa

làm Bản tôn và hành giả gia trì tự thân quán

tưởng thân mình biến thành Kim cương tát

đỏa. Về các loại pháp tu khác cũng đều có

Bản tôn riêng, nhưng pháp gia trì tự thân

thì cứ theo đây mà hành trì.

GIA TRÌ VẬT

Cũng gọi “Tương ứng vật”.

Những vật phẩm cúng dường tương ứng

với vị Bản tôn hoặc Phật và Bồ tát trong

pháp tu của Mật giáo.

Khi hành giả tu pháp Hộ ma, y theo pháp

tu, chọn ra những vật phẩm cúng dường

tương ứng với vị Bản tôn, đặt vào giữa lò hộ

ma để cúng dường Ngài và quán tưởng vật

cúng ấy hòa nhập với đức Bản tôn. Pháp

quán này quan trọng nhất trong các pháp

tu Hộ ma.

Tùy theo các pháp tu mà những vật dùng

để gia trì có khác nhau. Như tu pháp Tiêu

tai thì dùng vừng (mè) trắng, tu pháp Tăng

ích thì dùng gạo tám (nàng hương) nhuộm

mầu vàng, tu pháp Điều phục thì dùng hạt

cải, tu pháp Kính ái dùng mũi tên làm bằng

hoa, gạo tám nhuộm đỏ, tu pháp Diên mệnh

thì dùng cỏ khuất lũ (cỏ sống lâu).

Các vật gia trì trên đây được dùng theo

nghĩa đối sự thành lí, như hạt vừng có chứa

tinh dầu, có cái nhân của sự sáng sủa, cho

nên nhờ sức gia trì mà trở thành vầng trăng

tròn sáng chiếu khắp mười phương, phá tan

bóng tối hoặc nghiệp. Vả lại, mùi vị hạt mè

ngon bùi không độc, cho nên tương ứng với

pháp Tiêu tai. Còn gạo tám tượng trưng cho

ngọc báu như ý, mũi tên hoa biểu thị hoa

sen hồng, hạt cải biểu thị chày một chĩa.

[X. Nhũ vị sao Q.7; Hộ ma thứ đệ (Không

hải)].

GIA TƯỜNG TỰ

……..

Chùa ở quận Cối kê tỉnh Chiết giang,

Trung quốc.

Khoảng năm Thái nguyên (376-396) đời

Hiếu vũ đế nhà Đông Tấn, Quận thú Lang

da là Vương hội (Oái) xây dựng chùa này và

thỉnh ngài Trúc đạo nhất trụ trì. Ngài thông

suốt cả nội điển và ngoại điển, lại giữ gìn

luật tinh nghiêm, nên tăng ni khắp nơi về

theo học rất đông, người đương thời gọi ngài

là “Cửu châu Đô duy na”.

Vào đời Lương, ngài Tuệ kiểu từng trụ ở

chùa này để hoằng pháp và soạn thuật. Đến

đời Tùy, ngài Cát tạng cũng từng giảng kinh

ở chùa này suốt tám năm, thính giả thường

tới hơn nghìn người, vì thế, chùa trở nên

nổi tiếng trong nước và người đời tôn xưng

ngài là đại sư Gia tường. Đệ tử ngài Cát tạng

là ngài Trí khải cũng đến đây giảng Tam

luận, thính chúng hơn 800 người.

[X. Lương cao tăng truyện Q.5, Q.14; Tục

cao tăng truyện Q.6, Q.11, Q.14; Phật tổ

thống kỉ Q.10].

GIA TƯỜNG TỰ

 

G

1919

GIA UY LỰC

……..

Cũng gọi Gia bị lực, Gia hựu lực, Gia lực.

Sức uy thần của chư Phật gia bị cho chúng

sinh.

Vô lượng thọ Như lai hội quyển hạ (Đại

11, 101 thượng), nói: “Nhờ sức uy thần của

đức Như lai gia bị nên mới được pháp môn

rộng lớn như thế”.

Lại cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 6 phần

trên nói, thì ngài Tu bồ đề từng ở trong thạch

thất thấy pháp thân của Phật nên trong “Đại

phẩm” Ngài được sức uy thần của đức Như

lai gia bị mà nói đại pháp Bát nhã.

[X. luận Đại trí độ Q.41; Chỉ quán phụ

hành truyền hoằng quyết Q.6 phần 2; Quán

kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí Q.1].

GIÀ

I. Già.

Cũng gọi Hước, Kính, Nga, Kiệt, Cáp.

Chữ Tất đàm (gha). Một trong 42

hoặc 50 chữ cái, là chữ thứ 4 thuộc về tiếng

răng (nha thanh) trong 35 phụ âm của tiếng

Phạm. Chữ này khác với chữ (ga), xưa

nay gọi nó là “Chữ già hợp nhất” hoặc “Chữ

già hợp tướng”.

Phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù và

phẩm Thị thư trong kinh Đại trang nghiêm

v.v… đều dùng chữ Phạm Ghana(dịch âm:

Già na, nghĩa là dày đặc, kín mít) để giải

thích chữ Già là “Tiếng phá tan tất cả bóng

tối vô minh dày đặc” (Phạm:Ghaịa paỉalavidyà-

moha-andhakàra-vidhàmana).

Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già

kim cương đính và phẩm Cụ duyên trong

kinh Đại nhật quyển 2 thì dùng chữ Phạm

Ghana hoặc Ghaỉana (dịch là hợp) để

giải thích chữ Già là “Tất cả pháp hợp nhất

chẳng thể được”, “Tất cả pháp hợp nhất

tướng chẳng thể được”. Hợp nhất ở đây

nghĩa là thầm hợp.

Kinh Đại bát niết bàn quyển 8 (bản Bắc)

thì dùng tiếng Phạm Ghowa(nghĩa là âm

thanh) để giải thích chữ Già là âm thanh

thường trụ của Như lai”.

[X. phẩm Bách tự thành tựu trì tụng

trong kinh Đại nhật Q.6; kinh Thủ hộ quốc

giới chủ đà la ni Q.3; Tứ thập nhị quán

môn trong phẩm Nhập pháp giới của kinh

Hoa nghiêm; Đại nhật kinh sớ Q.7; Tất

đàm tự kí].

II. Già.

Chữ Tất đàm (ga).

Cũng gọi Nga, Cát, Hước, Nga, Ngã. Một

trong 42 hoặc 50 chữ cái của tiếng Phạm.

(xt. Nga).

GIÀ

..

Chữ Tất đàm (zca).

Cũng gọi Ta, Tả, Giả, Chước, Y đà,

Thị xỉ, Thất giả, Thất tả. Một trong 42

chữ cái tiếng Phạm. Nghĩa là bất động,

không dời đổi.

Luận Đại trí độ quyển 48 (Đại 25, 408

trung), nói: “Nếu nghe chữ Già thì liền biết

tất cả các hành (dời đổi) đều là phi hành

(chẳng di động)”.

Cũng luận trên quyển 48 (Đại 25, 409

thượng), nói: “Nếu nghe chữ Già thì liền

biết được tướng bất động của tất cả các pháp”.

Kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni quyển

3 (Đại 19, 535 thượng), nói: “Chữ Thất giả

là ấn giả, vì hiện tiền giác ngộ được việc chưa

từng có. “Chưa từng có” chữ Phạm là

àzcarya, trong đó có bao hàm chữzca(già).

Còn kinh Quang tán bát nhã quyển 7

cho rằng, chữ Già nghĩa là xả bỏ tất cả pháp

vô sở đắc; kinh Phóng quang bát nhã quyển

4 thì cho là nghĩa chia bỏ; kinh Đại bát nhã

quyển 53 thì cho là nghĩa tích tụ dấu chân.

[X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.5; phẩm

Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm].

GIÀ

 

G

1920

GIÀ ÁC

…..

Đối lại với “Tính ác”.

Ngăn ngừa không phạm lỗi lầm, chỉ cho

tội nhẹ.

Chẳng hạn như uống rượu, đào đất làm

hại côn trùng v.v… nói chung, xã hội không

cho đó là việc tội ác, nhưng để phòng ngừa

sự chê cười của người đời và dẫn đến phạm

các tội khác, nên đức Phật đã ngăn cấm, gọi

là Già ác.

Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển

4 phần 4 (Đại 40, 344 thượng), nói: “Già ác,

nghĩa là việc không phải cực ác, nhưng vì

phòng ngừa sự chê cười mà chế định”.

[X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí

Q.thượng phần 3]. (xt. Già Giới, Già Tội).

GIÀ CHIẾU

Phá trừ tất cả sự vật, trở về chân không,

gọi là Già, dùng trí tuệ soi rọi thấy suốt bản

tính của sự vật, gọi là Chiếu.

Tông Thiên thai cho rằng Già chiếu đồng

thời là tức không, tức giả, tức trung. Già là

quán không, tức quán xét tất cả sự vật đều

không; Chiếu là quán giả, tức quán xét tính

chất của tất cả sự vật là có giả để liễu ngộ lí

trung đạo.

Tông kính lục quyển 8 (Đại 48, 459

thượng), ghi: “Nói có mà chẳng phải có,

nói không mà chẳng phải không, hoặc đều

mất mà đều lưu chuyển, hoặc đều soi rọi

mà đều vắng lặng, phá lập cùng lúc, già

chiếu đồng thời”.

GIÀ DA

Phạm:Gayà. Dịch ý: Tượng.

Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 2 (Đại

54, 1088 trung), nói: “Già da, hoặc Na già,

hoặc Na tiên, Hán dịch là tượng (con voi)”.

GIÀ DA CA DIẾP

Phạm:Gayà kàzyapa.

I. Già da ca diếp:

Cũng gọi Nga da ca diếp, Ca di ca diếp,

Kiệt di ca diếp.

Đệ tử của đức Phật, là em của hai người

Ưu lâu tần loa ca diếp và Na đề ca diếp,

sống ở ngoại ô thành Già da, nước Ma yết

đà, Trung Ấn độ.

Ngài vốn là ngoại đạo thờ lửa, có 250

người đệ tử, về sau đều qui y và xuất gia làm

đệ tử đức Phật.

[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.15; kinh

Phật bản hạnh tập Q.40; kinh Chúng hứa

ma ha đế Q.10; kinh Thái tử thụy ứng bản

khởi Q.hạ; Phật sở hành tán Q.4; Hữu bộ tì

nại da Q.27].

II. Già Da Ca Diếp:

Vị tôn được thờ ở bên phải của viện Tam

giác trí thuộc viện Biến tri trên mạn đồ la

Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu Li trần

Kim cương, chủng tử là (ha), hình tam

muội da là ấn

Phạm khiếp.

Hình tượng

vị tôn này là

hình tỉ khưu,

thân mầu da

người, ngồi

trên tọa cụ, tay

phải hướng ra

ngoài, tay trái

cầm chéo áo

ca sa.

GIÀ DA SƠN

Phạm:Gayà.

Cũng gọi Già chủng sơn, Nga da sơn,

Yết xà thi lợi sa sơn.

Dịch ý: Tượng đầu sơn (núi Đầu voi).

GIÀ DA SƠN

Già Da Ca Diếp

(Mạn Đồ La Thai Tạng Giới)

 

G

1921

Có hai núi khác nhau:

1. Núi ở gần Bồ đề đạo tràng.

Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 8,

thì núi Già da ở về phía tây nam thành Già

da, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, tức là Bà

la môn ưu ni (Phạm: Brahma-yoni) hiện

nay. Thời xưa, người Ấn độ thường gọi núi

này là Linh sơn, trên đỉnh núi có ngôi tháp

đá do vua A dục xây dựng.

2. Núi ở phía bắc Linh sơn.

Cứ theo Câu xá luận quang kí quyển 18,

thì cách núi Linh sơn khoảng ba, bốn dặm

về mạn bắc, có núi Yết xà thi lợi sa, là nơi

Đề bà đạt đa phá tăng. Vì âm “Yết xà” và

“Già da” đọc gần giống nhau, nên mới có

người lầm lẫn cho núi Già da là nơi Đề bà

đạt đa phá tăng.

[X. kinh Chúng hứa ma ha đế Q.10; kinh

Văn thù sư lợi vấn bồ đề; kinh Phật bản

hạnh tập Q.44; luật Tứ phần Q.31].

GIÀ DA SƠN ĐÍNH KINH

Có 1 quyển, gồm 4 bản dịch, đều được

đưa vào Đại chính tạng tập 14.

1. Kinh Văn thù sư lợi vấn bồ đề, do

ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần.

2. Kinh Già da sơn đính, do ngài Bồ đề

lưu chi dịch vào đời Nguyên Ngụy.

3. Kinh Phật thuyết tượng đầu tinh xá,

do ngài Tì ni đa lưu chi dịch vào đời Tùy.

4. Kinh Đại thừa già da sơn đính, do

ngài Bồ đề lưu chí dịch vào đời Đường.

Nội dung tường thuật việc khi đức Phật

mới thành đạo ở Già da sơn, nhân lời thỉnh

cầu của bồ tát Văn thù và các vị Thiên tử,

đức Phật nói về nghĩa sâu xa của việc phát

tâm bồ đề và chỉ dạy đạo Bồ tát.

GIÀ DA THÀNH

Phạm:Gayà.

Thủ đô của nước Ma yết đà thuộc Trung

Ấn độ thời cổ. Tức nay là thành phố Già

da, gần sông Ni liên thiền (nay là sông Phalga)

một chi nhánh của sông Hằng, cách thành

phố Patna 96km về mạn tây nam. Khi ngài

Pháp hiển đời Đông Tấn đến đây thì trong

thành đã vắng vẻ. Còn ngài Huyền trang

đời Đường thì nói có hơn 1.000 hộ gia đình

Bà la môn.

Hiện nay thành phố Già da được chia

làm 2:

1. Già da cũ, gọi là Bà la môn già da

(Phạm: Brahma Gayà) để phân biệt với

Phật đà già da (Phạm:Buddha Gayà). Đây

là nơi cư trú của tín đồ Ấn độ giáo.

2. Thành phố mới, gọi là Sahibganj, có

cơ quan hành chính và những kiến trúc công

cộng do chính phủ Anh xây cất, là nơi có

nihều người Âu châu cư trú.

Ở vùng phụ cận Già da có các di tích

như: Nơi ở của ba anh em Ca diếp thờ lửa,

núi Tiền chính giác, cây Bồ đề, tòa Kim

cương v.v… Ngoài ra, còn có các động đá và

những bài minh khắc vào thời vua A dục.

[X. kinh Tiểu phẩm châm mao; A.

Cunningham: The Ancient Geography of

India; Đại đường tây vực kí Q.8].

GIÀ DA THỦY THÀNH

Cũng gọi Già da cận thành.

Thực ra đức Phật Thích ca đã thành Phật

GIÀ DA THỦY THÀNH

Toàn cảnh núi Già Da

 

G

1922

từ vô số kiếp ở quá khứ rồi, nhưng vì Ngài

muốn giáo hóa chúng sinh nên phương tiện

thị hiện giác ngộ thành Phật dưới cây Bồ đề

ở thành Già da tại Ấn độ, gọi là Già da thủy

thành (mới thành Phật ở Già da).

(xt. Cửu Viễn Thực Thành, Bản Tích

Nhị Môn).

GIÀ DA XÁ ĐA (?-13 TRƯỚC TÂY LỊCH)

Cũng gọi Tăng khư da xá.

Tổ thứ 18 của Thiền tông (theo Cảnh

đức truyền đăng lục quyển 2) hoặc tổ thứ 17

(theo Phật tổ thống kỉ quyển 5), người nước

Ma đề thuộc Ấn độ, họ Uất đầu lam.

Truyền thuyết kể rằng, thân mẫu ngài

nằm mộng thấy một vị thần cao lớn cầm

tấm gương tròn, nhân đó mà có thai, bảy

ngày sau sinh ra ngài. Vừa sinh ra thân thể

của ngài sáng rực, mùi thơm tỏa ra tinh

khiết. Ngay từ nhỏ, ngài đã thích sự vắng

lặng, lời nói cử chỉ khác hẳn với những

đứa trẻ khác.

Một hôm, ngài cầm tấm gương tròn đi

chơi, gặp được tổ thứ 17 là Tôn giả Nan đề

độ cho xuất gia và thụ giới Cụ túc.

Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển

2 chép, thì một ngày nọ, nhân gió thổi nghe

tiếng chuông đồng nhỏ trên góc mái chùa

kêu, Tôn giả Nan đề hỏi (Đại 51, 212 trung):

“Chuông kêu hay gió kêu?”. Ngài đáp:

“Chẳng phải gió,

chẳng phải

chuông, mà là

tâm ta kêu”. Tôn

giả lại hỏi: “Vậy

tâm là ai?”. Ngài

trả lời: “Đều vắng

lặng”, ngài liền

được Tôn giả trao

Đại pháp cho. Về

sau, ngài hoằng

dương Thiền tông

ở nước Đại nguyệt thị.

Năm Vĩnh thủy thứ 4 (13 trước Tây lịch)

đời Thánh đế nhà Tây Hán ngài tịch. Đệ tử

nối pháp là ngài Cưu ma la đa, tổ thứ 19

của Thiền tông.

[X. Bảo lâm truyện Q.4; Tăng đính Phật

tổ đạo ảnh Q.1 (Hư vân)].

GIÀ ĐÀ

I. Già Đà.

Phạm,Pàli:Gàthà.

Cũng gọi Già tha, Kệ đà, Kệ.

Dịch ý: Phúng tụng, Tạo tụng, Kệ tụng,

Tụng, Cô khởi tụng, Bất trùng tụng kệ.

Già đà từ ngữ căn Gaimà ra.Gai hàm

có nghĩa là câu vè, cho nên, theo nghĩa rộng

là những câu ca dao, Thánh ca; còn theo

nghĩa hẹp thì chỉ cho những câu văn vần ở

sau một đoạn kinh văn hoặc sau phần giáo

thuyết, mà nội dung không nhất định phải

có quan hệ với đoạn văn trước hoặc sau.

Một trong 9 hoặc 12 thể tài của kinh.

Sự khác biệt giữa Già đà và Kì dạ(trùng

tụng) là ở chỗ tuy Kì dạ cũng là văn vần,

nhưng là nhắc lại nội dung của đoạn văn

xuôi ở trước, còn Già đà thì không, cho

nên mới có tên khác là Bất trùng tụng kệ

(kệ không nhắc lại), Cô khởitụng(Kệ khởi

một mình).

Về số câu của Già đà thì không nhất

định, hoặc là 2 câu, hoặc 3 câu, 4 câu, 5

câu, 6 câu khác nhau. Nhưng luận Đại tì

bà sa quyển 126 thì cho rằng, Già đà là

những câu văn vần nối kết nhau, ở trong

kinh để ngâm đọc những lời nói của mọi

người. Luận Đại trí độ quyển 33 cũng bảo

rằng tất cả các bài kệ đều gọi là Kì dạ, còn

số câu nhiều ít không nhất định thì gọi là

Già đà. Phần nhiều cho Già đà chỉ có nghĩa

ngâm vịnh, cho nên cùng nghĩa với Kì dạ.

Còn theo kinh Đại bát niết bàn quyển 15

(bản Bắc), thì Già đà là bài kệ 4 câu trong

GIÀ ĐÀ

Già Da Xá Đa

 

G

1923

các kinh điển ngoại trừ Tu đa la và giới luật.

Ngoài ra, theo bài tựa trong Trường bộ kinh

chú tiếngPàli (Sumaígala-vilàsinì), bài

tựa luật Thiện kiến (Pàli:Samantapàsàdikà),

Pháp cú (Pàli:Dhamma-pada),

Trưởng lão kệ (Pàli:Thera-gàthà), Trưởng

lão ni kệ (Pàli:Therì-gàthà), Kinh tập

(Pàli:Sutanipàta) v.v… phàm những bài

kệ không gọi là kệ của Tu đa la, thì gọi là

Già đà.

Sau hết, luận Thành thực quyển 1 cho

rằng, Kì dạ (Kệ) có hai loại là Già đà và Lộ

già. Lộ già lại chia ra hai thứ: Thuận phiền

não, Bất thuận phiền não, mà cho Già đà

trong 12 thể tài kinh là thuộc loại Bất thuận

phiền não.

[X. luận Hiển dương Thánh giáo Q.6,

Q.12; luận Thuận chính lí Q.44; luận Du

già sư địa Q.25, Q.81; luận Đại thứa a tì đạt

ma tập Q.6; Đại thừa nghĩa chương Q.1;

Huyền ứng âm nghĩa Q.24]. (xt. Thập Nhị

Bộ Kinh, Kệ).

II. Già Đà.

Gọi đủ: A già đà.

Phạm:Agada. Một loại thuốc hay.

Kinh Hoa nghiêm (60 quyển) quyển 10

(Đại 9, 465 thượng), nói: “Ví như thuốc Già

đà, tiêu trừ tất cả độc”.

GIÀ ĐÀ BỔNG

Già đà, Phạm:Gadà.

Dịch ý: Bổng (cây gậy).

Là cây gậy báu cầm tay của bồ tát Kim

cương quyền ở viện Kim cương bộ, của Diêm

mạn đức ca và các vị sứ giả phụng giáo của

chư Tôn trong năm viện lớn trên mạn đồ la

Thai tạng giới Mật giáo.

Ấn tướng của Già đà bổng là: Hai tay

chắp lại để rỗng ở giữa, 2 ngón út tréo vào

nhau ở trong lòng 2 bàn tay, 2 ngón cái đứng

thẳng, 2 ngón trỏ co lại đặt trên lưng của 2

ngón giữa, cách nhau độ 3 phân.

Cứ theo kinh Cù hê quyển trung, thì khế

ấn và hình tam muội da của Đa văn thiên

tức là Già đà bổng.

Ngoài ra, cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển

6, thì tám vị tướng Dạ xoa phương bắc cũng

đều trì ấn Già đà bổng.

GIÀ ĐOẠN

…. .

Đối lại với “Vĩnh đoạn” (dứt mãi mãi).

Tạm thời ngăn chặn không để cho phiền

não sinh khởi.

Luận Thành thực quyển 15 (Đại 32, 358

hạ), nói: “Đoạn tham có hai cách là Già đoạn

và Tất cánh đoạn. Nếu không phát sinh chân

trí thì là Già đoạn; nếu sinh chân trí thì là

Tất kính đoạn (đoạn vĩnh viễn).

GIÀ GIỚI

Đối lại với “Tính giới”.

Cũng gọi Tức thế cơ hiềm giới (giới ngăn

ngừa sự chê cười của người đời), Tân giới

(giới mới), Khách giới.

Đối với những tội nhẹ, đức Phật chế

giới cấm để đề phòng sự cười chê của người

đời và tránh phạm các tội khác, gọi là Già

giới. Chẳng hạn như uống rượu, mua đầy

bán vơi, đào đất làm thương tổn sự sống

của côn trùng v.v… Uống rượu tuy không

là tội, nhưng có thể là nguyên nhân đưa

đến việc vi phạm các tội khác, cho nên đức

Phật cấm chỉ. Nếu phạm Già giới thì gọi là

Già tội.

[X.phẩm Thụ giới trong kinh Ưu bà tắc

giới Q.3; phẩm Thánh hạnh trong kinh Niết

bàn Q.11 (bản Bắc); Tát bà đa tì ni tì bà sa

Q.1; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí

Q.thượng phần 1]. (xt. Tính Già Nhị Tội).

GIÀ KINH

Nghi thức tụng kinh trước quan tài người

GIÀ KINH

 

G

1924

chết. Tức sau khi tắm rửa tử thi bằng nước

nóng, khâm liệm xong, đặt vào quan tài, rồi

mới đọc tụng kinh văn.

Tuy nhiên, nghi thức này có được ứng

dụng hay không, thì còn tùy thuộc vào địa

vị cao thấp của người chết và phong tục của

mỗi nơi mà quyết định.

GIÀ LA

I. Già La.

Phạm:Tagara(phiên tắt là Già la).

Cũng gọi Đa già la, Già nam, Già lam,

Kì nam hương.

Dịch ý: Hương lô mộc (loại gỗ thơm).

Có thuyết nói Già la khác với trầm

hương, có thuyết

cho là chúng cùng

một loại. Nhưng

đem so sánh thì

Già la ướt và dính,

khi đốt chảy ra ít

nhựa, không dùng

làm thuốc được;

còn trầm hương

thì khô, khi đốt

chảy ra nhiều

nhựa và dùng làm

thuốc được.

[X. Kinh Đà la ni tập Q.10; Bản thảo

cương mục Q.1; Bản thảo vựng ngôn].

II. Già La.

Gọi tắt của tiếng PhạmKàlàguru.

Dịch ý: Hắc trầm hương mộc (cây trầm

hương đen).

Loại hương được điều chế từ nhụy hoa

của loại cây có mùi thơm.

(xt. Trầm Hương).

III. Già La.

Phạm:Kalà.

Tên gọi số lượng cực nhỏ.

(xt. Ca La Phần).

GIÀ LA ĐÀ

I. Già La Đà:

Dịch ý: Độ biên địa.

Giai vị tu hành của Bồ tát ở trước giai vị

“Tu đà hoàn” và ở sau giai vị “Vô tướng xà

đà ba la” được nói trong kinh Nhân vương

quyển hạ do ngài Cưu ma la thập dịch.

Bồ tát tu hành đã đạt được minh tuệ

viên dung, thường ở trong vô tướng pháp

nhẫn, khéo quán xét ba minh là: Túc mệnh

minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh,

biết rõ ba đời đều là pháp không đến, không

đi, không dừng, trong tâm an định vắng lặng,

xa lìa phiền não trong ba cõi, lại tích tập vô

lượng tuệ ba la mật trong sáu A tăng kì kiếp,

nên được chứng nhập giai vị Già la đà, đồng

thời, dùng muôn hạnh không chấp trước để

thụ trì tất cả pháp.

[X. Nhân vương bát nhã kinh sớ Q.5].

II. Già La Đà.

Phạm:Kharàdìya.

Là núi Khư la đề da.

Một trong 10 núi báu, một trong 7 núi

vàng.

Đức Phật từng nói kinh Địa tạng thập

luân ở núi này, vì thế nó đã trở thành nơi

cư trú của bồ tát Địa tạng.

(xt. Khư La Đế Da Sơn).

GIÀ LA PHẢ QUỐC

Già la phả,Pàli:Allakappa.

Một nước nhỏ giáp ranh nước Ma yết đà.

Dân cư của nước này là chủng tộc Bố

lợi (Buli), sau khi đức Phật nhập diệt, họ

có xin được phần xá lợi của Ngài về xây

tháp cúng dường.

[X. kinh Đại bát niết bàn trong Trường

bộ kinh 16; kinh Phật chủng tính; Hữu bộ

tạp sự Q.39; kinh Ban nê hoàn Q.hạ; luật

Thập tụng Q.60].

Già La (cây Hương Lô)

GIÀ LA PHẢ QUỐC

 

G

1925

GIÀ LAM

I. Già Lam.

Gọi đủ: Tăng già lam ma (Phạm:

Saôghàràma).

Cũng gọi Tăng viên, Tăng viện.

Dịch ý: Chúng viên (vườn của chúng

tăng ở).

Khu vườn trong đó chúng tăng cư trú,

nhưng phổ thông gọi là tự viện, đường xá

(chùa viện, phòng nhà).

Đến đời sau, muốn hoàn thành một ngôi

già lam phải có đủ bảy kiến trúc gọi là Thất

đường già lam (chùa viện gồm có bảy tòa

nhà). Tên gọi và sự phối trí “Thất đường”

tùy theo thời đại hoặc tông phái mà có khác.

Thông thường, các ngôi già lam đều được

xây dựng quay mặt về hướng Nam. Ngôi tự

viện chuyên nghiên cứu học vấn thì phải có

đủ bảy kiến trúc sau: Tháp (thờ xá lợi Phật),

Kim đường (cũng gọi Phật điện, thờ tượng

Phật bản tôn. Phật điện và tháp là những

kiến trúc chính của ngôi già lam), Giảng

đường (nhà giảng), Chung lâu (lầu treo

chuông), Tàng kinh lâu (cũng gọi Kinh

đường, là nhà chứa kinh), Tăng phòng (cũng

gọi Tăng phường, là nơi chúng tăng ở, được

phân bố ở ba hướng đông, tây, bắc của Giảng

đường) Thực đường (cũng gọi Trai đường,

là nhà ăn).

Già lam của Thiền tông cũng phải đủ

bảy kiến trúc: Phật điện, Pháp đường (cũng

gọi Thuyết pháp đường, tương đương với

Giảng đường, xây ở phía sau điện Phật), Tăng

đường (cũng gọi Thiền đường, Vân đường,

Tuyển Phật tràng, là nơi chúng tăng ngồi

Thiền, ở chính giữa thờ tượng bồ tát Văn

Thù), Khố phòng (cũng gọi Khố viện, nơi

điều phối thức ăn), Sơn môn (cũng gọi Tam

môn, cổng tam quan), Tây tịnh (nhà cầu) và

Dục thất (cũng gọi Ôn thất, nhà tắm). Trong

đây, Tăng đường, Tây tịnh, Dục thất là

những nơi không được nói chuyện, cho nên

gọi chung là Tam mặc đường (ba nhà im lặng).

[X. luật Thập tụng Q.34; luận Đại tì bà

sa Q.99]. (xt. Tự Viện).

II. Già Lam.

Phạm: Tagara.

Một loại gỗ thơm.

(xt. Già La).

GIÀ LAM ĐƯỜNG

Nhà thờ thần giữ gìn già lam.

Trong các chùa viện ở đời Tống, Già lam

đường và Tổ sư đường được xây cất ở hai

bên Pháp đường. Có thuyết cho rằng thần

bảo vệ già lam là thần thổ địa, nên Già lam

đường cũng gọi là Thổ địa đường.

[X. mục Niệm tụng trong Sắc tu Bách

trượng thanh qui Q.2; Thích thị yếu lãm

Q.hạ].

GIÀ LAM KHAI CƠ KÍ

Gồm 10 quyển, do ngài Hoài ngọc Đạo

ôn, người Nhật bản, thuộc tông Hoàng bá

soạn.

Sách ghi chép về niên đại sáng lập, duyên

khởi, sự tích khai sơn v.v… của những ngôi

chùa nổi tiếng ở Nhật bản. Phần chủ yếu là

nói về các chùa viện Thiền tông ở Kì nội,

Tứ quốc, Kinh đô (Kyoto), Liêm thương và

các nước. Ngoài ra, cũng đề cập đến một số

chùa viện của các tông khác. Ở cuối quyển

có chép thêm phần: Tăng cương giai, Giới

đàn, Phóng sinh, Cấm chế v.v…

GIÀ LAM PHÁP

Cũng gọi Già lam tương tục.

Chế độ truyền thừa ngôi vị trụ trì cho

người trong pháp hệ đảm nhiệm. Một

trong các chế độ truyền thừa của Phật giáo

Nhật bản.

GIÀ LAM PHÁP

 

G

1926

Vào thời đại Giang hộ, chế độ truyền

thừa già lam của tông Tào động đã phát sinh

không ít tệ nạn. Bởi thế, về sau, tông này

mới phát động phong trào phục cổ để chấn

chỉnh lại hệ thống của tông mình.

GIÀ LAM THẦN

Cũng gọi Già lam thập bát thiện thần,

Hộ già lam thần, Thủ già lam thần, Tự thần.

Theo nghĩa hẹp thì chỉ riêng vị thần bảo

vệ già lam, còn theo nghĩa rộng thì chỉ chung

cho chư thiên thiện thần ủng hộ Phật pháp.

Kinh Thất Phật bát Bồ tát sở thuyết đại

đà la ni thần chú quyển 4 liệt kê tên của 18

vị thần thủ hộ già lam như sau: Mĩ âm, Phạm

âm, Thiên cổ, Xảo diệu, Thán mĩ, Quảng

diệu, Lôi âm, Sư tử âm, Diệu mĩ, Phạm

hưởng, Nhân âm, Phật nô, Thán đức, Quảng

mục, Diệu nhãn, Triệt thính, Triệt thị và

Biến quan.

[X. mục Thổ địa đường niệm tụng trong

Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7 tiết 4;

Thích thị yếu lãm Q.hạ]. (xt. Hộ Pháp Thiện

Thần).

GIÀ LÊ

I. Già Lê.

Từ ngữ gọi tắt của Tăng già lê (Phạm:

Saíghàỉi).

Chỉ cho tấm áo ca sa chín điều trở lên.

(xt. Tăng Già Lê).

II. Già Lê.

Phạm:Kàlì: Dịch ý: Thời mẫu (nữ thần

mầu đen).

Tên vị nữ thần của Ấn độ giáo. Một trong

10 hóa thân của thần nữ Tuyết sơn, là vợ

của thần Thấp bà (Phạm:Ziva), một trong

những vị thần chính được phái Tính lực thờ

phụng.

Vị thần này hình tướng hung ác, toàn

thân mầu đen, có bốn đầu bốn tay (có thuyết

nói 10 đầu, 10 tay), trên trán có con mắt

thứ 3, tay cầm các loại vũ khí, đeo cái đầu

lâu ở trước ngực, bên hông đeo những cánh

tay người. Thần này chuyên uống máu tươi

của ác ma, tượng trưng cho sức mạnh và sự

sống mới.

GIÀ LÊ DẠ

Phạm:Caryà, Carita, Caritra.Pàli:

Carita.

Cũng gọi Già rị da.

1. Già lê dạ: Hành vi, động tác, thực

tiễn, tức là hành nghiệp của ba nghiệp thân,

khẩu, ý.

2. Già lê dạ: Phương pháp tu hành để

đạt đến cảnh giới giác ngộ.

[X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.3 phần

dưới; Pháp hoa kinh văn cú Q.4 phần trên;

Đại nhật kinh sớ Q.7]. (xt. Hành).

GIÀ MA

…. .

Tên một loài ma.

Cứ theo kinh Phấn tấn vương vấn quyển

thượng chép, thì vào thời đức Như lai Quang

minh vô cấu quang vương ở quá khứ xa xưa,

có một con ma tên là Già, cầm đầu 8 vạn 4

nghìn chúng ma định não loạn bồ tát Kim

cương tề, nhưng lại được Bồ tát giáo hóa mà

phát tâm bồ đề qui y đức Như lai Vô cấu

quang vương.

GIÀ MẠT LA CHÂU

………..

Già mạt la, Phạm:Càmara.

Cũng gọi Già ma la châu.

Một trong hai trung châu(châu Già mạt

la, châu Phiệt la già mạt la) của châu Nam

thiệm bộ. Hai trung châu này, mỗi châu lại

có 500 tiểu châu quyến thuộc.

Câu xá luận quang kí quyển 11 (Đại 41,

186 trung), nói: “Già mạt la, Trung quốc

GIÀ MẠT LA CHÂU

 

G

1927

dịch là Miêu ngưu”.

[X. luận Đại tì bà sa Q.172; luận Câu xá

Q.11].

GIÀ NA NGHIÊP

……..

Đối lại với “Chỉ quán nghiệp”.

Chuyên tu sự tướng của Mật giáo. Là

một trong hai nghiệp mà người học Thiên

thai Pháp hoa viên tông của Nhật bản phải

tu học.

Đại sư Tối trừng thuộc tông Thiên thai

Nhật bản lấy Thiên thai chỉ quán làm tông

chỉ, nhưng các ngài Viên nhân, Viên trân

kế tiếp nhau đến Trung quốc (đời Đường)

học Hiển giáo và Mật giáo, sau khi về nước,

các ngài hoằng dương Mật giáo, dần dần Mật

giáo hóa tông Thiên thai mà gọi là “Thai

Mật” để đối lại với “Đông Mật” của tông

Chân ngôn do ngài Không hải lập.

Ngoài Chỉ quán nghiệp và Già na nghiệp,

còn có Kim cương đính nghiệp, Tô tất địa

nghiệp và Phật đính nghiệp gọi chung là Ngũ

nghiệp, đây là nội dung tu hành chủ yếu

của tông Thiên thai Nhật bản.

[X. Nguyên hanh thích thư Q.1; Nhật

bản hậu kỉ Q.13; Thiên thai hà tiêu Q.1 phần

1]. (xt. Chỉ Quán Nghiệp).

GIÀ NA VIÊN ĐỐN

Già na, gọi đủ: Tì lô già na, là báo thân

hoặc pháp thân của Phật; Viên đốn, chỉ cho

giáo pháp viên mãn cùng tột. Từ ngữ này

đặc biệt chỉ cho tông Hoa nghiêm, vì tông

này chủ trương kinh Hoa nghiêm là giáo

pháp viên mãn rốt ráo do đức Phật Tì lô giá

na tuyên thuyết.

GIÀ PHẠM ĐẠT MA

Phạm: Bhagavat-dharma.

Dịch ý: Tôn pháp.

Vị tăng dịch kinh ở đời Đường, người

miền Tây Ấn độ sống vào thế kỉ thứ VII.

Khoảng năm Vĩnh huy, Hiển khánh, ngài

đến Trung hoa, dịch được kinh Thiên thủ

thiên nhãn đại bi tâm đà la ni 1 quyển. Năm

sinh năm mất không rõ.

[X. Tống cao tăng truyện Q.2; Trinh

nguyên tân định thích giáo mục lục Q.12].

GIÀ THUYÊN BIỂU THUYÊN

Tức là Già thuyên và Biểu thuyên nói

chung lại.

I. Già thuyên biểu thuyên.

Hai phương thức biểu đạt trong ngôn

ngữ rất thông dụng trong các tông phái Phật

giáo. Già thuyên là từ mặt trái bày tỏ sự

phủ định để bài trừ thuộc tính không đầy

đủ của đối tượng mà giải thích rõ ràng ý

nghĩa của sự vật. Biểu thuyên là từ mặt phải

nói lên sự khẳng định, hiển bày thuộc tính

tự thân của sự vật để giải thích rõ ý nghĩa

của nó.

Tông kính lục quyển 34 (Đại 48, 616

trung), nói: “Già là loại trừ chỗ sai, Biểu là

làm sáng tỏ chỗ đúng. Lại nữa, Già là lựa bỏ

chỗ dư, Biểu là chỉ thẳng ngay các đương

thể. Như các kinh khi bàn về tính mầu

nhiệm của chân như, thường nói: “Chẳng

sinh, chẳng diệt, chẳng nhơ, chẳng sạch,

không nhân, không quả, vô tướng, vô vi,

chẳng phàm, chẳng thánh, chẳng tính, chẳng

tướng” v.v… đều là Già thuyên dứt tình tuyệt

tưởng. Còn nếu nói: “Thấy biết chiếu soi,

rực rỡ sáng ngời, mông mênh lặng lẽ” v.v…

thì đều là Biểu thuyên.

[X. Quán kinh huyền nghĩa phần kí Q.2;

Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự Q.3;

Ứng lí Đại thừa truyền thông yếu tập

Q.thượng].

II. Già thuyên Biểu thuyên.

Tiếng dùng trong Nhân minh.

Già thuyên là phủ định, phủ nhận, bác

GIÀ THUYÊN BIỂU THUYÊN

 

G

1928

bỏ luận thức của đối phương chủ trương;

Biểu thuyên là khẳng định, công nhận, nêu

ra sự thực để lập thành luận thức.

Nếu Tông là một mệnh đề phủ định thì

đó là luận pháp Già thuyên. Như:

Tông: Thảo mộc không phải là loài có

cảm giác.

Nhân: Vì không phải là loài động vật.

Dụ: Như ngói, gạch v.v…

Nếu Tông là một mệnh đề khẳng định

thì đó là luận pháp Biểu thuyên như:

Tông: Âm thanh là vô thường.

Nhân: Vì do sự tác động mà có ra.

Dụ: Như cái bình, cái chén v.v…

[X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ

tha môn thiển thích (Trần đại tề)].

GIÀ TÌNH BIỂU ĐỨC

Từ gọi chung Già tình và Biểu đức.

Nhờ ngăn ngừa được những hiểu biết

sai lầm một cách tiêu cực mà được chân trí,

gọi là Già tình, cũng gọi Già tình môn; trái

lại, trực tiếp biểu hiện công đức của chân

như, tức là trực tiếp hiển bày thực tướng,

trạng thái v.v… của chân như một cách tích

cực mà được chân trí, thì gọi là Biểu đức,

cũng gọi Biểu đức môn.

Ngoài ra, trong 16 huyền môn mà Mật

giáo dùng để giải thích kinh điển và tự

tướng, thì Già tình và Biểu đức thuộc hai

môn đầu tiên; và Mật tông cho rằng tất cả

Hiển giáo là Già tình môn, còn Mật giáo là

Biểu đức môn.

[X. Đại nhật kinh sớ Q.7; Hoa nghiêm

ngũ giáo chỉ quán].

GIÀ TỘI

…..

Đối lại với “Tính tội”.

Vi phạm Già giới gọi là Già tội (tội nhẹ).

Luận Du già sư địa quyển 99 (Đại 30,

869 hạ), nói: “Thế nào là Già tội? Nghĩa là

vì thấy hình tướng của người kia không đúng

pháp, hoặc vì khiến chúng sinh trọng chính

pháp, hoặc vì thấy những việc làm thuận

theo pháp tính tội hiện hành, hoặc vì tùy

thuận để giữ gìn tâm người khác v.v… nên

đức Phật mới chế giới để ngăn cấm, gọi là

Già tội”.

[X. luận Đại trí độ Q.13; luận Thuận

chính lí Q.38; Đại nhật kinh sớ Q.9]. (xt.

Tính Già Nhị Tội, Già Giới).

GIÀ TRA CA ĐIỂU

………..

Già tra ca, Phạm:Càỉaka.

Tên khoa học: Cucculus melanoleucus.

Dịch ý: Sa yến.

Chim cuốc. Loài chim này chỉ ngửa mỏ

uống nước mưa khi trời mưa chứ không uống

nước thường nên luôn bị khổ não vì đói khát.

[X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.16; Chỉ

quất dịch thổ tập Q.11].

GIÀ VĂN ĐỒ

Phạm:Càmuịđà.

Cũng gọi Tả muộn noa, Giả môn noa,

Già muộn noa, Tật đố nữ, Nộ thần.

Quyến thuộc của Diệm ma thiên trong

Mật giáo, đứng đầu Thất mẫu thiên, được

bày ở phía tây của viện Kim cương bộ ngoài

trên mạn đồ la Thai tạng giới.

Hình tượng của vị thần này là mình

người (mầu đỏ),

đầu lợn (mầu đen),

không mặc áo, đội

mũ báu, tay phải

ngửa cầm bát, tay

trái nắm lại để trên

đầu gối trái, mặt

xoay về phía trái.

Đại nhật kinh

nghĩa thích diễn

mật sao quyển 5

GIÀ VĂN ĐÔ

Già Văn Đồ

 

G

1929

nói: “Già văn đồ thuộc loài dạ xoa, hay dùng

chú thuật hại người, đời cũng có kẻ thực

hành pháp này”.

Phẩm Đà la ni trong kinh Pháp hoa

cho rằng Cát già tức là Già văn đồ, nhưng

tên Phạm của Cát già làKftyàchứ không

phảiCàmuịđà, cho nên Cát già và Già

văn đồ có là một hay không thì điều đó

không được rõ.

[X. Đại nhật kinh sớ Q.6, Q.10, Q.14;

Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7].

GIÁ CÁ

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Nghĩa là Cái ấy, Cái này, Cái đó.

I. Giá Cá.

Chỉ định đại danh từ.

Lâm tế lục thướng đường (Đại 47, 496

trung), ghi: “Sư nói: ‘Vị tăng ấy không thể

bàn luận được’.”

II. Giá Cá.

Tiếng nhấn mạnh, chỉ cho bản thân chứ

không phải vật khác.

Lâm tế lục thị chúng (Đại 47, 497 trung),

ghi: “Rõ ràng ngay trước mắt, cái ấy biết nói

pháp nghe pháp, chứ chẳng phải cái sáng

láng trơ trọi một mình”.

III. Giá Cá.

Đại danh từ chỉ cho tự tính. Như: Na cá,

Y, Bản lai diện mục, Vô vị chân nhân, Tự

kỉ, Gia tặc v.v… đều là những tiếng được

dùng để gọi Tự tính.

IV. Giá Cá.

Đại danh từ được dùng trong trường hợp

đặc biệt.

Thiền uyển mông cầu quyển hạ (Vạn tục

148, 133 hạ) chép: “Ni hỏi:

– Ý kín kín là thế nào?

Châu lấy tay gõ.

Ni hỏi:

– Hòa thượng vẫn còn cái đó à?

Châu nói:

– Chính người còn có cái ấy!”

“Cái đó” trong câu “Hòa thượng vẫn còn

cái đó à” là đại danh từ chỉ cho “tập khí”

hoặc “sắc tâm”; còn “cái ấy” trong câu “Chính

người còn có cái ấy” là đại danh từ chỉ cho

“tâm phân biệt”, “tình thức phân biệt”.

[X. Ngũ đăng hội nguyên Q.4].

GIẢ

..

Đối lại với “Chân, Thực”.

Không có thực thể, chỉ có tên suông, gọi

là Giả danh hữu; tâm bên trong, tướng bên

ngoài không ăn khớp với nhau, gọi là Giả

hạnh; pháp môn phương tiện quyển giả (tạm

thời), gọi là Giả môn; tiến vào thế giới mê

vọng của phàm phu, gọi là Nhập giả; ra khỏi

thế giới mê vọng, gọi là Xuất giả. Đối với các

pháp trong hiện tượng giới, còn có Nhị giả,

Tam giả, Tứ giả khác nhau.

I. Nhị giả.

Theo Thành duy thức luận thuật kí

quyển 1 phần đầu của ngài Khuy cơ và Tông

kính lục quyển 67 của ngài Diên thọ, thì

Nhị giả là:

1. Vô thể tùy tình giả: Các pháp vốn

không có thực thể, nhưng vì mê lầm mà

phàm phu chấp là có thực thể.

2. Hữu thể thi thiết giả: Tất cả các pháp

hiện tượng đều do nhân duyên hòa hợp mà

sinh nên là có giả, chứ hoàn toàn không có

thể thật. Danh từ có giả này là chính do bậc

Thánh đã chứng ngộ được thực tướng của

các pháp (chân lí) mà giả đặt ra.

II. Tam Giả.

A. Cứ theo phẩm Tam giả trong kinh

Đại phẩm bát nhã quyển 2, thì các pháp tuy

không có tự tính, nhưng vì phá vọng chấp

của phàm phu, nên tạm đặt ra ba giả: Thụ

giả, Pháp giả và Danh giả. Ba giả này cũng

gọi là Tam ba la nhiếp đề (Phạm:Prajĩapti),

Tam nhiếp đề, Tam giả thi thiết.

Trong Đại thừa nghĩa chương quyển 1,

GIẢ

 

G

1930

ngài Tuệ viễn đời Tấn đã căn cứ vào luận

Đại trí độ quyển 41 mà giải thích như sau:

1. Thụ giả: Một vật do nhiều nhân duyên

hòa hợp mà tạo thành nên vật ấy không có

thực thể.

2. Pháp giả: Các pháp cũng do nhân

duyên sinh, không có tự tính, không có thực

thể.

3. Danh giả: Muôn vật đều “Không”,

chẳng có tự tính, nên chỉ là tên suông, không

có thực thể.

Ngài Trí khải giải thích phần “Tam

không quán môn” trong phẩm Tựa của kinh

Nhân vương quyển thượng là Tam giả: Tức

pháp giả là sắc ấm; Thụ giả là thụ, tưởng,

hành, thức; Danh giả tức là Thụ và Pháp

đều là tên giả.

B.Phẩm Giả danh tướng trong luận

Thành thực liệt kê Tam giả:

1. Nhân thành giả: Tất cả các pháp hữu

vi đều do nhân duyên tạo thành, nên là giả.

2. Tương tục giả: Tất cả pháp hữu vi

niệm trước niệm sau nối nhau tồn tại không

dứt, sự nối tiếp ấy không có thực thể, sinh

diệt trong mỗi sát na, cho nên là giả.

3. Tương đãi giả: Tất cả các pháp đều có

đối đãi, như lớn nhỏ, dài ngắn đối nhau, không

có tiêu chuẩn nhất định, nên gọi là giả.

Ba giả trên đây đều như mộng như huyễn

nên gọi là “Tam giả hư phù”. Ma ha chỉ quán

quyển 5 phần dưới cho đây là sự thấy biết

của Tạng giáo và Thông giáo.

C. Cứ theo luận Thành duy thức quyển

8, thì pháp y tha khởi tính có chia ra Giả và

Thực. Phần giả có ba loại là: Tụ tập giả,

Tương tục giả và Phần vị già. Ba giả này đại

khái cũng đồng nghĩa với ba giả của luận

Thành thực.

D. Luận Thập bát không nêu ra ba giả:

Phân biệt giả, Y tha giả, và Chân thực giả.

Thuyết này được căn cứ vào “Tam vô tính”

mà lập ra.

III. Tứ Giả.

A. Trong Câu xá luận kí (Quang kí)

quyển 29, ngài Phổ quang dẫn luận Thành

thực nêu ra bốn giả: Nhân sinh giả, Duyên

thành giả, Tương tục giả và Tương đãi giả.

Thực ra thì bốn giả này đồng nghĩa với ba

giả, chỉ khác nhau ở chỗ Nhân thành giả

được chia làm hai là: Nhân sinh giả và Duyên

thành giả. Nhân sinh giả tương đương với

Pháp giả, Duyên thành giả tương đương với

Thụ giả trong ba giả.

B. Trong Tam luận huyền nghĩa và Đại

thừa huyền luận quyển 5, ngài Cát tạng căn

cứ vào thuyết Tứ tất đàn trong luận Đại trí

độ quyển 1 và kế thừa chủ trương của ngài

Tăng lãng đời Lương thuộc Nam triều mà

lập ra thuyết Tứ giả: Nhân duyên giả, Tùy

duyên giả, Đối duyên giả và Tựu duyên giả.

Chữ “Giả” trong thuyết này có ý nghĩa nói

rõ về việc tạm thời bày đặt ra các pháp môn

phương tiện, cũng tức là chỉ cho pháp môn

tùy theo cơ duyên mà có sự khác nhau. Bốn

giả này có thể lần lượt phối hợp với bốn Tất

đàn: Đệ nhất nghĩa tất đàn, Vị nhân tất đàn,

Đối trị tất đàn và Thế giới tất đàn.

GIẢ BẠ

…..

Cũng gọi Thỉnh giả.

Cuốn sổ ghi chép tên của các vị tăng xin

phép đi ra ngoài tùng lâm làm việc Phật hoặc

về quê thăm cha mẹ.

Mục Duy na trong Sắc tu Bách trượng

thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1132 trung), nói:

“Hoặc có duyên sự phải tạm thời rời khỏi

tùng lâm, thì vị Duy na phải đem Giới lạp

bạ, Giả bạ v.v… đến giao cho Tri khách giữ”.

GIẢ DANH

…..

Phạm:Prajĩapti.Pàli:Paĩĩatti.

Gọi tắt: Giả.

Danh từ được tạm đặt ra để gọi các pháp

do nhân duyên hòa hợp mà có.

GIẢ DANH

 

G

1931

Phẩm Diệt tận định trong luận Thành

thực quyển 13 chia Giả danh làm 2 thứ:

1. Nhân hòa hợp giả danh: Như thân

người do nhân duyên 5 uẩn hòa hợp mà có.

2. Pháp giả danh: Các pháp từ nhiều

duyên mà sinh, không có tính nhất định,

chỉ có tên suông.

Đại thừa tuy có sâu, cạn khác nhau,

nhưng tư tưởng nhân và pháp đều là giả danh

thì như nhau. Phái Trung quán cho rằng,

đứng về phương diện tục đế mà nói,thì các

pháp duyên sinh tuy là có giả, nhưng, đứng

về mặt chân đế mà bàn, thì các pháp đều

là không. Còn phái Du già chủ trương, nếu

y cứ vào nghĩa tụ tập, thì các pháp được tập

thành đều có tính tụ tập, tương tục, phần

vị, cho nên gọi là giả có; còn các pháp tập

thành như tâm, tâm sở, sắc v.v… do nhân

duyên sinh, thì là thật có, dựa vào pháp thật

có này mà nói là giả có, bởi thế, tính y tha

khởi gồm chung cho cả giả và thật.

Đại thừa nghĩa chương quyển 1 (Đại 44,

477 hạ) giải thích Giả danh có 4 nghĩa:

1. Các pháp không có tên, giả đặt tên

cho, nên gọi là giả danh. Như người nghèo

hèn, giả gọi là giàu sang.

2. Nhờ những vật khác mà có tên, nên

gọi là giả danh. Như nhờ các uẩn mà có tên

chúng sinh, nhờ rường cột mà có tên ngôi

nhà, nhờ dài mà có tên ngắn, nhờ lớn mà có

tên nhỏ (…) v.v…

3. Tên giả gọi là Giả danh, các pháp thế

tục đều không có tính cố định, nhờ những

cái khác mà có, rồi đặt cho cái tên giả, nên

gọi Giả danh.

4. Các pháp mượn tên gọi mà có nên gọi

là Giả danh. Nghĩa này thế nào? Bỏ tên đi

mà bàn pháp, thì pháp như huyễn hóa, chẳng

phải có, chẳng phải không, cũng chẳng phải

chẳng có, cũng chẳng phải chẳng không,

không có tướng nhất định nào để tự phân

biệt, dùng tên gọi pháp, pháp theo tên mà

chuyển, do đó mới có các pháp sai biệt. Các

pháp nhờ tên mà có nên gọi là Giả danh”.

[X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.2; kinh

Bồ tát địa trì Q.1, Q.2; luận Đại trí độ Q.41;

phẩm Lập giả danh trong luận Thành thực

Q.11; luận Thành duy thức Q.8; Thành duy

thức luận thuật kí Q.9 phần đầu]. (xt. Giả).

GIẢ DANH BỒ TÁT

Cũng gọi Danh tự bồ tát, Tín tưởng bồ

tát.

Chỉ cho hàng Bồ tát ở giai vị Thập tín

trong 52 giai vị của Bồ tát Đại thừa.

Bồ tát ở giai vị này mới chỉ có tên là Bồ

tát chứ chưa đủ thực chất, cho nên gọi là

Giả danh bồ tát.

[X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ].

(xt. Thập Tín).

GIẢ DANH HỮU

……..

Gọi tắt: Giả hữu.

Các pháp tồn tại đều do nhân duyên tập

hợp mà có. Một trong 3 loại hữu.

Như thân người do bốn đại, năm uẩn

hòa hợp mà thành, không có tự thể, chỉ có

tên giả, cho nên gọi là Giả danh hữu.

[X. luận Đại trí độ Q.12; Ma ha chỉ quán

Q.5 phần dưới; Đại minh tam tạng pháp số

Q.13]. (xt. Tam Chủng Hữu, Hữu Vô, Giả

Danh).

GIẢ DANH KHÔNG

……..

Cũng gọi Nhân không, Ngã không. Đối

lại với Pháp không.

Quán xét chúng sinh là giả danh và quán

xét nhân, ngã không thực có.

Cứ theo phẩm Diệt pháp tâm trong luận

Thành thực quyển 12, thì chúng sinh tan rã

hư nát, ấy là Giả danh không; các sắc tướng

vô thường hoại diệt, ấy là Pháp không.

Ngoài ra, còn có 2 thứ quán tưởng:

GIẢ DANH KHÔNG

 

G

1932

1. Không quán: Tức là quán xét không

thấy có chúng sinh giả danh, như thấy trong

năm uẩn không có tướng người (nhân

không), giống như thấy trong bình không

có nước.

2. Vô ngã quán: Quán xét pháp không,

đệ nhất nghĩa không.

(xt. Nhân Pháp Nhị Không, Ngã Không

Pháp Hữu, Giả Danh).

GIẢ DANH KINH

……..

Kinh điển Hán văn dịch ra tiếng Nhật

được viết thuần bằng chữ Giả danh (tức là

Phiến giả danh, Bình giả danh, mẫu tự Nhật

bản được mượn từ chữ Hán) hoặc chữ Giả

danh xen lẫn với chữ Hán.

Trong những kinh được viết chép bằng

loại chữ này có bộ kinh Pháp hoa 8 quyển

được cất giữ ở chùa Tông a, làng Gia phú

thị trấn Túc lợi, huyện Bản mộc, Nhật bản

là có tiếng hơn cả.

[X. Hà hải sao Q.12].

GIẢ DANH NHÂN

……..

Cũng gọi Giả giả, Giả nhân.

Chỉ cho thân người do năm uẩn hòa hợp

mà thành, chỉ có tên giả chứ không có thể

thật, chia làm hai loại:

1. Giả danh nhân ở uế độ (đất nước nhơ

nhớp): Tức là người ở thế giới Sa bà, do năm

uẩn hữu lậu nhiễm ô hòa hợp mà thành.

2. Giả danh nhân ở tịnh độ (đất nước

trong sạch): Tức là các vị Bồ tát ở Tịnh độ,

do năm uẩn vô lậu thanh tịnh vi diệu hòa

hợp mà thành.

Nếu so sánh giữa Bồ tát ở Tịnh độ và

người ta ở Uế độ, thì tuy thân thể có nhiễm

tịnh khác nhau, nhưng cũng đều do năm

uẩn hòa hợp nên gọi là Giả danh nhân. Giả

danh nhân ở Uế độ và Giả danh nhân ở

Tịnh độ có nghĩa “Bất nhất bất dị” (Không

phải là một mà cũng không phải khác nhau);

người tu hành lúc lâm chung sinh về Tịnh

độ, lìa bỏ thân người giả danh ở Uế độ, hóa

sinh trong hoa sen thành người giả danh ở

Tịnh độ. Trong quá trình ấy, người ở Uế độ

lúc lâm chung là lấy niệm trước làm nhân,

mà khi thành người ở Tịnh độ thì lấy niệm

sau làm quả, cho nên nhân quả niệm trước

niệm sau nối nhau không gián đoạn. Nếu

nói theo sự khác nhau giữa xả, thụ, nhân,

quả thì là “bất nhất” (chẳng phải một); còn

nói theo nghĩa nhân quả nối nhau không

gián đoạn thì là “bất dị” (chẳng phải khác).

Ngoài ra, cứ theo luận Thích ma ha diễn

quyển 4, 6, 9, đối với người đã thân chứng ở

Địa thượng thì gọi người còn ở giai vị Địa

tiền là Giả giả; đối với người đã thực chứng

quả Phật mà gọi người còn tu hành ở Nhân

vị (giai vị tu nhân) là Giả giả. Nhưng, nói

theo nghĩa rộng, thì không phân biệt địa

tiền, địa thượng, nhân quả, mà chỉ gọi chung

người là Giả nhân (giả danh nhân).

[X. phẩm Quán nghiệp trong Trung luận

Q.3; luận Đại trí độ Q.12; Vãng sinh luận

chú Q.thượng].

GIẢ DANH TÔNG

……..

Tông phái chủ trương các pháp chỉ có

tên giả chứ không có thể thật. Tức là Kinh

bộ và tông Thành thực của Tiểu thừa. Là

một trong bốn tông theo phán giáo của ngài

Đại diễn đời Bắc Tề, một trong năm tông

theo phán giáo của pháp sư Tự quĩ ở chùa

Hộ thân đời Bắc Tề, một trong sáu tông theo

phán giáo của pháp sư An lẫm ở chùa Kì xà

đời Trần thuộc Nam triều.

(xt. Ngũ Tông, Tứ Tông, Kì Xà Lục Tông).

GIẢ HÒA HỢP

……..

Gọi tắt: Giả hợp.

Nhờ các nhân duyên tụ tập lại mà thành

GIẢ HÒA HỢP

 

G

1933

một vật, khi nhân duyên li tán thì vật ấy không

tồn tại nữa. Vì không có tự tính, chẳng phải

thật có, nên gọi là Giả hòa hợp.

GIẢ HỢP CHI THÂN

………..

Thân người ta do nhiều nhân duyên giả

hòa hợp mà thành.

Luận Nguyên nhân (Đại 45, 709 trung),

nói: “Thân này chỉ là hình tướng do các

duyên giả hòa hợp mà thành, vốn không có

ngã, nhân”.

(xt. Giả Danh Nhân).

GIẢ HỮU

…..

Cũng gọi Tục hữu, Giả danh hữu, đối

lại với Thực hữu.

Nghĩa là các pháp đều nương vào nhân

duyên hòa hợp mà tồn tại, chứ không có

thật, giống như hoa trong gương, trăng dưới

nước, tuy hiện hữu, nhưng là giả, nên gọi là

Giả hữu.

[X. luận Thành duy thức Q.1; Tam luận

huyền nghĩa Q.1].

GIẢ KÊ THANH VẬN

Bắt chước tiếng gà gáy để lừa người.

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Điển tích lấy từ truyện Mạnh thường

quân trong Sử kí.

Một lần, vào lúc nửa đêm, Mạnh thường

quân muốn qua cửa ải Hàm cốc, có một thực

khách tên là Phùng hoan giúp ông bằng cách

bắt chước tiếng gà gáy, lính canh phòng

tưởng trời đã sáng nên mở cửa ải, Mạnh

thường quân thản nhiên đi qua, nhờ thế mà

ông đã thoát hiểm, vì bọn quân Tần đang

đuổi theo để giết ông.

Thung dung lục (Đại 48, 239 hạ), nói:

“Bắt chước tiếng gà khó lừa ta, sao không

qua ải khi còn tối”.

GIẢ MÔN

Đối lại với Chân môn.

Giáo nghĩa của Tịnh độ Chân tông Nhật

bản.

Nghĩa là không thực hành pháp môn

niệm Phật mà tự lực tu các công đức để cầu

vãng sinh, thì gọi là Giả môn (pháp môn

phương tiện tạm thời được đặt ra chứ không

phải là chân thực).

Điều thứ 19 trong 48 đại nguyện của đức

Phật A di đà nói rằng, người cầu sinh về

Tịnh độ cực lạc, ngoài việc niệm Phật ra,

còn tu các công hạnh, các điều thiện khác,

thì lúc lâm chung được đức Phật đến tiếp

đón. Bởi vì, Giả môn bắt nguồn từ pháp

Định tán yếu môn trong kinh Quán vô lượng

thọ, cũng tức là dùng Định tán yếu môn

làm phương tiện để vào Hoằng nguyện niệm

Phật yếu môn, cho nên căn cứ vào điều

nguyện thứ 19 mà tạm thời đặt ra phương

tiện giả môn.

Trong tác phẩm Giáo hành tín chứng

của mình, Tổ sư của Tịnh độ Chân tông

Nhật bản là ngài Thân loan cho rằng:

Bản nguyện của đức Phật A di đà có thể

chia làm hai: Chân thực và Phương tiện.

Tức nguyện thứ 18 là bản nguyện chân

thực, còn các nguyện thứ 19, 20 là bản

nguyện phương tiện. Bản nguyện phương

tiện cũng có thể chia làm hai: Nguyện

19 là Phương tiện giả môn, nguyện 20 là

Phương tiện chân môn. Quá trình tu

hành lí tưởng nhất của người niệm Phật

cầu vãng sinh là ra khỏi Giả môn mà vào

Chân môn, rồi lại từ Chân môn đi ra để

cuối cùng trở về Chân thực hoằng

nguyện.

Giáo hành tín chứng quyển 6 (Đại 83,

632 hạ), nói: “Vĩnh viễn ra khỏi Giả môn

của muôn công hạnh, muôn điều thiện, và

mãi mãi không sinh về rừng Song thụ”.

GIẢ MÔN

 

G

1934

Cũng sách trên (Đại 83, 629 hạ), nói:

“Tiệm giáo, Định tán, Tam phúc, Tam bối,

Cửu phẩm… đều là Tự lực giả môn”.

GIẢ NGÃ

Cũng gọi Tục ngã, đối lại với Chân

ngã.

Trong thân do 5 uẩn giả hòa hợp mà

thành, không có ngã chân thực.

Theo luận Đại trí độ quyển 1, thì có ba

Giả ngã căn bản:

1. Tà kiến: Phàm phu chưa trừ được ngã

kiến, nên vọng chấp có ngã chân thực.

2. Mạn: Bậc Thánh Hữu học tuy đã trừ

ngã kiến nhưng vẫn còn ngã mạn.

3. Danh tự: Phật và các bậc Thánh Vô

học tuy đã trừ ngã kiến, ngã mạn, hoàn

toàn không còn Ngã chấp, nhưng vì thuận

theo phong tục thế gian mà nói “Ngã”. Như

các câu: “Như thị ngã văn”, “Thiết ngã đắc

Phật” v.v… trong các kinh Phật đều là loại

Giả ngã danh tự này.

Phật giáo Đại thừa tuy bác bỏ quan điểm

của Tiểu thừa, ngoại đạo, phàm phu chấp

trước Giả ngã là thực thể, nhưng không loại

trừ cái Giả ngã danh tự này.

(xt. Ngã).

GIẢ QUÁN

…..

I. Giả Quán.

Đối lại với Không quán, Trung quán.

Quán chiếu các pháp nương vào giả danh

mà tồn tại.

(xt. Nhất Tâm Tam Quán).

II. Giả Quán.

Đối lại với Chân quán.

Quán chiếu các pháp theo phương tiện

tạm thời đặt ra chớ không theo sự thực. Như

các pháp quán tưởng mặt trời, quán tưởng

nước, quán tưởng hình tượng được nói trong

kinh Quán vô lượng thọ.

GIẢ THỜI QUỐC

Giả thời, Phạm:Chaj.

Hán dịch: Giả chi, Thác chi, Giả thiệt.

Cũng gọi Đại thạch, Thạch quốc.

Tên một nước xưa ở Tây vực.

Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 1,

thì phía tây nước này giáp với sông Diệp hà.

Nay là Tashkend, thủ đô của nước Cộng

hòa Uzbekistan thuộc vùng Trung á.

GIẢ THỰC

Cũng gọi Hư giả chân thực.

Danh từ gọi chung Giả và Thực.

Cứ theo luận Thành duy thức quyển 8,

thì tính Y tha khởi có Thực và Giả. Giả có

ba đặc tính là tụ tập, tương tục và phần vị,

nên gọi là Giả hữu. Còn Thực thì như tâm,

tâm sở, sắc v.v… từ nhân duyên mà sinh ra,

nên gọi là Thực hữu. Nói về mối quan hệ

giữa Thực và Giả thì nếu không có Thực

pháp thì cũng không có Giả pháp, bởi vì

Giả là nương vào Thực mà đặt ra.

[X. Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.4].

GIẢ THỰC NHỊ PHÁP

Giả pháp và Thực pháp.

Thực pháp là pháp có thực thể, còn Giả

pháp là pháp không có thực thể, chỉ nhờ

vào sự tụ tập, tương tục của Thực pháp mà

tạm thời tồn tại. Như năm uẩn là Thực pháp,

loài hữu tình là Giả pháp do sự hòa hợp của

năm uẩn mà được hình thành.

Về pháp Giả và pháp Thực các bộ phái

có những quan điểm khác nhau. Theo Hoa

nghiêm ngũ giáo chương thì những quan

điểm bất đồng ấy như sau:

I. Về phía Tiểu thừa:

1. Nhất thiết hữu bộ chủ trương, thân

người do 5 uẩn hòa hợp là giả, còn 75 pháp

GIẢ THỰC NHỊ PHÁP

 

G

1935

do 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới mà thành là thực.

2. Đại chúng bộ cho rằng pháp vô vi và

pháp hữu vi ở đời hiện tại là thực, còn pháp

đời quá khứ, vị lai là giả.

3. Thuyết giả bộ chủ trương, trong pháp

hiện tại, 5 uẩn tuy là thực, nhưng 12 xứ, 18

giới thì là có giả.

4. Thuyết xuất thế bộ cho rằng, nhân

quả tục đế hữu lậu (Khổ đế, Tập đế) là giả,

còn nhân quả chân đế vô lậu (Diệt đế, Đạo

đế) là thực.

5. Nhất thuyết bộ chủ trương, các pháp

chỉ có tên suông chứ không có thực thể.

6. Tông thành thực thì cho rằng, chẳng

những thân người do năm uẩn hòa hợp là

giả, mà chính ngay năm uẩn cũng là giả.

II. Về phía Đại thừa:

Luận Thành duy thức quyển 8 căn cứ

vào ba tính mà định là giả hay thực. Như

tính Biến kế sở chấp được an lập trên hư

vọng, nên có thể nói nó là giả, hoặc chẳng

phải giả chẳng phải thực, vì nó không có

thể tướng. Tính Y tha khởi có thực, có giả,

vì đủ các tính tụ tập, tương tục, phân vị,

cho nên là giả, tâm, tâm sở, sắc, nương vào

duyên (chủng tử) mà sinh, cho nên gọi là

thực. Nếu không có pháp thực thì cũng

không có pháp giả, vì giả nương vào nhân

thực mà thiết lập; do đó mà biết chỉ có tính

Viên thành thực là thật có, vì nó không

nương vào các duyên khác mà thiết lập.

Phẩm Tứ đế trong Trung luận quyển 4

thì ghi: “Pháp do nhân duyên sinh, ta nói

pháp ấy tức là “không”; các duyên đầy đủ

hòa hợp mà vật sinh, vật ấy thuộc nhiều

nhân duyên, cho nên không có tự tính;

không có tự tính, cho nên là “không”, ngay

cái “không” ấy cũng là “không”, chỉ vì dắt

dẫn chúng sinh, cho nên lập giả danh”.

Lại nữa, những quan điểm bất đồng về

Giả, Thực đã đưa đến kết quả phân chia

làm hai trào lưu tư tưởng lớn, đó là:Hữu

tông vàKhông tông.

[X. luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.32;

luận Đại thừa chưởng trân Q.thượng; phẩm

Diệt pháp tâm trong luận Thành thực Q.12].

GIẢ VẤN

Mượn một vật gì đó để đặt thành câu

hỏi, thông qua câu hỏi ấy mà đạt đến thể

chân thực. Là câu hỏi thứ 14 trong sách

“Phần dương thập bát vấn” của Thiền sư

Thiện chiêu (947-1024) đời Tống.

Nhân thiên nhãn mục quyển 2 (Đại 48,

308 thượng), chép: “Có người hỏi sư Kính

sơn: “Cái này là cái trong Phật điện, còn cái

kia là Phật chăng?” Sư đáp: “Cái này là cái

trong Phật điện”.

[X. Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.thượng].

GIẢ VÔ

…..

Cũng gọi Chân vô.

Chân đế Trung đạo xa lìa “có” và

“không”.

Cứ theo Tam luận huyền nghĩa quyển 1,

thì Giả vô không thể quyết định là không,

cũng không thể quyết định là có, xa lìa hai

bên, nên được coi là chính trung.

(xt. Trung Đạo).

GIÁC

..

I. Giác.

Phạm,Pàli:Bodhi.

Dịch âm: Bồ đề.

Dịch cũ là Đạo, dịch mới là Giác.

Là trí tuệ chứng ngộ diệu lí Niết bàn.

Để phân biệt “pháp” và “người” nên

Bodhi được dịch là Giác, còn Buddha được

là Giác giả.

[X. Bát nhã tâm kinh u tán Q.hạ; Tập cổ

kim Phật đạo luận hành Q.bính; Tuệ uyển

âm nghĩa Q.thượng]. (xt. Bồ Đề).

II. Giác.

GIÁC

 

G

1936

Phạm: Buddha.

Dịch âm: Phật, Phật đà.

Cũng gọi Giác giả.

Cứ theo Quán kinh nghĩa sớ quyển đầu

của ngài Tuệ viễn, thì Giác có hai nghĩa.

1. Giác sát(tỉnh xét), nói về phiền não

chướng: Phiền não trói buộc, luôn tỉnh táo,

quán xét không để cho chúng làm hại.

2. Giác ngộ(tỉnh biết), nói về sở tri

chướng: Khi trí tuệ phát sáng thì phá tan

bóng tối vô minh, như vừa thức tỉnh sau

cơn ngủ mê.

Phàm phu hoàn toàn không có giác, hàng

Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác chỉ có tự

giác, Bồ tát tuy có thể tự giác, giác tha, nhưng

giác hạnh chưa tròn đủ, chỉ có Phật là tự

giác, giác tha và giác hạnh viên mãn mà thôi.

[X. kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc)].

(xt. Phật).

III. Giác.

Đối lại với Bất giác.

Tuệ giác sáng láng.

Cứ theo luận Đại thừa khởi tín, thì thức

A lại da (bản thể của vạn hữu) có hai nghĩa:

Giác và Bất giác, Giác lại có bản giác và

Thủy giác khác nhau. Trong đó, bản thể

của vạn hữu vốn là giác thể thanh tịnh (bản

giác), nhưng từ vô thủy đến nay bị vô minh

vọng niệm che lấp, nên gọi là Bất giác. Nếu

nương theo quán trí tu hành, có thể thấu

suốt nguồn tâm, thì gọi là Thủy giác. Lại

căn cứ vào trình độ mà Thủy giác được

chia làm 4 giai đoạn:

1. Cứu cánh giác: Sự giác ngộ vô thượng

của Phật địa.

2. Tùy phần giác: Sự giác ngộ của Bồ tát

từ Sơ địa đến Cửu địa, vì chưa được hoàn

toàn rốt ráo.

3. Tương tự giác: Sự giác ngộ của các Bồ

tát giai vị Thập trụ, Thập hành, Thập hồi

hướng và hàng Nhị thừa.

4. Bất giác: Hàng phàm phu từ Thập

tín trở xuống đã biết lí của nghiệp quả, như

biết nghiệp ác chắc chắn sẽ mang lại quả

khổ, tuy không tạo nghiệp ác, nhưng vẫn

chưa phát khởi trí tuệ đoạn hoặc.

(xt. Bản Giác, Thủy Giác).

IV. Giác.

Phạm:Vitarka.

Dịch mới là Tầm.

Tên của tâm sở, là tác dụng tinh thần

tìm tòi tính toán, cũng tức là suy xét sự lí.

Tâm sở này chỉ có ở cõi Dục và Sơ thiền cõi

Sắc. Vì tính chất thiện, ác của nó, nên trong

các kinh luận nó được chia làm Thiện giác

và Ác giác. Như:

Ác giác: Dục giác(tham giác), Sân giác

(khuể giác), Hại giác(não giác) gọi là Tam ác

giác, hoặc Tam bất thiện giác.

Nếu lại thêm Thân lí giác, Quốc độ giác,

Bất tử giác, Tộc tính giác(lợi tha giác),

Khinh tha giác(khinh vũ giác), thì thành ra

tám ác giác.

Thiện giác: Li dục giác(viễn li giác, xuất

li giác, xuất giác), Vô sân giác(vô khuể giác),

Vô hại giác(vô não giác) v.v… gọi là Tam

thiện giác.

Ngoài ra, tám điều giác ngộ của bậc đại

nhân là: Thiểu dục giác, Tri túc giác, Viễn li

giác, Tinh tiến giác, Chính niệm giác, Chính

định giác, Chính tuệ giác và Bất hí luận giác…

đều thuộc về Thiện giác.

[X. kinh Đại bát niết bàn Q.23 (bản Bắc);

kinh Bồ tát địa trì Q.4; luận Thành thực

Q.14; Câu xá thích luận Q.3]. (xt. Tầm).

V. Giác.

Tên gọi chung của tâm và tâm sở. Đây là

cái biết của tâm, tâm sở khi duyên theo cảnh

(đối tượng).

Luận Thành duy thức quyển 2 (Đại 31,

6 hạ), nói: “Nếu giữ lấy giác kia, cũng không

duyên theo nó, thì tâm và tâm sở là năng

thủ; còn nếu duyên theo cái giác ấy, thì các

tâm và tâm sở là y tha khởi”.

[X. Thành duy thức luận thuật kí Q.2

phần cuối].

GIÁC

 

G

1937

GIÁC CHI

Phạm: Saôbodhyaíga.

Pàli:Saôbojjaíga.

Cũng gọi Giác phần, Bồ đề phần.

Giác là giác ngộ, khai ngộ; Chi là thành

phần, yếu tố. Giác chi là những yếu tố cấu

thành nội dung của đạo pháp tu hành. Nói

theo nghĩa rộng, Giác chi chỉ cho 37 phẩm

trợ đạo gồm: 4 niệm xứ, 4 chính cần, 4 như

ý túc, 5 căn, 5 lực, 7 giác chi và 8 Thánh

đạo; vì 37 pháp này đều thuận hướng tới bồ

đề, cho nên gọi là Bồ đề phần pháp. Trong

luận Đại tì bà sa quyển 96, các nhà Phân

biệt luận giả lại thêm 4 Thánh chủng nữa

mà lập thành 41 Bồ đề phần pháp. Còn nói

theo nghĩa hẹp thì chỉ chỉ cho 7 Giác chi (7

Bồ đề phần) mà thôi. Đó là:

1. Niệm giác chi: Tâm sáng suốt ghi nhớ

luôn.

2. Trạch pháp giác chi: Dùng trí tuệ

nghiên cứu hoặc biện biệt để lựa chọn giáo

pháp.

3. Tinh tiến giác chi: Gắng sức tu tập.

4. Hỉ giác chi: Tâm hoan hỉ.

5. Khinh an giác chi: Tâm nhẹ nhàng

sảng khoái.

6. Định giác chi: Tập trung tinh thần, tư

tưởng.

7. Xả giác chi: Giữ tâm thăng bằng không

thiên lệch.

[X. luận Câu xá Q.25; luận Đại trí độ

Q.19; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.9;

Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.trung phần dưới].

GIÁC ĐẠO

…..

I. Giác Đạo.

Cũng gọi Giác lộ.

Đồng nghĩa với Bồ đề đạo.

Con đường giác ngộ thành Phật.

Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma (Đại

14, 519 hạ), nói: “Lúc đầu, đức Phật ngồi

dưới gốc cây Bồ đề dùng sức định hàng

phục ma vương, được cam lộ diệt, giác đạo

thành tựu”.

II. Giác Đạo.

Danh từ gọi chung Thất giác chi và Bát

chính đạo.

GIÁC ĐẠO CHI

Chỉ cho Thất giác chi và Bát chính đạo.

(xt. Thất Giác Chi, Bát Chính Đạo).

GIÁC ĐỨC

…..

I. Giác Đức.

Tên một vị tỉ khưu trì giới trong thời

Chính pháp sau đức Phật nhập diệt.

Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 3,

vị tỉ khưu ấy có rất đông đồ chúng, thường

tuyên thuyết chín bộ kinh điển, cấm các tỉ

khưu không được nuôi dưỡng các tôi tới,

bò, dê và cất giữ các vật phi pháp v.v…

[X. Niết bàn kinh hội sớ Q.1].

II. Giác Đức.

Danh tăng người Tân la sống vào thế kỉ

VI. Sư từng đến Trung quốc học Phật.

Năm Thái thanh thứ 3 (549) đời Vũ đế

nhà Lương, sư cùng với sứ thần nhà Lương

rước xá lợi Phật từ Trung quốc về nước Tân

la (nay là Triều tiên).

GIÁC GIẢ

Phạm: Buddha.

Cũng gọi Giác, Tri giả.

Bậc Thánh đã trừ diệt hết mê vọng phân

biệt, có đại từ bi, đại trí tuệ, tự giác, giác tha,

giác hạnh viên mãn.

Đại thừa nghĩa chương quyển 20 phần

cuối (Đại 44, 864 hạ), nói: “Đã tự mình giác

ngộ, lại hay giác ngộ cho người, giác hạnh

trọn đủ, cho nên gọi là Phật. Nói tự giác để

GIÁC GIẢ

 

G

1938

phân biệt với phàm phu, nói giác tha để phân

biệt với Nhị thừa, nói giác hạnh trọn đủ để

phân biệt với Bồ tát”.

[X. kinh Tạp a hàm Q.12; luận Đại trí

độ Q.70; luận Câu xá Q.25].

GIÁC HẢI

Chỉ cho cảnh giới giác ngộ.

Tính giác rất sâu thẳm, vắng lặng như

biển, nên gọi là Giác hải.

Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm

quyển 6 (Đại 19, 130 thượng), nói: “Tính

biển giác lắng trong, tròn sáng, rất nhiệm

mầu”.

Giác hải cũng chỉ cho đạo Phật. Đạo

Phật là đạo giác ngộ, giáo nghĩa đạo Phật

sâu rộng như biển, cho nên gọi là Giác hải

(biển giác ngộ).

GIÁC HẠNH

Pháp hạnh tự giác, giác tha.

Tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn gọi

là Phật.

(xt. Giác Giả).

GIÁC HOA

I. Giác Hoa.

Danh hiệu của chư Phật ở thời quá khứ.

Cứ theo luận Đại trí độ quyển 40 chép,

thì ở kiếp Hoa tích, chư Phật đều có hiệu là

Giác hoa.

II. Giác Hoa.

Giác tức là trí tuệ, trí tuệ khai phát như

hoa nở rộ, cho nên gọi là Giác hoa. Ví dụ

cho Chân giác.

Kinh Trường a hàm quyển 3 (Đại 1,

21 thượng) ghi: “Tôn giả A nan bạch đức

Phật rằng: ‘Bạch đức Thế tôn! Thế nào là

cúng dường?’. Đức Phật dạy: ‘Lãnh thụ

giáo pháp mà có thể tu hành đúng như pháp

thì hoa giác ngộ khai phát: Đó là cúng

dường’.”

GIÁC HÙNG

…..

Cũng gọi Thế hùng, Phạm hùng.

Danh từ tôn xưng đức Phật.

Nghĩa là trên con đường giác ngộ có uy

lực mạnh mẽ như người anh hùng, nên gọi

là Giác hùng.

Minh giác thiền sư ngữ lục quyển 5 (Đại

47, 698 trung), nói: “Đông tây tung hoành,

phải để võng tượng gặp võng tượng, bậc giác

hùng đối diện giác hùng”.

GIÁC KIẾM

…..

Thanh gươm giác ngộ.

Sức mạnh của trí giác ngộ như lưỡi gươm

sắc bén, có thể chặt đứt lưới tà chấp, vọng

kiến.

Ngoài ra, những ví dụ tương tự như hình

dung quả đức diệu giác của Phật cao như

núi, thì gọi là Giác sơn, tính giác viên dung,

xoay chuyển không ngừng, giống như bánh

xe, thì gọi là Giác luân.

GIÁC KIÊN

Sự bền vững của cái biết. Tức chỉ cho

quả diệu giác của Biệt giáo. Là một trong

sáu Kiên pháp.

Hành giả tu đến giai vị này thì biết rõ tất

cả pháp đều là trung đạo, cái biết ấy bền

vững, không gì phá hủy được.

[X. Tam tạng pháp số Q.26]. (xt. Lục Kiên

Pháp).

GIÁC LIỄU

…..

Biết rõ suốt sự lí. Tức chỉ sự chứng ngộ

chân lí đạo Phật.

Kinh Lăng nghiêm quyển 5 (Đại 19, 127

GIÁC LIỄU

 

G

1939

hạ), nói: “Bấy giờ tôi quán thế giới an lập,

quán thế giới động, quán thân động, bất động

(…) các động không hai, bình đẳng không

sai khác. Lúc đó tôi biết rõ (giác liễu) các

tính động ấy, chẳng từ đâu đến, cũng không

đi đâu”.

[X. kinh Chính pháp hoa Q.9; Phật sở

hành tán Q.4; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; kinh

Lăng nghiêm Q.1].

GIÁC LỰC (1881-1933)

…..

Người Hạ môn, tỉnh Phúc kiến, họ Lâm,

pháp danh Phục nguyện, tự Viên thông, hiệu

Giác lực.

Năm 19 tuổi,

sư làm lễ y vào

Hòa thượng Vạn

thiện xuất gia ở

chùa Dũng

tuyền tại Cổ sơn

(núi Trống). Sư

theo ngài Bản

trung học tập

giới luật, rồi theo

ngài đến Nam

dương hoằng

pháp. Năm 29

tuổi, sư đến Đài loan, trụ ở chùa Lăng vân

thiền tại Đài bắc, Sau sư trở về đảm nhiệm

chức Thủ tọa chùa Dũng tuyền. Năm 33

tuổi, nhận lời thỉnh cầu của tín chúng, sư

lại ra Đài loan sáng lập chùa Pháp vân thiền

ở Đại hồ, Miêu lật, thiện tín đến xin qui y

sư rất đông. Sư theo thể chế tùng lâm, hành

trì thanh qui Bách trượng, thành lập hội

Phật học, mở viện Nghiên cứu để bồi dưỡng

tăng tài và xúc tiến sự nghiệp từ thiện xã

hội. Từ đó, Phật sự phát triển mạnh và đồ

chúng trong chùa thường có hơn 200 người.

Năm 37 tuổi, sư cùng với hai sư Thiện tuệ và

Tâm nguyên sáng lập “Đài loan Phật giáo

Trung học lâm” (tiền thân của trường Trung

học Thái bắc) ở Đài bắc.

Sư tu hành nghiêm cẩn, quá ngọ không

ăn, đêm tọa thiền và giáo hóa mọi người tu

tập. Sư ở Đài loan 20 năm hoằng dương Phật

pháp, bảy lần mở đàn truyền giới, đệ tử nối

pháp ở khắp Đài loan. Đối với công cuộc

phát triển nền Phật giáo ở Đài loan, sư đã

có những đóng góp rất to lớn.

GIÁC MA TỬ

……..

Danh từ chỉ người đàn bà, con gái xuất

gia của Phật giáo Tây tạng.

Theo Tây tạng tân chí thì dân Tây tạng

rất sùng tín Phật giáo, có rất nhiều đàn bà,

con gái xuất gia. Đàn ông, con trai xuất gia

gọi là Lạt ma, còn đàn bà, con gái thì gọi là

Giác ma tử (như Tỉ khưu ni). Hiện nay có

tới năm, sáu vạn Giác ma tử. Con gái nhà

hào phú Cát bố luân cũng xuất gia làm Giác

ma tử.

GIÁC MÃN

…..

Gọi đủ: Giác hạnh viên mãn.

Chỉ cho sự tự giác, giác tha, giác hạnh

viên mãn của đức Phật.

Đại thừa nghĩa chương quyển 20 phần

cuối (Đại 44, 864 hạ), nói: “Đã tự mình giác

ngộ, lại hay giác ngộ người khác, giác hạnh

trọn đủ nên gọi là Phật”.

(xt. Giác Hạnh).

GIÁC MẪU

…..

Cũng gọi Phật mẫu.

I. Giác Mẫu.

Chỉ cho bồ tát Bát nhã. Vị Bồ tát này là

mẹ của chư Phật 3 đời, nên gọi là Giác mẫu.

Bát nhã tâm kinh bí kiện (Đại 57, 11

thượng), nói: “Giác mẫu, tiếng phạm nghĩa

là Điều ngự sư”.

Tu tập bát nhã quĩ (Đại 20, 612 thượng),

GIÁC MẪU

Giác Lực

 

G

1940

ghi: “Vào tam ma địa Du già của Bản tôn,

quán tưởng thân mình là Bát nhã ba la mật

Phật mẫu”.

II. Giác Mẫu.

Đức hiệu của bồ tát Văn thù.

Trong hai môn Lí và Trí, thì bồ tát Văn

thù chủ về môn trí tuệ, mà chư Phật đều từ

trí tuệ sinh ra, cho nên bồ tát Văn thù được

gọi là Giác mẫu.

[X. kinh Tâm địa quán Q.3].

III. Giác Mẫu.

Chỉ cho sự tu hành và trí tuệ.

Tu hành và trí tuệ là nhân của sự thành

Phật, cho nên được gọi là Giác mẫu.

GIÁC NGẠN

…..

I. Giác Ngạn(bờ giác).

Mê ví như biển cả, giác ví như bến bờ.

Phá mê mà được giác ngộ thì gọi là Đăng

giác ngạn (lên bờ giác). Tức phổ thông gọi là

Niết bàn, Bỉ ngạn.

II. Giác Ngạn(1286-?).

Vị cao tăng sống vào đời Nguyên, người

Ô trình (Ngô hưng) tỉnh Chiết giang, họ

Ngô, hiệu Bảo châu.

Ngài trụ trì chùa Bảo tướng tại Ô trình.

Ngài học rất rộng thông suốt cả nội, ngoại

điển, nghiên cứu sâu xa ý chỉ Thiền tông.

Trong năm Chí chính (1341-1367), ngài

soạn bộ Thích thị kê cổ lược, 4 quyển, theo

thể biên niên, ghi chép sự tích của Phật và

truyện kí của các bậc cao tăng đại đức, sự

hưng phế của các chùa tháp, sự tăng giảm

của chúng tăng từ thời đức Phật trở về sau,

rất chi tiết, rõ ràng.

[X. Tục thích thị kê cổ lược Q.1; Tứ khố

toàn thư tổng mục Q.145].

GIÁC NGỌA PHẬT

Tượng đức Phật.

Giác ngọa, tiếng Tây tạng nghĩa làVương

tử, được dùng để gọi đức Phật Thích ca mâu

ni với ý vương tử của vua Tịnh phạn.

Tương truyền pho tượng này được tạc

theo thân lượng của đức Phật Thích ca mâu

ni lúc Ngài lên 12 tuổi và được công chúa

Văn thành đời Đường mang đến Tây tạng,

hiện vẫn còn thờ trong điện chùa Đại chiêu

tại thủ đô Lhasa.

GIÁC NGỘ

…..

Tỉnh biết, hiểu rõ. Tức thể hội chân lí,

khai phát chân trí.

Cứ theo kinh Lăng già a bạt đa la bảo

quyển 2, thì giác ngộ là không và vô sinh

vốn là một, lìa tướng của tự tính.

Kinh Hoa nghiêm (60 quyển) quyển 7

(Đại 9, 437 trung), nói: “Phóng ánh sáng gọi

là thấy Phật, ánh sáng ấy giác ngộ người mệnh

chung, niệm Phật tam muội ắt thấy Phật, sau

khi mệnh chung được sinh về nước Phật”.

Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển

trung (Đại 44, 258 trung, nói: “Trụ ở tướng

thô niệm mà được giác ngộ, thì cũng như

trong mộng thấy các tướng, giác đạo chưa

viên mãn”.

Do đó, có thể biết giác ngộ có tự lực giác

ngộ và nhờ tha lực mà giác ngộ khác nhau, và

trình độ giác ngộ cũng có sâu, cạn bất đồng.

[X. kinh Hoa nghiêm Q.6 (60 quyển);

kinh Đại bát niết bàn Q.16 (bản Bắc).

GIÁC NGỘ TRÍ

……..

Tức là trí của Phật.

Vì trí Phật có thể thấu suốt tất cả các

pháp, cho nên gọi là Giác ngộ trí.

GIÁC QUÁN

…..

Dịch mới: Tầm tứ (tìm cầu, dò xét).

Giác nghĩa là tìm cầu suy tính, tức là suy

nghĩ về sự lí. Quán tức là tập trung tinh

GIÁC QUÁN

 

G

1941

thần mà tư duy về danh nghĩa của các pháp.

Giác quán làm trở ngại sự định tâm từ Nhị

thiền trở lên, nếu giữ liên tục tác dụng ấy

thì thân tâm mỏi mệt, chính niệm sai lạc,

cho nên giác quán là mộttrong những tùy

phiền não. Căn cứ vào giác quán mà có thể

phân biệt được sự cạn sâu của định.

Kinh Tạp a hàm quyển 21 (Đại 2, 150

thượng), nói: “Có giác, có quán, gọi là khẩu

hành”.

Lại nữa, giác và quán là nhân phát ra

ngôn ngữ, lìa tâm giác quán thì không có

ngôn ngữ.

Phẩm Đệ tử trong kinh Duy ma (Đại 14,

540 thượng), nói: “Pháp không có danh tự,

vì dứt bặt ngôn ngữ, pháp không có luận

thuyết, vì lìa giác quán”.

[X. luận Đại trí độ Q.23; Vãng sinh yếu

tập Q.trung phần đầu].

GIÁC QUÁN TAM CHỦNG PHÁT TƯỚNG

Ba trạng thái giác quán: Giác quán trong

trạng thái tỉnh táo, giác quán trong trạng

thái nửa tỉnh nửa mê, giác quán trong trạng

thái hoàn toàn mờ tối.

Ba trạng thái giác quán này được trình

bày trong Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp

môn quyển 4.

1. Giác quán trong trạng thái tỉnh táo:

Người tu thiền, kiếp trước không có căn lành,

nay tu tập thiền định, thiện pháp không sinh

khởi, mà giác quán thì theo duyên, niệm

niệm chẳng dừng; đối với ba độc, hoặc duyên

tham, hoặc duyên sân, hoặc duyên si, mà

những cảnh sở duyên ấy lại hiện ra rất rõ

ràng. Như thế thì dù tu tập trọn kiếp cũng

không đắc định.

2. Giác quán trong trạng thái nửa tỉnh

nửa mê: Người tu thiền, khi nhiếp tâm, tuy

biết rõ phiền não giác quán niệm niệm chẳng

dừng, nhưng tùy cảnh sở duyên, hoặc tỉnh

táo, hoặc mê tối. Tỉnh táo thì giác quán theo

duyên, khởi lên các mối tư tưởng rối bời,

còn mê tối thì lờ mờ vô kí, không rõ gì hết.

3. Giác quán trong trạng thái hoàn toàn

mờ tối: Người tu thiền khi tập định, trong

tâm tuy hoàn toàn mờ tối, giống như ngủ

say nhưng trong trạng thái mờ tối ấy, tâm

vẫn ngầm ngầm theo duyên nên giác quán

niệm niệm chẳng dừng.

GIÁC SÁCH

…..

Tỉnh biết và cảnh giác. Nghĩa là tỉnh biết

vọng tâm, cảnh giác phiền não.

[X. Ma ha chỉ quán Q.4 phần trên].

GIÁC SINH TỰ

Cũng gọi Đại chung tự (chùa chuông to).

Chùa ở ngoài thành An định tại Bắc

bình, Trung quốc, do vua nhà Thanh ra lệnh

xây cất vào năm Ung chính 11 (1733).

Chùa này tuy được kiến trúc đặc biệt rất

khác với những ngôi chùa khác, nhưng vẫn

còn giữ được phong cách kiến trúc của đầu

đời Minh. Trong chùa hiện còn giữ được

quả chuông lớn tên là Hoa nghiêm, do vua

Thành tổ nhà Minh ban chiếu đúc tạo, vốn

để ở chùa Vạn thọ tại phía tây thành, nhưng

sau được dời về chùa này.

Chuông đúc theo hình bát giác, cao 6,9m,

vành chuông dày 22cm, đường kính 3,3m,

nặng 46,5 tấn. Mặt ngoài chuông đúc kinh

chư Phật Như lai Bồ tát Tôn giả danh hiệu

tập, kinh A di đà, chú Thập nhị nhân duyên.

Mặt trong chuông thì đúc kinh Diệu pháp

liên hoa, miệng chuông đúc kinh Kim cương

bát nhã, chỗ bồ lao (chỗ quai để treo) thì đúc

kinh Lăng nghiêm, tất cả gồm hơn hai trăm

chín mươi nghìn chữ, mỗi chữ 8cm2. Nét

chữ bụ bẫm, tương truyền do Trầm độ viết,

Đạo diễn trông coi việc đúc.

Chuông này là một trong những di vật

văn hóa nổi tiếng ở Bắc bình. Tiếng chuông

GIÁC SINH TỰ

 

G

1942

u trầm, vang dội, âm hưởng ngân xa, truyền

đi từ 15 đến 20 km. Cứ theo Trường an

khách thoại ghi chép, thì tiếng chuông ngân

vang, trầm hùng, khi xa khi gần, khác hẳn

với những quả chuông khác.

GIÁC TÂM

I. Giác Tâm.

Tâm bản giác linh diệu, tức là chân tâm

sẵn có tính Phật giác ngộ.

Kinh Viên giác (Đại 17, 914 thượng), nói:

“Tất cả chúng sinh huyễn hóa đều từ diệu

tâm viên giác của Như lai sinh ra, giống như

hoa đốm từ trong hư không sinh ra, rồi lại

diệt trong hư không, hoa đốm tuy diệt nhưng

tính hư không vẫn thường trụ. Tâm huyễn

của chúng sinh cũng thế, cùng hoại diệt theo

huyễn, các huyễn diệt hết, giác tâm không

động”.

II. Giác Tâm(1207-1298).

Vị tổ của phái Pháp đăng thuộc tông Lâm

tế Nhật bản, người Thần lâm nước Tín nùng,

họ Thường trừng, hiệu là Tâm địa.

Sư bẩm tính thông minh, 15 tuổi vào ở

chùa Thần cung, 19 tuổi xuống tóc, 29 tuổi

thụ giới Cụ túc ở chùa Đông đại.

Mùa xuân niên hiệu Kiến trường năm

đầu (1249), sư theo thương thuyền đến

Trung quốc, tới Kính sơn. Năm sau, sư đến

tham yết ngài Kinh tẩu giác và chiêm bái

các thánh địa như núi Tứ minh, Dục vương,

Ngũ đài v.v…

Mùa xuân niên hiệu Bảo hựu năm đầu

(1253), sư tình cờ gặp vị tăng đồng hương

tên Nguyên tâm mà được biết tiếng ngài

Vô môn Tuệ khai, rồi hai người cùng đến

tham vấn ngài và được tâm yếu. Sáu năm

sau, sư trở về nước, lần lượt ở các chùa Tây

phương, Hưng quốc, Thắng lâm v.v…

Thượng hoàng Qui sơn nghe đức độ của

sư, từng ba lần hạ chiếu thỉnh sư trụ trì

chùa Thắng lâm ở Lạc đông, và thân hành

đón sư vào cung để hỏi Phật pháp. Sau,

Qui sơn Thượng hoàng lại đổi chỗ ở của

mình làm Thiền thất để thỉnh sư trụ trì.

Nhưng sư không ưa cảnh đế kinh huyên

náo nên từ chối.

Tòa pháp của sư rất thịnh, người đến

thụ giáo thường tới hơn một nghìn người.

Sư thường dùng công án “Con chó có tính

Phật không” để tiếp dẫn người học.

Năm Vĩnh nhân thứ 6 (1298) sư tịch,

thọ 92 tuổi. Thượng hoàng Qui sơn ban thụy

hiệu “Pháp Đăng Thiền Sư”. Về sau, Thiên

hoàng Đề hồ lại ban thụy “Pháp Đăng Viên

Minh Quốc Sư”.

[X. Nguyên hanh thích thư Q.6; Diên

bảo truyền đăng lục Q.2].

GIÁC TÂM BẤT SINH TÂM

Biết rõ tâm mình xưa nay vốn thanh tịnh,

bất sinh bất diệt.

Tâm thứ 7 trong 10 trụ tâm do tông

Chân ngôn Nhật bản lập ra. Giác tâm bất

sinh tâm là chỉ cho cảnh giới “Bát bất trung

đạo” do tông Tam luận chủ trương. Còn

Tha duyên đại thừa tâm thứ 6 trong 10 trụ

tâm thì theo nghĩa của tông Pháp tướng, tức

bàn về cảnh không tâm có. Nhưng giai vị

Giác tâm bất sinh tâm thì lại tiến thêm bước

nữa đến tâm cảnh đều không; tức là tu chính

quán Bát bất, quán tâm thức cũng là duyên

sinh vô tính, bất sinh, bất diệt, bất đoạn,

bất thường, bất nhất, bất dị, bất khứ, bất

lai, nhờ quán xét như thế mà liễu ngộ sinh

tử Niết bàn, phiền não Bồ đề rốt ráo là

không, vì rốt ráo không nên biết rõ không

tức có, có tức không. Cũng tức là dùng

chính quán Bát bất trung đạo để chiếu rọi

vạn hữu, biết rõ tâm mình tịch tĩnh vắng

lặng, chẳng sinh chẳng diệt, gọi là Giác tâm

bất sinh tâm.

[X. luận Thập trụ tâm Q.7; Bí tạng bảo

thược Q.hạ]. (xt. Thập Trụ Tâm).

GIÁC TÂM BẤT SINH TÂM

 

G

1943

GIÁC THA

…..

Đối lại với Tự giác.

Phật có đức giác ngộ cho chúng sinh,

khiến thoát khỏi khổ sinh tử. Là một trong

3 giác.

(xt. Tam Giác).

GIÁC THÀNH

…..

I. Giác Thành.

Tâm giác ngộ không bị mê hoặc, phiền

não xâm nhập, nên được ví như bức tường

thành có thể ngăn chặn quân địch.

Kinh Viên giác (Đại 17, 920 thượng), nói:

“Tất cả các chúng sinh, đều do chấp ngã ái,

từ vô thủy lưu chuyển (…) yêu ghét sinh nơi

tâm, quanh co giữ nơi niệm. Vì thế nhiều

mê muội, không thể vào thành Giác”.

II. Giác Thành.

Chỉ cho thành Già da (Phạm: Gayà) ở

nước Ma yết đà thuộc Trung Ấn độ, là nơi

đức Thích ca thành chính giác.

[X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ

Q.thượng].

GIÁC THẾ TUẦN SAN

………..

Tạp chí văn hóa Phật giáo do Phật quang

sơn ở làng Đại thụ, huyện Cao hùng, Đài

loan phát hành.

Tạp chí này do ông Trương thiếu tề và

con trai là Trương nhược hư sáng lập vào

tháng 4 năm 1957, thỉnh Đại sư Tinh vân

làm Tổng biên tập. Từ năm 1962, Đại sư

Tinh vân tiếp tục phát hành và hiện nay

ngài giao cho pháp sư Từ huệ đảm nhiệm.

Mục đích của tạp chí này là phát huy văn

hóa dân tộc, tuyên dương giáo nghĩa Phật

giáo, giúp mọi người tạo dựng cuộc sống yên

vui. Qua hơn 20 năm, tạp chí này đã dần

dần trở thành môi trường chủ yếu truyền

bá Phật giáo, trao đổi văn hóa, được phổ

biến tại hơn 50 nước Đông nam á và Âu

Mĩ. Đây là tuần san Phật giáo bằng Hoa

văn có số lượng phát hành nhiều nhất và

hiệu quả hoằng dương Phật pháp lớn nhất

hiện nay.

GIÁC THIÊN

Phạm: Buddhadeva.

Dịch âm: Phật đà đề bà, Bột đà đề bà.

Học giả của Thuyết nhất thiết hữu bộ,

một trong 4 vị Đại luận sư của Bà sa hội,

chủ trương các pháp trong 3 đời (quá khứ,

hiện tại, vị lai) trước sau đợi nhau mà có

khác.

Luận Đại tì bà sa quyển 77 (Đại 27, 396

thượng ghi: “Thuyết nhất thiết hữu bộ có

bốn vị Đại luận sư, mỗi vị đều lập riêng

thuyếtBa đời có khác(…), Tôn giả Giác

thiên chủ trươngđợi(đãi) có khác”.

So với các Luận sư Tì bà sa khác, thì tư

tưởng ngài Giác thiên có tiến bộ hơn. Còn

các sự tích khác về ngài không được rõ.

[X. luận Đại tì bà sa Q.2, Q.19; luận Câu

xá Q.20].

GIÁC THIỀN SAO

……..

Cũng gọi Bách quyển sao, Tiểu dã bách

quyển sao, Tịnh độ viện sao, gồm 128 quyển,

do ngài Giác thiền thuộc tông Chân ngôn

Nhật bản soạn trong hơn 40 năm mới hoàn

thành.

Nội dung chia ra chín bộ: Chư Phật bộ,

Phật đính bộ, Chư kinh bộ, Quan âm bộ,

Văn thù bộ, Bồ tát bộ, Minh vương bộ,

Thiên đẳng bộ và Tạp tập bộ. Trong đó,

soạn giả ghi chép và tường thuật rất chi

tiết về các tôn pháp, kinh pháp cùng với

các hình vẽ chư tôn và đàn tu pháp v.v…

Đây là tác phẩm nổi tiếng về nghiên cứu

sự tướng của Đông Mật.

GIÁC THIỀN SAO

 

G

1944

[X. Chư tông chương sớ lục Q.3; Kim

cương đính vô thượng chính tông truyền

đăng quảng lục tục biên Q.5].

GIÁC THỤ

I. Giác Thụ(cây Giác ngộ).

Cũng gọi Phật thụ, Đạo thụ.

Cây Tất ba la (Phạm:Pippala). Đức Phật

đã thành chính giác (bồ đề) dưới gốc cây

này, cho nên nó được gọi là cây Giác, hoặc

cây Bồ đề (Phạm: Bodhi-druma).

(xt. Bồ Đề Thụ).

II. Giác Thụ.

Chỉ cho thiện căn công đức.

Nhờ thiện căn công đức mà người ta có

thể thành chính giác, nên nó được ví dụ là

Giác thụ.

GIÁC TÍNH (1575-1660)

…..

Vị tăng Triều tiên sống vào đời Lí, họ

Kim, tự Trừng viên, hiệu Bích nham.

Năm lên 9 tuổi, sư mồ côi cha, năm 14

tuổi xuất gia thờ ngài Tuyết mặc làm thầy.

Sau, sư theo ngài Phù hưu Thiện tu vào

núi Tục li, rồi đi chiêm bái các danh sơn

Đức dụ, Già da, Kim cương v.v… Khi Phong

thần Tú cát của Nhật bản xâm lăng Triều

tiên, sư từng cầm gươm theo thầy chiến đấu

ở trên biển.

Năm 1592, sư an cư và giảng kinh ở am

Thất Phật. Năm sư 39 tuổi, mẹ mất, sư tịnh

tâm cần tu khổ hạnh ở am Ca diếp trong

núi Tục li. Từ đó, đạo phong của sư ngày

càng cao, người đến theo học rất đông, sư

bèn soạn ba châm ngôn để răn dạy môn

đồ. Đó là: “Không suy nghĩ bậy, không thẹn

với người và không luồn cúi người”. Sư có

rất nhiều đệ tử, trong đó có hai vị vượt

trội hơn cả là Thúy vi Thủ sơ và Bạch cốc

Xử năng.

Niên hiệu Hiển tông năm đầu (1660) sư

tịch, thọ 86 tuổi. Sư có các trứ tác: Thiền

nguyên tập đồ trung quyết nghi, Khán thoại

quyết nghi, Thích môn tang nghi sao.

Về sau, môn đình của sư chia ra tám phái:

Thúy vi, Bạch cốc, Chẩm hư, Cô vân, Mộ

vân, Đông lâm, Liên hoa và Bích xuyên.

GIÁC TÔNG (1095-1143)

Danh tăng Nhật bản, là tổ khai sáng tông

Chân ngôn tân nghĩa. Người Phì tiền (huyện

Tá hạ), hiệu Chính giác phường.

Năm 14 tuổi, sư vào chùa Nhân hòa theo

học ngài Khoan trợ, Định khoan. Sau, sư

đến Nam đô theo ngài Tuệ hiểu ở viện Hỉ

đa học Duy thức, rồi lại theo ngài Giác thụ

ở viện Đông nam học Tam luận.

Niên hiệu Thiên vĩnh năm đầu (1110),

sư trở về chùa Nhân hòa, y vào ngài Khoan

trợ xuất gia. Niên hiệu Vĩnh cửu năm đầu

(1113), sư lại đến Nam đô nghiên cứu áo

chỉ tính tướng, năm sau, sư thụ giới Cụ túc

ở chùa Đông đại, rồi lên núi Cao dã tham

yết ngài Minh tịch ở viện Tối thiền và được

truyền mật ấn. Năm Bảo an thứ 2 (1121),

sư lại trở về chùa Nhân hòa thụ giới Tam

muội da và pháp Quán đính bí mật của

Kim cương giới và Thai tạng giới. Rồi sư

đến chùa Đề hồ yết kiến ngài Hiền giác ở

viện Lí tính, được truyền pháp Quán đính

của năm bộ.

Niên hiệu Thiên thừa năm đầu (1131),

sư tâu vua xin

xây dựng viện

Đại truyền

pháp ở núi

Cao dã (sau trở

thành chùa

Ngự nguyện

của Thượng

hoàng Điểu

vũ). Năm

Trường thừa

GIÁC TÔNG

Giác Tông

 

G

1945

thứ 3 (1134), sư nhận chức Tọa chủ viện

Đại truyền pháp, kiêm tọa chủ chùa Kim

cương phong. Sau, sư từ chức Tọa chủ lui

về ở viện Mật nghiêm, chuyên tu Mật

quán.

Năm Khang trị thứ 2 (1143), sư tịch, thọ

49 tuổi.

Năm Nguyên lộc thứ 3 (1690), sư được

truy tặng thụy hiệu “Hưng Giáo Đại Sư”.

Những tác phẩm của sư gồm có: Ngũ luân

cửu tự bí thích, Hiếu dưỡng tập, Nhất kì đại

yếu bí mật tập (đều được thu vào Hưng giáo

đại sư toàn tập, 5 tập).

[X. Đại truyền pháp viện Bản nguyện

thượng nhân ngự truyện; Soạn tập sao Q.6;

Bản triều cao tăng truyện Q.12].

GIÁC UYỂN

…..

I. Giác Uyển.

Vườn giác ngộ, chỉ cho Tịnh độ của Phật,

hoặc chỉ cho tâm.

Trong thơ của sư Thanh củng nhàn có

câu:

“Ruộng tâm nhổ sạch cỏ vô minh

Vườn giác nở bừng hoa trí tuệ”.

II. Giác Uyển.

Vị tăng đời Liêu, người Sơn tây, hiệu

Bằng kì.

Sư trụ ở chùa Viên phúc tại Yến kinh,

thông suốt kinh điển, đặc biệt chuyên pháp

Tam mật. Sư từng theo Tam tạng Ma ni

người Tây thiên trúc nghiên cứu tinh nghĩa

Du già, được vua mời giảng kinh điển Mật

thừa. Sư được người đời sùng kính vì đã có

công hoằng dương Mật giáo.

Năm Thái khang thứ 3 (1077) đời vua

Đạo tông, sư phụng chiếu soạn Đại nhật kinh

nghĩa thích diễn mật sao 10 quyển, được

thu vào Vạn tục tạng tập 37. Sau khi hoàn

thành bộ sách, sư được ban áo đỏ và hiệu

“Tổng Bí Đại Sư”.

Năm sinh năm mất của sư không được rõ.

GIÁC VẬN (953-1007)

…..

Cũng gọi Đàn na tăng đô, Đàn na tăng

chính, Đàn na viện tiên đức.

Vị danh tăng thuộc tông Thiên thai Nhật

bản, người Kinh đô (Kyoto), tổ khai sáng

dòng Đàn na. Sư xuất gia ở núi Tỉ duệ, thờ

ngài Từ huệ Tăng chính làm thầy, học tập

giáo nghĩa Thiên thai. Sư thiên tư dĩnh ngộ,

thông suốt kinh sớ các tông, sau sư ở viện

Đàn na Đông tháp Nam cốcmở trường giảng

kinh thuyết pháp. Sư cùng với sư Nguyên

tín ở viện Huệ tâm, tuy đều lấy niệm Phật

làm tông chỉ, nhưng thành lập dòng Đàn na

và dòng Huệ tâm khác nhau và cùng nổi

tiếng một thời.

Sư từng tu Mật giáo và được ngài Thành

tín thượng nhân truyền pháp Quán đính.

Sau khi ngài Thành tín tịch, sư lại theo sư

Trì thượng Hoàng khánh nghiên cứu tu tập

và thấu suốt yếu chỉ sâu xa. Lúc đó, sư Hoàng

khánh chưa đầy 30 tuổi mà sư đến cầu học

nên người đời rất thán phục sư có tinh thần

“bất sỉ hạ vấn”.

Năm Trường bảo thứ 5 (1003), sư nhận

chức Thiếu tăng đô, năm sau, thăng chức

Đại tăng đô. Năm Khoan hòa thứ 4 (1007),

sư tịch, thọ 55 tuổi.

Sư để lại các trứ tác: Quán tâm niệm Phật,

luận Thảo mộc thành Phật, Từ huệ Đại tăng

chính truyện.

[X. Tục bản triều vãng sinh truyện; Phù

tang lược kí Q.28; Đông quốc cao tăng

truyện Q.5].

GIÁC VỊ

Giai vị chính giác, tức là quả vị Phật.

GIÁC VIÊN (1244-1306)

Vị Thiền tăng đời Nam Tống, người Tây

GIÁC VIÊN

 

G

1946

thục (Thành đô, Tứ xuyên), hiệu Kính

đường, là tổ khai sáng phái Kính đường, một

trong 24 Thiền phái thuộc tông Lâm tế của

Nhật bản.

Lúc ít tuổi, sư đã tham học nhiều bậc

danh đức, sau tham yết ngài Hoàn khê Duy

nhất thuộc phái Dương kì tông Lâm tế mà

đốn ngộ huyền cơ.

Năm Tường hưng thứ 2 (1279), sư cùng

với ngài Vô học Tổ nguyên sang Nhật bản

hoằng pháp ở chùa Thiền hưng, được Bắc

điều Thời tông sùng kính. Không bao lâu,

sư dời về chùa Tịnh trí, rồi lại khai sơn chùa

Hưng đức ở Áo châu, sau đó, sư lần lượt trụ

ở các chùa Viên giác, Kiến trường v.v… Năm

Chính an thứ 2 (1300), sư trụ trì chùa Kiến

nhân tại Kinh đô (Kyoto) bảy năm.

Tháng 9 niên hiệu Đức trị năm đầu

(1306), sư tịch, thọ 63 tuổi, sắc thụy “Đại

Viên Thiền Sư”. Trước khi tịch, sư để lại

bài kệ:

Giáp tí lục thập tam

Vô pháp dữ nhân thuyết

Nhậm vận tự khứ lai

Thiên thượng duy nhất nguyệt.

Tạm dịch:

Giáp tí, sáu mươi ba

Không pháp nói cho người

Mặc ý tự đi, đến

Trên trời, vừng trăng cao.

Đệ tử nối pháp có các vị: Vô vân Nghĩa

thiên, Nguyệt đường Viên tâm, Bá sư Tổ

lăng v.v… Rất tiếc nay đã tuyệt truyền thừa.

Sư có tác phẩm: Tứ hội ngữ lục 3 quyển.

[X. Đại viên thiền sư truyện; Nguyên

hanh thích thư Q.7; Diên bảo truyền đăng

lục Q.3].

GIÁC VỰC PHÁI

Tạng:Good-yulpa.

Một trong những giáo phái của Phật giáo

Tây tạng.

Giác nghĩa là có thể đoạn trừ; Vực nghĩa

là đối tượng.

Phái này chủ trương tâm bồ đề từ bi và

tính không có khả năng đoạn trừ khổ não

của kiếp người và nguồn gốc của tử vong.

Giáo pháp của phái này do ngài Đan ba tang

kết, người Ấn độ, truyền vào Tây tạng. Về

sau, phái này được sáp nhập vào một giáo

phái khác.

GIÁC VƯƠNG

Cũng gọi Giác hoàng, Giác đế.

Là chúa trong các bậc giác ngộ. Danh từ

tôn xưng đức Phật.

Vì đức Phật giác ngộ chân tính của tất cả

các pháp, đầy đủ tự giác, giác tha, giác hạnh

viên mãn nên gọi là Giác. Vì giác là chủ của

tất cả pháp môn, tối thắng tự tại, ở trên các

bồ tát Đẳng giác, cho nên gọi là Vương.

Đại tuệ phổ giác thiền sư ngữ lục quyển

27 (Đại 47, 929 thượng), nói: “Phật là Giác,

vì Ngài thường giác nên gọi Đại giác, cũng là

Giác vương”.

[X. Kinh Phật bản hạnh tập Q.2; Tông

kính lục Q.30, Vạn thiện đồng qui tập Q.6].

GIÁC XÚC

…. .

Giác là nhận biết, Xúc là tiếp xúc, va

chạm. Nghĩa là do tiếp xúc mà nhận biết.

Ngoài ra, khi ngồi thiền, do tiếp xúc với

cơ duyên mà cảm nhận được thể chân thực

của tự tâm, cũng gọi là Giác xúc.

[X. Chương Đệ tứ tổ Ưu bà cúc đa tôn

giả trong Oánh sơn hòa thượng truyền

quang lục].

GIÁC Ý TAM MUỘI

………..

Nghĩa là trong tất cả thời gian, tất cả

trường hợp, hễ niệm khởi liền biết, ý khởi

liền tu tam muội. Đây là Phi hành phi tọa

GIÁC Ý TAM MUỘI

 

G

1947

tam muội, quan trọng nhất trong bốn loại

tam muội do tông Thiên thai lập ra.

Kinh Đại phẩm bát nhã gọi là Giác ý

tam muội, ngài Tuệ tư thì gọi là Tùy tự ý

tam muội.

[X. Ma ha chỉ quán Q.2 phần trên; Tứ

giáo nghi Q.11]. (xt. Tứ Chủng Tam Muội).

GIẢI

I. Giải.

Đối lại với Tín, Chứng.

Do suy tư về lí của các sự vật mà hiểu

biết gọi là Giải. Ngoài ra, nhận hiểu gọi là

Lãnh giải; tin hiểu gọi là Tín gải; tâm ý khai

ngộ gọi là Ngộ giải, Liễu giải, Khai giải; thẩm

xét rõ ràng quyết định gọi là Thắng giải, Tuệ

giải, hiểu nghĩa gọi là Nghĩa giải.

II. Giải.

Cũng gọi Giải trạng, Giải văn.

Tiếng dùng trong các cơ quan hành chính

tại Nhật bản. Nghĩa là những văn thư, đơn

từ do cấp dưới trình lên cấp trên, nhưng về

sau, danh từ này không phải chỉ dùng riêng

trong các cơ quan hành chính nhà nước,

mà được sử dụng chung trong tất cả các thần

xã và tự viện.

GIẢI CẢNH THẬP PHẬT

Cũng gọi Giải cảnh thập thân, Dung tam

thế gian thập thân.

Đối lại với Hành cảnh thập Phật.

Khi hàng bồ tát Viên giáo Hoa nghiêm

dùng trí giải chân thực chiếu rọi pháp giới,

thì các Ngài thấy vạn hữu vạn pháp đều là

thân Phật, được chia làm 10 loại gọi chung

là Giải cảnh thập Phật, hoặc Giải cảnh thập

thân, Dung tam thế gian thập thân.

Cứ theo phẩm Thập địa trong kinh Hoa

nghiêm quyển 26 (bản dịch cũ), thì thập

thân là:

1. Chúng sinh thân: Chúng sinh thế gian.

2. Quốc độ thân: Quốc độ thế gian.

3. Nghiệp báo thân: Nhân duyên hoặc,

nghiệp cảm thụ hai thân trên.

4. Thanh văn thân: Quả vị Thanh văn.

5. Bích chi phật thân: Quả vị Duyên giác.

6. Bồ tát thân: Hàng Bồ tát cầu quả Phật.

7. Như lai thân: Bậc đã hoàn thành quả

Phật.

8. Trí thân: Trí tuệ của hàng Tam thừa

và Phật.

9. Pháp thân: Lí pháp do thân Trí, thân

Pháp khai ngộ.

10. Hư không thân: Chỗ nương của 10

thân trên đều là không.

[X. Thập địa kinh luận Q.10]. (xt. Hành

Cảnh Thập Phật).

GIẢI ĐÃI

Phạm: Kausìdya.Pàli: Kusìta.

Cũng gọi Đãi. Đối lại với Cần (siêng năng).

Lười biếng. Tên tâm sở. Một trong 75

pháp của Câu xá, một trong 100 pháp của

Duy thức.

Ngoài ý nghĩa biếng nhác không chịu tu

thiện hạnh, Giải đãi còn hàm có nghĩa tích

cực làm điều ác.

Luận Thành duy thức quyển 6 (Đại 31,

34 trung), nói: “Thế nào là giải đãi? Nghĩa là

lười biếng, không chịu tu thiện, đoạn ác. Lười

biếng là tính làm chướng ngại sự tinh tiến.

Tính lười biếng còn tăng trưởng sự ô nhiễm,

cho nên, người siêng năng làm các việc ô

nhiễm cũng gọi là giải đãi”.

Còn cứ theo kinh Bồ tát bản hạnh quyển

thượng, thì tính lười biếng là nguyên nhân

của sự tổn hại: Người tại gia lười biếng thì

áo, cơm thiếu thốn, sản nghiệp không có;

người xuất gia lười biếng thì không thể thoát

li được sinh tử. Tông Câu xá cho Giải đãi là

một trong các loại tâm sở(Đại phiền não địa

pháp) do tất cả tâm ô nhiễm(tâm bất thiện và

tâm hữu phú vô kí) sinh khởi. Tông Duy thức

GIẢI ĐÃI

 

G

1948

thì cho Giải đãi là một trong 20 Tùy phiền

não. Cả hai tông đều cho rằng tính lười biếng

có tự thể riêng của nó, nên dùng tính siêng

năng (tinh tiến) để đối trị.

[X. luận Câu xá Q.4; luận A tì đạt ma

thuận chính lí Q.11; luận Thành duy thức

Q.6; Câu xá luận quang kí Q.4; Thành duy

thức luận thuật kí Q.6 phần dưới; Thích thị

yếu lãm Q.trung].

GIẢI ĐÃI CANH GIẢ KINH

Gọi đủ: Phật thuyết giải đãi canh giả kinh.

Có 1 quyển, do ngài Huệ giản dịch vào

đời Lưu Tống thuộc Nam triều, thu vào Đại

chính tạng tập 17.

Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật

nói cho người cày ruộng (canh giả) nghe về

những tổn hại của sự lười biếng. Người ấy

nghe xong, sinh lòng hối hận, liền được quả

vị không chuyển lui.

GIẢI ĐÃI TẶC

Giặc lười biếng.

Vì lười biếng có thể cướp đi sự siêng năng

làm điều thiện, dứt việc ác, cho nên được ví

như giặc cướp.

Luận Đại trí độ quyển 15 (Đại 25, 173

trung), nói: “Trong tất cả các thứ giặc, không

giặc nào hơn giặc lười biếng”.

GIẢI GIỚI

I. Giải Giới.

Trước khi tu pháp phải kết giới tràng,

gọi là Kết giới, khi tu xong thì giải trừ giới

tràng, gọi là Giải giới.

Trong luật có: Nhiếp tăng giới, Nhiếp y

giới, Nhiếp thực giới. Ba giới này, khi kết

khi giải đều có tác pháp yết ma. Tác pháp

giải giới cũng y theo tác pháp kết giới, nhưng

thứ tự thì trái với lúc kết giới. Nghĩa là, khi

giải giới, phải giải tiểu giới trước, rồi mới

giải đại giới sau. Trong đại giới nếu có giới

tràng thì trước phải giải giới tràng, rồi sau

mới giải đại giới. Ngoài ra, trong ba giới nói

trên, thì hai giới Nhiếp tăng và Nhiếp y đều

giải ở trong giới tướng, riêng giới Nhiếp thực

thì giải ở ngoài giới tướng.

[X. luật Tứ phần Q.35; luật Thập tụng

Q.23; luật Ngũ phần Q.18; Tứ phần luật

hành sự sao tư trì kí Q. hạ phần 1 tiết 1].

II. Giải Giới.

Giải trừ ấn và chú kết giới khi hành giả

Mật giáo kết thúc một pháp tu. Khi kết giới,

mỗi bài chú (chân ngôn) phải tụng ba lần,

nhưng khi giải giới thì chỉ tụng một lần cũng

được. Phương hướng của ấn và chú khi giải

giới hoàn toàn trái ngược với lúc kết giới.

Ngoài ra, khi giải giới, có phép tung hoa

để kính tiễn vị Bản tôn.

[X. Đại nhật kinh trì tụng thứ đệ nghi

quĩ; Kim cương giới niệm tụng nghi quĩ].

GIẢI HẠ

Cũng gọi Hạ cánh, Hạ mãn, Hạ giải, Tự

tứ nhật.

Giải chế hạ an cư.

Ở Ấn độ từ thời đức Phật còn tại thế,

cũng như tại các nước theo Phật giáo trong

thế giới hiện nay, hàng năm, đến mùa mưa,

thì chư tăng kết hạ an cư, khi mùa mưa

chấm dứt thì kết thúc an cư, gọi là Giải hạ.

Ngày giải hạ, theo luật cũ là ngày rằm

tháng 7, theo luật mới thì là rằm tháng 8.

Vào ngày này, chúng tăng tập họp, tự kiểm

điểm và bày tỏ lỗi lầm mình đã phạm trong

thời gian kết hạ an cư, cho nên, ngày này

cũng gọi là ngày Tự tứ.

Theo chương Ca hi na y trong luật Tứ

phần quyển 43, thì vào ngày kết thúc hạ an

cư, chúng tăng phải làm 4 việc, đó là Tự tứ,

Giải giới, Kết giới và Nhận áo công đức.

(xt. An Cư).

GIẢI HẠ

 

G

1949

GIẢI HẠ THẢO

Loại cỏ chư tăng tặng đàn việt trong ngày

giải hạ.

Vào ngày này, các vị tỉ khưu trải cỏ tranh

tươi làm tòa ngồi để thực hành phép giải hạ,

bắt chước đức Phật lúc thành đạo đã ngồi

trên tòa cỏ cát tường. Sau đó, đem cỏ cát

tường tặng đàn việt với ý nghĩa chia phần

phúc lành mà chư tăng đã tu hành được

trong thời kì kết hạ an cư.

Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 304

hạ), nói: “Nay, trong ngày giải hạ, chư tăng

dùng lụa mầu buộc một nhúm cỏ thuốc (ngờ

là cỏ tranh) tặng cho đàn việt, gọi là Giải hạ

thảo. Nay được biết, loại cỏ này đã được dùng

làm tòa ngồi của Ngũ phần pháp thân, gọi

là Cát tường thảo”.

GIẢI HÀNH

I. Giải Hành.

Gọi đủ: Trí giải và Tu hành.

Nhờ học tập mà hiểu biết giáo lí và tinh

tiến tu hành theo đúng sự hiểu biết ấy, gọi

là trí giải và tu hành.

Hiểu biết chân lí đạo Phật và thực hành

pháp tu quán tâm, cả hai làm nhân cho

nhau, trợ giúp lẫn nhau, gọi là Giải hành

tương ứng, Giải hành cụ túc, Khai giải lập

hạnh v.v… Giải và Hành sánh đôi giống

như hai cánh của con chim, như hai bánh

xe, không thể thiếu một. Cũng tức là

nương nơi giải(hiểu biết)mà phát ra hành,

nương nơi hành mà có thực giải (hiểu

đúng), Giải và Hành đều là phương pháp

học đạo, cho nên cũng gọi riêng là Giải học,

Hành học.

Trong pháp giải hành cùng tu, lại chia

ra:

1. Tương tu giải hành câu viên: Nương

vào giáo lí một niệm ba nghìn, phát ra sự

hiểu biết một niệm ba nghìn, rồi theo đó

mà tu hành pháp môn một niệm ba nghìn.

2. Tương tu giải viên hành tiệm: Không

thể phát ra trí hiểu biết một niệm ba nghìn,

thì trở lại tu hạnh Tiểu thừa, rồi dần dần

mới vào được lí thực tướng.

[X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng

quyết Q.5; Hán quang loại tụ Q.1].

II. Giải Hành.

Gọi đủ: Giải hành trụ.

Giai vị tu hành của Bồ tát trong Lục

chủng trụ.

GIẢI HÀNH ĐỊA

Phạm: Adhimukti-caryà-bhùmi.

Cũng gọi Giải hành trụ, Thắng giải hành

địa.

Giai vị bồ tát Tam hiền trước Thập địa,

chưa chứng lí chân như, nương theo sự liễu

giải mà tu hành. Là một trong Thất địa, một

trong Thập nhị trụ.

Giai vị này nhờ sự tư duy phương tiện

mà tu tập tất cả thiện căn, để tiến vào Sơ

địa.

[X. kinh Bồ tát địa trì Q.3; luận Thành

duy thức Q.9]. (xt Lục Chủng Trụ).

GIẢI HÀNH PHÁT TÂM

Sự phát tâm bồ đề của hàng Bồ tát từ

Thập hạnh đến Thập hồi hướng theo sự

hiểu biết về giáo lí mà tu hành. Là một

trong 3 loại phát tâm nói trong luận Đại

thừa khởi tín.

Bồ tát sau khi vào giai vị Thập trụ, dần

dần tích lũy công đức, vì sắp mãn kiếp A

tăng kì thứ nhất, nên ở trong pháp chân

như thâm giải hiện tiền, thuận theo pháp

tính, tu sáu hạnh Ba la mật, gọi là Giải

hành trụ phát tâm, tương đương với Giải

hành trụ được nói trong kinh Bồ tát địa trì

quyển 9.

GIẢI HÀNH PHÁT TÂM

 

G

1950

Khởi tín luận nghĩa kí quyển hạ phần

cuối (Đại 44, 278 thượng), nói: “Giải hành

phát tâm thuộc giai vị Thập hồi hướng và

Thập hạnh. Trong giai vị Thập hạnh có

thể hiểu pháp không, tùy thuận tu hành

Thập ba la mật, khi đã thuần thục liền phát

tâm hồi hướng mà tiến vào giai vị Thập

hướng, vì thế gọi là Giải hành phát tâm”.

[X. Thập địa kinh luận Q.2; Đại thừa

nghĩa chương Q.9].

GIẢI HỌC

Đối lại với Hành học.

Hiểu biết sâu rộng, học thông nội, ngoại

điển.

Ở phần Tán thiện nghĩa trong Quán kinh

sớ (Đại 37, 272 hạ), ngài Thiện đạo nói: “Nếu

muốn có học giải từ phàm đến Thánh cho

tới quả Phật, thì đều có thể học tất cả mà

không bị trở ngại”.

GIẢI HỔ TÍCH

Chỉ cho việc thiền sư Tăng trù đời Bắc

Tề dùng tích trượng chia gỡ hai con hổ đang

đấu nhau ra.

Cứ theo truyện Tăng trù trong Tục cao

tăng truyện quyển 16 chép, thì ngài Tăng

trù từng đến núi Tây vương ốc ở Hoài châu

tu tập thiền định, nghe tiếng gầm thét vang

dội cả núi rừng của hai con hổ đang giao

đấu, ngài bèn dùng tích trượng gỡ chúng ra,

rồi mỗi con đi một nơi.

Ngoài ra, truyện Đàm tuân trong Tục

cao tăng truyện quyển 16 (Đại 50, 559 trung)

cũng ghi: “Thiền sư Đàm tuân đi trong núi,

gặp hai con hổ đang mải miết đấu nhau,

ngài liền cầm gậy gỡ chúng ra và đứng giữa

phân giải rằng: “Cùng ở chốn núi rừng, lí

đáng các ngươi nên đoàn kết với nhau mới

phải. Thôi, mong rằng đường ai nấy đi. Hổ

cúi đầu tuân mệnh”.

Chứng đạo ca (Đại 48, 396 thượng), nói:

“Bát úp rồng, gậy gỡ hổ, hai chùm khoen

vàng kêu sang sảng”.

GIẢI KHÔNG

I. Giải Không.

Hiểu suốt tướng không của các pháp.

Trong số các vị đệ tử của đức Phật, ngài

Tu bồ đề là người giải không bậc nhất.

Kinh A la hán cụ đức (Đại 2, 831 hạ),

nói: “Trong hàng Thanh văn thường làm

việc bố thí, thì tỉ khưu Tu bồ đề là người

giải không bậc nhất”.

[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3; Chú Duy

ma cật kinh Q.3].

II. Giải Không(1092-?).

Danh tăng đời Tống, tên Khả quan, người

Hoa đình, tỉnh Giang tô, Trung quốc, tự

Nghi ông, hiệu Trúc am. Đệ tử nối pháp có

các sư: Bắc phong Tông ấn, Trí hành Thủ

mân, Thần biện Thanh nhất…

Tác phẩm: Lăng già thuyết đề tập giải bổ

chú 4 quyển, Sơn gia nghĩa uyển, Trúc am

thảo lục 1 quyển.

[X. Phật tổ thống kỉ Q.15, Q.25; Thích

môn chính thống Q.7]. (xt. Khả Quan).

GIẢI MẠN

I. Giải Mạn.

Không sốt sắng với công việc, hoặc là

lười biếng, ngạo mạn.

II. Giải Mạn.

Gọi đủ: Giải mạn giới.

Cũng gọi Giải mạn quốc.

Những người tu hành theo pháp môn

Tịnh độ cầu sinh về thế giới Cực lạc của đức

Phật A di đà, nhưng vì trễ nải, chưa tinh

tiến đúng mức, nên mới chỉ được sinh vào

cõi Giải mạn mà thôi.

[X. kinh Bồ tát xử thai Q.3]. (xt. Giải

Mạn Quốc).

GIẢI MẠN

 

G

1951

GIẢI MẠN BIÊN ĐỊA

Tức là Giải mạn giới, Biên địa.

Cõi phương tiện hóa độ ở giáp biên với

Tịnh độ cực lạc, là nơi thác sinh của những

người ngờ vực bản nguyện của đức Phật A

di đà, mà tu tạp hạnh.

Giải mạn giới được nói trong kinh Bồ

tát xử thai quyển 3, còn Biên địa thì được

đề cập đến trong kinh Vô lượng thọ quyển

hạ. Cứ theo hai kinh trên, thì cõi Giải

mạn ở về phía tây châu Diêm phù đề 12

ức na do tha, là nơi thác sinh của những

người biếng nhác. Còn Biên địa là cõi nước

ở bên cạnh Tịnh độ, những người sinh

vào cõi này, trong khoảng 500 năm không

được thấy Phật, nghe Pháp. Chân tông

Tịnh độ của Nhật bản cho rằng hai cõi

này cùng là một nơi, nên gọi chung là Giải

mạn biên địa.

GIẢI MẠN QUỐC

Cũng gọi Giải mạn giới.

Cõi nước thác sinh của những người

biếng nhác.

Cứ theo kinh Bồ tát xử thai quyển 3, thì

cõi nước Giải mạn cách châu Diêm phù đề

về phía tây 12 ức na do tha, khoảng giữa

đoạn đường đến nước Cực lạc của đức Phật

A di đà. Những người sinh vào cõi nước

Giải mạn đều tham nhiễm khoái lạc mà sinh

tâm biếng nhác, kiêu mạn, không chịu tinh

tiến cầu sinh về Tịnh độ, vì thế gọi là nước

Giải mạn.

Trong luận Thích tịnh độ quần nghi

quyển 4, ngài Hoài cảm đem thuyết này phối

với thuyết Chuyên tu và Tạp tu của ngài

Thiện đạo mà cho rằng người chuyên tu giữ

tâm bền chắc, thì sinh về Tịnh độ cực lạc,

còn người Tạp tu giữ tâm không bền chắc,

thì sinh vào cõi nước Giải mạn.

Ý của hai thuyết trên đây cho nước Giải

Mạn là hóa độ, những ai hoài nghi về trí

bất khả tư nghị của Phật, nương vào sức

thiện căn của chính mình tạp tu mà cầu

vãng sinh Tịnh độ của đức Phật A di đà,

thì sinh vào cõi này.

Chân tông Tịnh độ Nhật bản cho rằng

nguyện có chân và giả, cho nên cõi Phật cũng

theo đó mà có Chân độ và Hóa độ. Cõi Giải

mạn là hóa độ, là cõi nước thác sinh của

những người tu tập các công đức theo nguyện

thứ 19 của đức Phật A di đà.

[X. Hiển tịnh độ giáo hành chứng văn

loại Q.6; Vãng sinh yếu tập Q. hạ phần cuối].

GIẢI NGỘ CHỨNG NGỘ

Do lí giải chân lí mà hiểu biết, gọi là Giải

ngộ, cũng gọi Khai ngộ. Do tu hành thực

tiễn mà thể nhận được chân lí, gọi là Chứng

ngộ, cũng gọi là Ngộ nhập.

GIẢI THÂM MẬT KINH

Phạm: Saôdhinirmocana-sùtra.

Gọi tắt: Thâm mật kinh, gồm 5 quyển,

do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường,

thu vào Đại chính tạng tập 16.

Kinh này thuộc Đại thừa ở thời kì giữa.

Nội dung chia làm 8 phẩm:

1. Phẩm Tự(phẩm Tựa): Tường thuật

việc đức Phật khi ở cõi Thụ dụng, có 18 thứ

viên mãn, hiện ra 21 thứ công đức thành

tựu thân Thụ dụng, có vô lượng chúng Đại

Thanh văn và Đại Bồ tát tập hội để nghe

pháp.

2. Phẩm Thắng nghĩa đế tướng: Nói rõ

Chân như thắng nghĩa đế xa lìa tướng hữu,

vô của ngôn ngữ, vượt ra ngoài phạm vi hoạt

động của tầm (tìm tòi), tứ (suy xét), xa lìa

tướng đồng, dị của các pháp mà bao trùm

tướng nhất vị.

3. Phẩm Tâm ý thức tướng: Trình bày

GIẢI THÂM MẬT KINH

 

G

1952

về thức A đà na, thức A lại da, Nhất thiết

chủng tử tâm thức, tâm; đồng thời thuyết

minh về sự chuyển biến của các chủng tử

với 6 thức.

4. Phẩm Nhất thiết pháp tướng: Nói

rõ ba tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi và

Viên thành thực.

5. Phẩm Vô tự tính tướng: Nói về ba

thứ vô tự tính: Tướng vô tự tính, Sinh vô tự

tính, Thắng nghĩa vô tự tính cùng với ba

thời giáo.

6. Phẩm Phân biệt du già: Nói rõ về

hạnh chỉ quán, thuyết minh cái đối tượng

mà Thức duyên theo chỉ là cái do Thức biến

hiện ra.

7. Phẩm Địa ba la mật đa: Trình bày

10 địa và 10 hạnh Ba la mật đa.

8. Phẩm Như lai thành sở tác sự:

Thuyết minh tướng pháp thân của Như lai

và tác nghiệp hóa thân của Ngài.

Kinh này là một trong những bộ kinh

căn bản của Hành phái Du già, ngoại trừ

phẩm Tựa, 7 phẩm còn lại đều được rút ra

từ luận Du già sư địa quyển 75 đến 78, và

rất có ảnh hưởng đối với đời sau.

Những bản dịch khác của kinh này còn

có: Kinh Phật thuyết giải tiết 1 quyển, do

ngài Chân đế dịch vào thời Trần thuộc

Nam triều; kinh Thâm mật giải thoát 5

quyển, do ngài Bồ đề lưu chi dịch vào thời

Bắc Ngụy.

Kinh Biệt sinh thì có: Kinh Tương tục

giải thoát địa ba la mật liễu nghĩa 1 quyển

(tức phẩm thứ 7 trong bản dịch của ngài

Huyền trang) do ngài Cầu na bạt đà la dịch

vào thời Lưu Tống; kinh Tương tục giải

thoát Như lai sở tác tùy thuận xứ liễu nghĩa

1 quyển (tức phẩm thứ 8 trong bản dịch

của ngài Huyền trang); kinh Giải tiết 1

quyển (tức phẩm thứ 2 trong bản dịch của

ngài Huyền trang) do ngài Chân đế dịch

vào đời Trần.

Còn các bản chú sớ về kinh này nổi tiếng

hơn cả thì có: Giải tiết kinh sớ của ngài Chân

đế, Giải thâm mật kinh sớ 10 quyển của ngài

Viên trắc, Giải thâm mật kinh sớ 11 quyển

của ngài Linh nhân, Giải thâm mật kinh sớ

3 quyển của ngài Nguyên hiểu. Nhưng hiện

nay chỉ còn bản sớ của ngài Viên trắc.

[X. Lương cao tăng truyện Q.3; Lịch đại

tam bảo kỉ Q.10; Xuất tam tạng kí tập Q.2;

Khai nguyên thích giáo mục lục Q.5 đến

Q.8].

GIẢI THÂM MẬT KINH SỚ

Gồm 10 quyển, do ngài Viên trắc (613-

695) người Tân la soạn, thu vào Vạn tục

tạng tập 34, 35.

Đây là bản chú sớ duy nhất hiện còn

trong các bản chú sớ kinh Giải thâm mật

(Phạm: Saôdhinirmocana-sùtra, do ngài

Huyền trang dịch).

Nội dung trước hết trình bày một cách

khái quát về kinh Giải thâm mật, sau đó,

chia làm 4 môn.

1. Giáo hưng đề mục: Nói về lí do hưng

khởi của tư tưởng kinh Giải thâm mật, cũng

tức là thuyết minh đề kinh.

2. Biện kinh tông thể: Trình bày nội

dung tư tưởng của kinh này (tông chỉ sở

thuyên) và phương pháp diễn đạt (giáo thể

năng thuyên).

3. Hiển sở y vi: Nói rõ lập trường căn

cứ của kinh này: Trong 2 tạng, kinh này

căn cứ vào Bồ tát tạng; trong 3 tạng thì căn

cứ vào A tì đạt ma tạng; trong 12 thể tài

của kinh thì căn cứ vào Nghị luận kinh;

trong Ngũ giáo môn thì căn cứ vào Quán

hạnh môn.

4. Y văn chính thích: Y theo văn kinh

chú thích nghĩa lí, đây là phần trọng yếu và

lớn nhất trong bộ sớ này.

Bộ sớ này nguyên là văn Trung quốc, do

ngài Pháp thượng dịch ra tiếng Tây tạng

(được đưa vào Đại tạng kinh Tây tạng tập

GIẢI THÂM MẬT KINH SỚ

 

G

1953

106 bản Bắc kinh in ảnh). Về sau, nguyên

bản văn Trung quốc bị thiếu một phần,

được ngài Đạo diệp Chính tựu, người Nhật,

dịch lại từ bản văn Tây tạng để bổ sung

như cũ.

[X. Viên trắc Giải thâm mật kinh sớ chi

tán dật bộ phận đích nghiên cứu (Đạo diệp

Chính tựu)].

GIẢI THÍCH

Dẫn giải, chú thích rõ ràng văn nghĩa

trong kinh điển.

Theo luận Hiển dương thánh giáo quyển

13 (Đại 31, 544 hạ), thì nên dùng sáu loại

tương ứng để giải thích tất cả kinh Phật.

Đó là:

1. Vì hiểu biết tất cả pháp.

2. Vì xả bỏ phiền não, ác hạnh.

3. Vì tu tập các thiện hạnh.

4. Vì hiểu biết thông suốt các việc như:

Bệnh v.v…

5. Vì biết rõ quả báo.

6. Vì biết mình, người đều chịu quả báo.

Khi giải thích kinh điển, phần lớn các

nhà chú thích Trung quốc, trước hết, trình

bày đại ý của bộ kinh, kế đến, giải thích kinh

văn, gọi là Nhập văn giải thích. Ngoài ra,

khi giải thích kinh văn, tông Thiên thai

thường dùng bốn loại thích nghĩa: Nhân

duyên, Ước giáo, Bản tích và Quán tâm. Còn

tông Tam luận thì dùng bốn loại thích nghĩa:

Tùy danh, Tựu nhân duyên, Hiển đạo và

Vô phương.

Các tông phái ở Nhật bản, khi giải rõ về

tông nghĩa, thì tông Chân ngôn dùng bốn

loại giải thích: Thiển lược, Thâm bí, Bí trung

thâm bí và Bí bí trung thâm bí. Nói về tông

chỉ thì tông Nhật liên dùng hai loại giải thích:

Văn thượng và Văn để.

[X. luận Kim cương tiên Q.1; luận Thập

trụ tì bà sa Q.1; Di giáo kinh luận; Thắng tư

duy Phạm thiên sở vấn kinh luận].

GIẢI THOÁT

Phạm: Vimokwa (dịch âm: Tì mộc xoa,

Tì mục xoa) hoặcVimukti(dịch âm: Tì mục

để) hoặcMukti.

Pàli: Vimutta hoặc Vimokkha hoặc

Vimutti.

Cũng gọi Mộc xoa, Mộc để, Độ thoát,

Đắc thoát.

Hàm ý là cởi bỏ được sự trói buộc của

phiền não mà vượt thoát khỏi thế giới mê

muội khổ đau, nên cũng gọi là Độ thoát,

Đắc thoát. Nói theo nghĩa rộng, khi thoát

khỏi bất cứ sự trói buộc nào của thế gian

mà cảm thấy được tự do, tự tại, thì đều có

thể gọi là Giải thoát. Như thoát khỏi sự trói

buộc trong ba cõi Dục, Sắc, Vô sắc thì lần

lượt được gọi là: Dục triền giải thoát, Sắc

triền giải thoát, Vô sắc triền giải thoát. Nói

một cách rốt ráo, giải thoát là dứt tuyệt

nguyên nhân sinh tử, ra khỏi vòng nghiệp

báo luân hồi, vĩnh viễn an trụ trong cảnh

giới Niết bàn, Viên tịch.

Phật giáo vốn dùng Niết bàn và giải thoát

để biểu thị cảnh giới cùng tột của đạo, nhưng

về sau dần dần Giải thoát trở thành một

thứ phân loại để khảo cứu, như: Hữu vi giải

thoát(chỉ cho bậc A la hán-người được giải thoátcó

thể hiểu rõ tác dụng của tâm, tức Thắng giải)

và Vô vi giải thoát (Niết bàn), hoặc Tính

tịnh giải thoát(chỉ cho chúng sinh vốn có bản

tính thanh tịnh xa lìa phiền não) và Chướng

tận giải thoát(do phiền não hiện thực làm cho

bản tính thanh tịnh sẵn có bị nhơ nhớp, cho nên

nay đoạn trừ phiền não mà được giải thoát), hoặc

Tâm giải thoát(chỉ cho tâm lìa tham ái)và

Tuệ giải thoát(dùng trí tuệ quán chiếu mà xa

lìa vô minh), hoặc Tuệ giải thoát(bậc A la

hán chưa đến được Diệt tận định)và Câu giải

thoát(A la hán đã đến được Diệt tận định),

hoặc Thời giải thoát và Bất thời giải thoát.

Ngoài ra, còn có 10 loại giảithoát như: Phiền

GIẢI THÍCH

 

G

1954

não giải thoát, Tà kiến giải thoát v.v… Lại

nữa, tai nghe Phật pháp mà được giải thoát,

thì đặc biệt gọi là “Giải thoát nhĩ”. Giải thoát

vị, chỉ cho mùi vị chân thực của sự giải thoát;

do cảnh giới giải thoát là bình đẳng không

sai khác, nên cũng gọi là Nhất vị(chỉ có một

mùi vị)…

Phật giáo Tiểu thừa cho rằng, giải thoát

nhanh nhất cũng phải trải qua ba đời, nên

có thuyết “Tam sinh giải thoát”, đồng thời,

gọi Như lai là chân giải thoát, La hán là nhất

phần giải thoát(tức là Như lai đã giải thoát

hoàn toàn rốt ráo, còn A la hán mới chỉ giải thoát

được một phần). Nếu người chấp chặt vào sự

giải thoát mà không làm lợi ích cho ai, thì

gọi là “người rơi vào hố sâu giải thoát”.

[X. kinh Đại bát niết bàn Q.5 (bản Bắc);

luận Hiển dương thánh giáo Q.13; luận Thập

trụ tì bà sa Q.11; Thành duy thức luận thuật

kí Q.1 phần đầu].

GIẢI THOÁT CHÀNG TƯỚNG Y

Cũng gọi Giải thoát chàng tướng ca sa.

Chỉ cho áo ca sa.

Chàng tiêu biểu cho tháp Phật, Ca sa

tiêu biểu cho sự giải thoát. Người cầu giải

thoát, mặc áo ca sa, không bị tà ma khuynh

động.

Kinh Địa tạng thập luân quyển 4 (Đại

13, 742 hạ), nói: “Mặc áo ca sa giải thoát

chàng tướng của Phật mà khởi tâm ác, thì

nhất định sẽ rơi vào địa ngục vô gián”.

Kinh Tâm địa quán quyển 5 (Đại 3, 314

thượng), nói: “Ca sa là tướng bảo chàng của

trời người”.

GIẢI THOÁT CHƯỚNG

Phạm: Vimukty-àvaraịa.

Cũng gọi Định chướng.

Đối lại với Phiền não chướng, Căn bản

chướng.

Ngăn trở bậc Thánh tiến vào Diệt tận

định, khiến cho không được hoàn toàn giải

thoát nên gọi là Giải thoát chướng. Tự thể

của chướng này là một loại vô tri không

nhiễm ô. Là một trong hai chướng.

[X. luận Đại tì bà sa Q.153; luận Câu xá

Q.25; Thành duy thức luận thuật kí Q.1

phần đầu].

GIẢI THOÁT ĐẠO

Phạm: Vimukti-màrga.

Giai vị sau khi đoạn hoặc ở đạo Vô gián

phát sinh một niệm chính trí mà chứng ngộ

chân lí. Chính trí này giải thoát khỏi mê

hoặc, nên gọi là Giải thoát đạo, là một trong

bốn đạo.

[X. luận Đại tì bà sa Q.64; luận Câu xá

Q.23, Q.25].

GIẢI THOÁT ĐẠO LUẬN

Phạm: Vimokwamàrga-zàstra.

Gồm 12 quyển, do a la hán Ưu ba để sa

soạn, ngài Tăng già bà la dịch vào đời Lương

thuộc Nam triều, thu vào Đại chính tạng

tập 32.

Nội dung bộ luận này căn cứ vào thứ

bậc giải thoát của người tu Thiền mà lần

lượt giải thích các pháp môn: Giới, Định,

Tuệ. Chia làm 12 phẩm: Nhân duyên,

Phân biệt giới, Đầu đà, Phân biệt định,

Mịch thiện tri thức, Phân biệt hành, Phân

biệt hành xứ, Hành môn, Ngũ thông,

Phân biệt tuệ, Ngũ phương tiện và Phân

biệt đế.

Từ phẩm thứ 1 đến phẩm thứ 3 bàn về

Giới, trình bày rõ về giới luật và đường lối

tu hành, như: Tam học, Bát chính đạo, phá

34 pháp gây trở ngại cho việc tu đạo, Bát

hành Tứ quán, 13 hạnh đầu đà v.v…

Từ phẩm thứ 4 đến thứ 9 bàn về Định,

trình bày rõ những phương pháp tu tập

GIẢI THOÁT ĐẠO LUẬN

 

G

1955

Thiền định gồm 4 Thiền và 38 hành xứ như:

10 tưởng bất tịnh, 10 niệm, 10 nhất thiết

nhập, 4 tâm vô lượng và 4 đại thực.

Từ phẩm thứ 10 đến thứ 12 bàn về Tuệ,

trình bày rõ 4 đế, 5 uẩn, 12 nhập, 12 nhân

duyên, 18 giới.

Bộ luận này được coi là chỗ y cứ trọng

yếu của luận Thanh tịnh đạo do ngài Giác

âm soạn. Cứ theo sự nghiên cứu của học giả

Trường tỉnh Chân cầm –người Nhật bản–

thì bộ luận này giống với luận Thanh tịnh

đạo (Visuddhimagga) bằng tiếng Pàli,

nhưng số thí dụ ít hơn.

[X. Pháp kinh lục Q.5; Khai nguyên thích

giáo lục Q.6; Căn bản Phật điển chi nghiên

cứu (Trường tỉnh Chân cầm)].

GIẢI THOÁT HƯƠNG

Hương giải thoát, dụ cho tự tâm không

vin theo bất cứ sự vật gì, chẳng nghĩ thiện,

chẳng nghĩ ác, tự tại vô ngại. Một trong năm

phần hương.

[X. Đại tạng pháp số Q.33; Giáo thừa

pháp số Q.18]. (xt. Ngũ Phần Hương).

GIẢI THOÁT KIÊN CỐ

Khoảng 500 năm đầu tiên sau đức Phật

nhập diệt là thời kì chính pháp hưng

thịnh, nhiều người tu hành được giải thoát,

nên gọi là Giải thoát kiên cố. Một trong

năm thời kì kiên cố nói trong kinh Đại

phương đẳng đại tập. Mỗi thời kì đều gọi

là kiên cố để chỉ rõ sự hưng phế của Phật

pháp.

GIẢI THOÁT MÔN

Cửa vào cảnh giới giải thoát.

Tức đã xa lìa khổ sinh tử trong ba cõi

mà được giải thoát.

Luận Câu xá quyển 28 (Đại 29, 149 hạ),

nói: “… Trong đó, vô lậu gọi là Tam giải

thoát môn, vì đó là cửa có thể vào Niết

bàn”.

Đại thừa nghĩa chương quyển 2 (Đại 44,

489 thượng), nói: “Quả đức của Niết bàn

dứt hết sự trói buộc gọi là giải thoát; Không,

Vô tướng, Vô nguyện là cửa giải thoát, nên

gọi là Giải thoát môn”.

GIẢI THOÁT NHĨ

Nhờ tai nghe pháp mà được giải thoát,

như vậy, tai là cửa của sự giải thoát nên gọi

là Giải thoát nhĩ.

Kinh Tư ích phạm thiên sở vấn quyển 2

(Đại 15, 41 trung), nói: “Tai, mũi, lưỡi, thân,

ý là cửa giải thoát”.

Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa

quyển 6 phần dưới (Đại 33, 755 trung), ghi:

“Chúng sanh cõi này nhĩ căn thông lợi, cho

nên toàn dùng thanh trần”.

GIẢI THOÁT PHỤC

Cũng gọi Giải thoát chàng tướng y,

Chàng tướng y, Giải thoát chàng y, Ca sa.

Áo ca sa là y phục của người cầu giải

thoát cho nên gọi là Giải thoát phục.

Pháp uyển châu lâm quyển 22 (Đại 53,

448 trung), nói:

“Lành thay áo giải thoát,

Áo phúc điền không tướng,

Mặc vâng giữ giới hạnh,

Độ hết các chúng sinh”.

GIẢI THOÁT TẠNG

Người xa lìa tất cả sự trói buộc mà được

tự tại giải thoát.

Kinh Thiên thủ thiên nhãn đại bi tâm

(Đại 20, 109 trung), nói: “Nên biết người ấy

là giải thoát tạng, thiên ma, ngoại đạo không

thể cầm giữ được họ”.

GIẢI THOÁT TẠNG

 

G

1956

GIẢI THOÁT THÂM KHANH

Hố sâu giải thoát.

Chấp chặt vào sự giải thoát, không làm

tròn hạnh lợi mình, lợi người, cũng như

rơi vào hố sâu, nên gọi là Giải thoát thâm

khanh.

Phẩm Bất khả thuyết bồ tát trong kinh

Đại phương đẳng đại tập quyển 13 (Đại 13,

88 thượng), nói: “Như người rơi vào hố sâu,

người ấy không thể làm lợi ích cho mình và

cho người được. Hàng Thanh văn, Duyên

giác cũng lại như thế, rơi vào hố giải thoát,

không thể làm lợi mình, lợi người”.

GIẢI THOÁT THÂN

Phạm: Vimukti-skandha.

Cũng gọi Giải thoát uẩn, Giải thoát

chúng, Giải thoát phẩm.

Là một trong 5 phần pháp thân, một

trong 2 Phật thân. Có 2 nghĩa:

1. Chỉ cho thân Phật: Thân Phật đã giải

thoát khỏi phiền não chướng, nên gọi Giải

thoát thân.

2. Chỉ cho thắng giải đã tương ứng với

chính kiến vô học, là một trong những công

đức mà bậc Thánh vô học đã thành tựu được.

[X. kinh Tạp a hàm Q.47; kinh Bồ tát

anh lạc bản nghiệp Q.thượng; Đại thừa nghĩa

chương Q.20].

GIẢI THOÁT THIÊN

Trời giải thoát.

Chỉ cho Tam tạng Huyền trang.

Khi ngài Huyền trang ở bên Ấn độ,

chúng tăng Tiểu thừa ở đó tôn xưng ngài là

Giải thoát thiên.

Từ ân tự tam tạng pháp sư truyện quyển

5 (Đại 50, 248 thượng), ghi: “Chúng tăng

vui mừng, ganh nhau đặt tặng ngài những

danh hiệu đẹp: Chúng Đại thừa gọi ngài là

Ma ha da na đề bà; còn chúng Tiểu thừa thì

gọi ngài là Mộc xoa đề bà, Hán dịch là Giải

thoát thiên”.

GIẢI THOÁT THỰC

Thức ăn giải thoát.

Người xuất gia tu hành, nhờ giải thoát

khỏi sự trói buộc của hoặc nghiệp, tăng

trưởng tất cả thiện căn bồ đề, nuôi lớn tuệ

mệnh, cũng như thức ăn của người thế gian

nuôi lớn các căn, cho nên gọi thức ăn là giải

thoát. Một trong năm thứ hoặc chín thứ thức

ăn xuất thế.

(xt. Cửu Thực, Ngũ Thực).

GIẢI THOÁT TRI KIẾN THÂN

Cũng gọi Giải thoát sở kiến thân, Giải

thoát tri kiến uẩn, Giải thoát tri kiến chúng,

Giải thoát tri kiến phẩm.

Giải thoát tri kiến là 1 phần của pháp

thân Như lai, cho nên gọi là Giải thoát tri

kiến thân, 1 trong 5 phần pháp thân.

[X. luận Câu xá Q.1; Thập địa kinh luận

Q.4; Đại thừa nghĩa chương Q.20 phần đầu].

GIẢI THOÁT VỊ

Phạm: Vimukti-rasa.

Diệu vị Niết bàn giải thoát. Một trong

ba vị của pháp xuất thế.

Luận Đại trí độ quyển 100 (Đại 25, 756

trung), nói: “Phật pháp chỉ có một vị, đó là

vị giải thoát hết khổ”.

Kinh Thắng man (Đại 12, 20 thượng),

nói: “Các vị như Niết bàn nhất vị v.v… gọi

là Giải thoát vị”.

Phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa

(Đại 9, 20 thượng), ghi: “Nói cho đại chúng

nghe về pháp cam lộ thanh tịnh, pháp ấy

chỉ có một vị, là vị giải thoát Niết bàn”.

GIẢI THOÁT VỊ

 

G

1957

[X. kinh Đại bát niết bàn Q.5 (bản Nam);

kinh Đại nhật Q.1].

GIẢI TÍN

Niềm tin nhờ vào sự hiểu biết và phân

tích giáo pháp mà có, chứ không phải do tín

ngưỡng giáo pháp một cách như thực. Trái

lại, do tín tâm kính ngưỡng mà tin, thì gọi

là Ngưỡng tin.

GIẢI VIÊN CHỦ

Chức vụ của người trông coi việc kế toán

và tiếp đãi tân khách trong các chùa viện

thuộc Thiền tông. Nơi làm việc của vị này

gọi là Giải viện.

[X. mục Ma đầu Viên đầu Trang chủ Giải

viện chủ trong Thiền uyển thanh qui Q.4;

môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí

tiên].

GIÁM CHÂN (687-763)

…..

Cũng gọi Quá hải đại sư, Đường đại hòa

thượng.

Vị Luật tăng ở đời Đường, người Giang

dương, Quảng lăng (Giang đô, tỉnh Giang

tô), họ Thuần vu, là Sơ tổ của Luật tông

Nhật bản.

Ngài xuất gia từ nhỏ, học Luật và giáo

pháp tông Thiên thai, rồi đến Trường an và

Lạc dương

tham học,

sau ngài trở

về Dương

châu, hoằng

truyền giới

luật ở chùa

Đại minh.

N ă m

Khai nguyên

21 (733), các

sư ngườiNhật là Vinh duệ, Phổ chiếu v.v…

đến Trung quốc cầu học, nhận thấy giới

luật ở Trung quốc thịnh hành, nên vào niên

hiệu Thiên bảo năm đầu (742) các vị ấy

mới thỉnh ngài sang Nhật bản hoằng

dương Luật học và lập đàn truyền giới.

Ngài thâm cảm Nhật bản là nước có duyên

để hưng long Phật pháp, nên ngài quyết

chí sang Nhật truyền bá giới luật. Bấy giờ,

có 21 vị đệ tử như: Tường ngạn, Đạo hưng,

Đạo hàng v.v… đi theo ngài, nhưng vì người

trong nước không chịu để cao tăng đến các

nước phía đông, lại gặp nạn cướp biển, gió

bão, nên qua năm lần vượt biển đều không

thành công, phải chờ đợi suốt 11 năm trời.

Về sau, mặc dầu đôi mắt đã mù lòa, song ý

chí sang Nhật của ngài vẫn không hề sút

giảm.

Năm Thiên bảo 12 (753), Nhật bản lại

sai Sứ đoàn do Đằng nguyên Thanh hà dẫn

đầu đến Trung quốc, thỉnh ngài sang Nhật,

đây là lần vượt biển thứ 6. Lần này có 11 vị

cùng đi với ngài, như: Pháp tiến, Đàm tĩnh,

Tư thác v.v… Bấy giờ ngài đã 66 tuổi. Sau

khi ngài đến Nhật, Thiên hoàng sai sứ thần

đến vấn an và ban hiệu “Truyền Đăng Đại

Pháp Sư” cho ngài. Ngài liền lập giới đàn ở

chùa Đông đại, thân hành truyền giới Bồ

tát cho vua, các quan và dân chúng, đồng

thời, thụ giới lại cho chư tăng Nhật bản:

Đây là lần đầu tiên chính thức lập đàn thụ

giới tại Nhật bản. Về sau, ngài sáng lập viện

Giới đàn ở phía tây điện Đại Phật và kiến

trúc Đường Thiền Viện ở phía bắc viện Giới

đàn đê hóa độ 4 chúng.

Năm Thiên bình thắng bảo (Nhật bản)

thứ 7 (755), ngài được vua ban cho một

tòa nhà của Tân điền bộ, ngài bèn xây chùa

để làm đạo tràng kết giới. Năm sau, ngài

được suy tôn Đại tăng đô trong mùa hạ an

cư, không bao lâu, được phong Đại tăng

chính, nhưng ngài từ chối với lí do bận

nhiều Phật sự.

GIÁM CHÂN

Giám Chân

 

G

1958

Niên hiệu Thiên bình bảo tự năm đầu

(757), ngài được Thiên hoàng ban hiệu “Đại

Hòa Thượng” và cấp cho 10 mẫu ruộng, ngài

bèn xây cất chùa ở chỗ đất cao ráo. Khi chùa

hoàn thành, được ban biển hiệu là “Đường

Luật Chiêu Đề”. Không bao lâu, Thiên

hoàng hạ chiếu lập giới đàn và cho tín đồ

trong nước đến đây học luật, thụ giới, vì thế

chùa này trở thành đạo tràng căn bản để

truyền trao giới luật. Ngoài ra, ngài còn tâu

vua xin lập giới đàn ở chùa Dược sư tại Hạ

dã, chùa Quan thế âm ở Trúc tử, nhờ đó,

giới luật tại Nhật bản rất hưng thịnh.

Năm Thiên bình bảo tự thứ 7 (763), ngài

ngồi kết già quay mặt về hướng tây thị tịch,

thọ 76 tuổi.

Với số lượng lớn kinh tượng của Phật

giáo, các vị thuốc, tác phẩm nghệ thuật v.v…

mà ngài mang đến Nhật bản đã đóng góp

rất lớn vào việc phát triển nền y học, điêu

khắc, đắp tượng, mĩ thuật, kiến trúc của

xứ này.

[X. Tống cao tăng truyện Q.14; Đường

đại hòa thượng đông chinh truyện; Giới luật

truyền lai kí Q.thượng; Kim tích vật ngữ

Q.11; Nguyên hanh thích thư Q.1; Bản triều

cao tăng truyện Q.2]. (xt. Đông Chinh Hội

Truyện, Đường Đại Hòa Thượng Đông

Chinh Truyện).

GIÁM THU

… ..

Chức vụ trông coi việc thu nhập lợi tức

từ đất đai sở hữu của chùa viện.

Chức này được đặt ra vào đời Nguyên,

dưới chức Trang chủ quản hạt, tương đương

với chức Tri khố.

Mục Chư trang giám thu trong Sắc tu

Bách trượng thanh qui quyển hạ (Đại 48,

1133 trung), ghi: “Trong qui chế xưa, lúc

đầu không có chức Trang chủ giám thu, thời

gần đây mới lập ra chức này. Nhưng từ khi

được thiết lập, chức này phát sinh nhiều mối

tệ, vì người được giao phó thiếu công tâm và

không có khả năng”.

[X. Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.6].

GIÁM TRAI SỨ GIẢ

Cũng gọi Giám trai bồ tát.

Vị thần trông nom việc ăn uống của

chúng tăng trong chùa.

Hình tượng của vị thần này là hình Bồ

tát mặt xanh tóc đỏ.

Theo các sách Tiễn đăng dư thoại, Thính

kinh viên kí v.v…, thì có một người Tú tài

họ Viên, thích nô đùa nhảy múa làm trò trẻ

con. Có lần, người này lấy phẩm xanh bôi

lên mặt, rồi vào trong khám thờ ngồi duỗi

hai chân, những người làm bếp tưởng là thần

xuất hiện nên nói một cách rất cung kính:

“Đây chính là Hồng sơn Đại thánh giám

trai”. Từ đó về sau, các nhà bếp trong chùa

thường thờ người này.

GIÁM TỰ

… ..

Cũng gọi Giám viện, Viện chủ, Chủ thủ,

Tự chủ.

Tục gọi là Đương gia.

Chức vụ lãnh đạo chúng tăng và giám

sát các việc trong chùa. Một trong 6 chức

Hành tích của Hòa Thượng Giám Chân

GIÁM TỰ

 

G

1959

Tri sự của Thiền tông, đứng sau chức Đô tự.

Vào đời Đường, trong Thiền lâm lập ra

chức Giám viện để trông nom mọi việc trong

chùa. Đến đời Tống, vì chùa rộng, chúng

đông nên chức Giám viện được chia ra làm

Đô tự và Giám tự. Chức Giám tự phần nhiều

do các vị Tây đường, Thủ tọa, Thư kí… đảm

nhiệm.

Cứ theo Tổ đình sự uyển quyển 8, từ

đời Đông Tấn trở đi, chức Chủ tự (chủ chùa)

mới phổ thông. Đến đời sau, trong Thiền

lâm, chức Giám tự đứng đầu các chức chính

là đã bắt nguồn từ đây.

Theo điều Giám viện trong Thiền uyển

thanh qui quyển 3, thì vị Giám viện phải

phụ trách các việc như: Giao tế với quan lại,

thăm viếng thí chủ, xem việc lành dữ, chúc

mừng, phúng điều, vay mượn hoàn trả, trù

tính việc chi tiêu trong chùa, lo đủ gạo thóc

tương muối, cho đến tổ chức các trai hội

lớn, các ngày lễ vía trong năm.

Vị tăng đảm nhiệm chức Giám tự, gọi là

Giám tự sư; liêu phòng của vị ấy, gọi là Giám

tự liêu, thị giả của vị ấy, gọi là Giám hành.

Ngoài ra, phổ thông đều cho Giám tự

giống với Giám viện, nhưng Bách trượng

thanh qui và Thiền uyển thanh qui đều chưa

nêu chức vụ Giám tự.

[X. điều Lưỡng tự chương, Đông tự tri

sự, Đô giám tự trong Sắc tu Bách trượng

thanh qui Q.hạ; môn Chức vị trong Thiền

lâm tượng khí tiên; thiên Tùng lâm trong

Trung quốc Phật giáo nhân vật dữ chế độ

(Lâm tử thanh-Hiện đại Phật học đại hệ].

(xt. Đô Tự).

GIẢM CHẤP

Đối lại với Tăng chấp.

Sự hiểu biết theo vọng chấp, cho các

pháp là không. Nghĩa là tự làm cho cái giá

trị ý nghĩa vốn có của tự thân các pháp

giảm đi, nên dễ rơi vào “thiên không”, vì

thế gọi là Giảm chấp.

(xt. Nhị Chấp).

GIẢM DUYÊN GIẢM HÀNH

Hàng Thanh văn ở giai vị Trung nhẫn

trước giai vị Kiến đạo, lần lượt giảm dần

quán cảnh sở duyên và hành tướng năng

duyên để chỉ tập trung vào việc quán lí

Tứ đế.

Trong các thứ bậc tu đạo của Tiểu thừa,

Nhẫn vị được chia ra 3 giai đoạn: Thượng,

trung, hạ. Ở giai vị Trung nhẫn, quán Tứ đế

qua 16 hành tướng, theo thứ tự ấy mà pháp

quán giảm dần, gọi đó là Giảm duyên giảm

hành. Duyên nghĩa là sở duyên, chỉ cho cảnh

sở quán, tức là Tứ đế. Ba cõi được chia làm

Thượng (cõi Sắc, cõi Vô sắc) và Hạ (cõi Dục),

trong 2 cõi Thượng, Hạ mỗi cõi đều có pháp

quán Tứ đế, hợp thành 8 đế tức 8 duyên.

Hành nghĩa là hành tướng, tức trạng thái

quán Tứ đế; trong 4 đế, mỗi đế đều có 4

hành tướng, nên cộng lại có 16 hành tướng.

Tức là, Khổ đế có 4 hành tướng: Vô thường,

Khổ, Không, Vô ngã; Tập đế có 4 hành

tướng: Nhân, Tập, Sinh, Duyên; Diệt đế có

4 hành tướng: Diệt, Tĩnh, Diệu, Li; Đạo đế

có 4 hành tướng: Đạo, Như, Hành, Xuất.

Tổng cộng Tứ đế của 2 cõi Thượng và Hạ là

32 hành tướng.

Giai vị Hạ nhẫn giống với 2 vị Noãn và

Đính ở trước nó; nghĩa là cũng phải tu 32

hành tướng của 8 đế trong 2 cõi Thượng

Hạ; đến giai vị Trung nhẫn mới dùng pháp

“Súc quán” mà giảm bớt dần dần, cho đến

khi chỉ còn Nhất hành nhị sát na (1 hành

tướng quán trong 2 sát na), gọi là Trung nhẫn

mãn. Những giai vị trước Trung nhẫn, vì

quán pháp vẫn chưa được thành thục, cho

nên không thể dùng pháp “Súc quán” (giảm

dần). Còn những giai vị sau Trung nhẫn như:

Thượng nhẫn, Thế đệ nhất pháp đều dùng

pháp Nhất hành nhất sát na để vào chính

GIẢM DUYÊN GIẢM HÀNH

 

G

1960

đạo, vì chỉ là một sát na nên không thể tu

pháp Súc quán. Bởi vậy, pháp Súc quán

chỉ được ứng dụng cho giai vị Trung nhẫn

mà thôi.

Ở giai vị Trung nhẫn cần phải giảm

duyên giảm hành là để chuẩn bị (phương

tiện gia hạnh) vào Kiến đạo, cho nên dần

dần phải thu nhỏ phạm vi quán, để cho quán

trí bén nhạy mà phát sinh chân trí vô lậu,

đạt được giai vị Kiến đạo.

Về thứ tự giảm dần thì ở vòng thứ nhất,

trước hết, dùng bốn hành tướng: Vô thường,

khổ, không, vô ngã mà quán Khổ đế của cõi

Dục và cõi Thượng; kế đến, dùng bốn hành

tướng: Nhân, tập, sinh, duyên mà quán Tập

đế của cõi Dục và cõi Thượng. Cứ như thế

dùng bốn hành tướng: Diệt, tĩnh, diệu, li để

quán Diệt đế của cõi Dục và cõi Thượng,

rồi chỉ dùng ba hành tướng: Đạo, như, hành

để quán Đạo đế của cõi Thượng. Đến đây

đã giảm được hành tướng “Xuất” của Đạo

đế, nên gọi là Giảm hành.

Từ vòng thứ hai trở đi, cũng quán Khổ

đế của cõi Dục, đến cuối cùng chỉ dùng hai

hành tướng: Đạo, như để quán Đạo đế của

cõi Thượng, như vậy tức là đã giảm thêm

một hành tướng “Hành”.

Vòng thứ ba cũng quán như thế, cuối

cùng dùng hành tướng Đạo để quán Đạo đế

của cõi Thượng, tức đã giảm hành tướng

“Như”.

Vòng thứ tư, lại bắt đầu quán Khổ đế từ

cõi Dục, rồi dần dần quán đến Đạo đế ở cõi

Thượng, thì giảm được hành tướng “Đạo”.

Đến đây, quán hạnh thuộc về Đạo đế ở cõi

Thượng đều đã giảm hết, cho nên gọi là Giảm

duyên. Khi giảm duyên thì cũng giảm hành,

nhưng vì giảm hành được nhiếp trong giảm

duyên, cho nên không gọi là giảm hành.

Cứ theo thứ tự mà quán như thế thì ở 7

vòng: thứ 4, 8, 12, 16, 20, 24, 28 là giảm

duyên, còn ở 24 vòng khác là giảm hành.

Trong 32 hành tướng, giảm đến vòng thứ

31 thì chỉ còn lại một hành tướng “Vô

thường” thuộc về Khổ đế ở cõi dục. Đến

đây lại quán hành tướng “Vô thường” một

lần nữa mới đến được giai vị Trung nhẫn

mãn. Tức ở vòng thứ 31 chỉ giữ lại hành

tướng “Vô thường” chứ không giảm. Như

Khổ pháp trí nhẫn và Khổ pháp trí dùng

tâm hai sát na thẩm xét và quyết định làm

hành tướng “Vô thường” để quán Khổ đế

của cõi Dục, gọi là Trung nhẫn mãn. Nghĩa

là giai vị Trung nhẫn đến Nhất hành nhị sát

na thì mãn. Bắt đầu từ đây, không ngừng

sinh khởi thiện căn, chỉ dùng tâm một sát

na để quán hành tướng “Khổ” của cõi Dục

mà bước vào giai vị Thượng nhẫn. Lại trong

một sát na không ngừng ấy, quán hành tướng

“Khổ” của cõi Dục, đầy đủ Nhẫn vị mà tiến

vào giai vị Thế đệ nhất pháp, rồi từ đó lại

chứng được giai vị Khổ pháp nhẫn, Khổ

pháp trí. Do đó mà biết bốn giai vị: Thượng

nhẫn, Thế đệ nhất pháp, Khổ pháp nhẫn,

Khổ pháp trí này đều cùng một sở duyên,

cùng một hành tướng, nghĩa là chỉ giữ lại

hành tướng “Khổ”.

Nhưng theo Đại thừa nghĩa chương

quyển 11, Câu xá luận tụng sớ quyển 23 và

Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 3

phần trên, thì dùng tâm “Nhị hành nhị sát

na” để quán “Khổ” của cõi Dục mà gọi đó là

Trung nhẫn mãn. Về vấn đề này, xưa nay

có nhiều ý kiến phân vân. Có thuyết cho

rằng lưu lại hành tướng “Vô thường” là Nhị

hành nhị sát na, còn lưu lại bất cứ hành

tướng nào trong ba hành tướng còn lại là

Nhất hành nhất sát na. Có thuyết cho rằng

vì có Chính quán nên giảm mãn là Nhị hành.

Có thuyết cho “Tu tập” và “Đắc tu” là Nhị

hành.

Tóm lại, từ luận Đại tì bà sa trở về sau,

thì thuyết Nhất hành nhị sát na là định

thuyết của Tiểu thừa. Còn nói Nhị hành

nhị sát na thì không khỏi có sự lầm lẫn,

“Nhị hành” có lẽ đã do viết lầm từ “Nhất

GIẢM DUYÊN GIẢM HÀNH

 

G

1961

hành” mà ra, người đời sau không xét kĩ

nên hiểu và giải thích sai, rồi lâu dần thuyết

này càng thêm lộn xộn, rối rắm.

[X. luận A tì đàm tì bà sa Q.3; luận Đại

tì bà sa Q.5; luận Câu xá Q.23; luận A tì đạt

ma Q.61; luận Hiển tông Q.30; Pháp hoa

huyền nghĩa Q.3; Câu xá luận quang kí

Q.23].

GIẢM KIẾP

Đối lại với Tăng kiếp.

Khoảng thời gian con người thọ 8 vạn

tuổi, rồi cứ 100 năm giảm đi một tuổi, cho

đến khi chỉ còn 10 tuổi.

Thế giới quan của Phật giáo cho rằng thế

giới loài người là trung tâm của vũ trụ, có 4

đại kiếp: Thành, trụ, hoại, không mỗi đại

kiếp do 20 trung kiếp hợp thành.

Theo thuyết của Tiểu thừa thì kiếp thứ

nhất của 20 trung kiếp là kiếp trụ, vì con

người tích tập ác nghiệp nên tuổi thọ cứ mỗi

100 năm giảm đi một tuổi, từ tám vạn tuổi

giảm xuống chỉ còn 10 tuổi, gọi là Giảm kiếp.

Trong mỗi kiếp của 18 kiếp tiếp sau, tuổi

thọ con người từ 10 tuổi tăng lên đến tám

vạn tuổi, rồi lại từ tám vạn tuổi giảm xuống

đến 10 tuổi, thời kì này gọi là Tăng giảm

kiếp. Trong kiếp thứ 20, tuổi thọ con người

lại từ 10 tuổi tăng lên đến tám vạn tuổi, gọi

là Tăng kiếp. Đại thừa thì cho rằng trong 20

trung kiếp, mỗi trung kiếp đều có tăng giảm.

[X. luận Đại tì bà sa Q.135; luận Câu xá

Q.12; Pháp uyển châu lâm Q.1]. (xt. Kiếp).

GIAN SẮC

Mầu sắc ở khoảng giữa (trung gian) năm

mầu chính.

Tức là năm mầu: Đỏ thắm, đỏ phớt, đỏ

tươi, xanh lá cây và vàng lợt (mầu diêm sinh).

Năm mầu này đối lại với 5 mầu chính: Xanh,

vàng, đỏ, trắng, đen.

Ngoài ra, ba mầu xanh, đen và mộc lan

thường được dùng để nhuộm ca sa, cũng gọi

là Gian sắc.

[X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.

hạ phần 1 tiết 1].

GIAN SẮC PHỤC

Cũng gọi Li trần phục (áo lìa bụi bậm),

Tiêu sấu phục (áo dứt phiền não), Liên hoa

phục (áo lìa nhiễm ô).

Tên gọi khác của áo ca sa.

Theo đúng luật, áo ca sa chỉ được nhuộm

bằng ba mầu: Mầu đen, nhuộm bằng bùn;

mầu xanh, mầu mộc lan, nhuộm bằng vỏ

cây. Ba thứ hoại sắc này cũng gọi là Gian

sắc, vì thế, ca sa được gọi là Gian sắc phục.

Nhưng Gian sắc ở đây không phải 5 Gian

sắc nói ở trên.

(xt. Ca Sa).

GIAN THỐ THIÊN

Tên vị trời ở vị thứ 17 phía nam Kim

cương bộ ngoài trên mạn đồ la Thai tạng

giới của Mật giáo. Là sao Trương (Phạm:

Pùrva-phalgunì) trong 28 sao.

Vị trời này khi còn ở nơi nhân vị (giai vị

tu nhân), hay giáng họa cho trẻ con, hoặc

làm cho chúng chết. Nhưng nhờ sức gia trì

của đức Đại nhật trong Thai tạng, nên vị

trời này được thu nhiếp vào hội Mạn đồ la,

trở thành một vị tôn ngoại hộ.

Hình tượng của vị trời này có 2 kiểu:

1. Hình vẽ trong bức tranh Thai tạng hiện

nay là hình tượng Bồ tát, thân mầu da người,

bàn tay phải dựng thẳng, ngón trỏ, ngón giữa

và ngón áp út co lại, tay trái để cạnh rốn, cầm

hoa sen, trên hoa có hạt châu, đầu gối phải

dựng đứng, ngồi tréo chân.

2. Hình vẽ trong bức tranh Thai tạng

cũ, thì tay trái cầm hoa sen xanh, khuỷu

tay phải dựng đứng, nắm tay để ngửa, ngón

GIAN THỐ THIÊN

 

G

1962

út duỗi thẳng, ngồi bán già trên tòa hình

tròn.

Chủng tử của vị trời này là (mi). Ấn

khế thì dùng ấn chung của 28 sao. Chân

ngôn là: Qui mệnh bố lô phạ phát lỗ cầu

noa (pùrva phalguna) na khất xoa đa la

(nakwatra, sao) sa phạ hạ (svàhà); hoặc

dùng chân ngôn chung của 28 sao.

[X. kinh Tú diệu; Chư thuyết bất đồng

kí Q.10].

GIÁN CÁCH

… ..

Tên khác của phiền não căn bản.

Nghĩa là lìa xa lí các pháp bình đẳng mà

cố chấp vọng niệm sai biệt. Do vọng niệm

sai biệt ấy mà khởi lên phiền não tham sân,

tạo các nghiệp ác, phải luân hồi trong sinh

tử. Bởi vì tất cả cội gốc sinh tử đều ở trong

một niệm gián cách. Vọng tình ấy là tự tính

của phàm phu, mà từ vô thủy đến nay hằng

liên tục không gián đoạn, cho nên gọi là Vô

thủy gián cách.

Luận Bồ đề tâm (Đại 32, 574 hạ), nói:

“Đã phá hai kiến chấp nhân và pháp, tuy

được trí chính kiến chân thực, nhưng vì vô

thủy gián cách, nên chưa thể chứng đắc nhất

thiết trí của Như lai”.

[X. Biện hoặc chỉ nam Q.2]. (xt. Hoặc).

GIÁN VƯƠNG KINH

Phạm:Ràjàvavàdaka.

Có 1 quyển, do cư sĩ Thư cừ kinh thanh

dịch vào đời Lưu Tống, thu vào Đại chính

tạng tập 14.

Kinh này rất ngắn, thuộc thể văn xuôi

bình dị. Nội dung tường thuật việc đức

Phật ở trong vườn ông Cấp cô độc rừng

cây Thái tử Kì đà tại nước Xá vệ, thuyết

pháp giáo hóa vua Bất li tiên ni, khuyên

(gián) vua nên dùng chính pháp và từ tâm

để trị nước.

GIẢN BIÊT

…..

I. Giản Biệt.

Cũng gọi Giản dị, Biệt dị, Phân dị.

Gọi tắt: Giản.

Phân biệt sự giống nhau và khác nhau

giữa các pháp.

Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 6 thượng),

nói: “Những pháp ấy được phân biệt (giản

biệt) bằng các tên: mắt, tai, mũi v.v…, tuy

gọi tên chung, nhưng thực ra là tên riêng”.

[X. luận Thành duy thức Q.9; Vô lượng

thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng].

II. Giản Biệt.

Cũng gọi Giản ngôn.

Tiếng dùng trong luận lí Nhân minh.

Trong Nhân minh, khi đối luận, nếu là

luận thức Tự tỉ lượng (tự phòng thủ), thì

phải thêm những tiếng giản biệt. Như:

Tông: Tôi bảo A tức là B.

Nhân: Vì tôi nhận A là C vậy.

Dụ: Và nhận như D, Đ, v.v…

Trong luận thức, có thêm “tôi bảo” và

“tôi nhận” là những tiếng giản biệt để nói

lên rằng “tôi chủ trương như thế”. Phàm là

luận thức Tự tỉ lượng đều phải thêm những

tiếng ấy, nếu không thì ở Tông bị lỗi “Sở

biệt bất cực thành”, ở Nhân bị lỗi “Tùy

nhất bất thành” và ở Dụ bị lỗi “Câu bất

thành”.

(xt. Giản Ngôn).

GIẢN NGÔN

…..

Cũng gọi Giản biệt, Giản biệt ngữ.

Tiếng dùng trong luận lí Nhân minh.

Những tiếng tự giới hạn được đặt trước

Tông (mệnh đề), Nhân (lí do), Dụ (ví dụ) để

tránh lỗi lầm về phương pháp tranh luận

trong luận thức Nhân minh.

Trên bình diện tranh luận, Nhân minh

có ba loại: Tự tỉ lượng, Tha tỉ lượng và Cộng

GIẢN NGÔN

 

G

1963

tỉ lượng, tức là ba thứ: Luận pháp tự thủ,

luận pháp tấn công và luận pháp đối tranh.

1. Luận pháp tự thủ(Tự tỉ lượng): Luận

pháp mà mình chỉ cần giữ vững lấy chủ

trương của mình, không phải là luận pháp

tấn công. Vì thế gọi là luận pháp tự thủ mà

thuật ngữ Nhân minh gọi là Tự tỉ lượng.

Nếu là luận thức tự tỉ lượng, thì phải thêm

những tiếng giản ngôn (giản biệt), như:

Tông: Tôi bảo A tức là B.

Nhân: Vì tôi nhận A là C vậy.

Dụ: Và nhận như D, Đ, v.v…

Trong luận thức trên, có thêm những

tiếng “tôi bảo” và “tôi nhận” để tỏ rằng “tôi

chủ trương như vậy”. Nếu không thêm

những tiếng ấy, thì ở Tông bị lỗi “Sở biệt

bất thành”, ở Nhân bị lỗi “Tùy nhất bất

thành” và ở Dụ bị lỗi “Câu bất thành”.

2. Luận pháp tấn công(Tha tỉ lượng):

Luận pháp để công kích đối phương. Luận

pháp này cũng cần phải có những tiếng giản

ngôn.

Tông: Ông bảo A tức là B.

Nhân: Vì ông nhận A là C vậy.

Dụ: Ông nhận như D, Đ v.v…

Những tiếng “ông bảo” và “ông nhận”

đều là giản ngôn, để tỏ rằng “đó là chủ

trương của ông chứ tôi không công nhận.

Tôi chỉ dùng tư liệu của ông công nhận để

tổ chức luận thức của tôi mà tấn công ông”.

Phàm là luận thức tấn công mà không thêm

những tiếng giản ngôn ấy, thì sẽ bị lỗi “Sở

biệt bất cực thành” ở Tông, lỗi tự “tùy nhất

bất thành” ở Nhân và lỗi “Câu bất thành”

ở Dụ.

3. Luận pháp đối tranh(Cộng tỉ lượng):

Không thiên về “tôi” và “ông” như hai luận

pháp trước, mà chỉ là trường hợp đem điều

kiện của đôi bên cùng công nhận (rằng có)

ra để tổ chức luận thức. Đây gọi là luận pháp

tranh đấu, thuật ngữ Nhân minh gọi là Cộng

tỉ lượng. Loại luận thức này không cần thêm

tiếng giản ngôn:

Tông: Gia tô cũng cùng là loài người.

Nhân: Vì thân thể không có khác người

vậy.

Dụ: Như tất cả chúng ta chẳng hạn.

Trong ba luận pháp trên, chỉ có luận

pháp thứ ba-luận pháp đấu tranh-là thường

được sử dụng, còn hai luận pháp kia chỉ khi

bất đắc dĩ mới phải dùng đến. Tức là những

tiếng giản ngôn hoặc giản biệt ít khi được sử

dụng.

[X. Nhân minh luận sớ minh đăng sao

Q.3 phần cuối; Nhân minh nhập chính lí

luận sớ thụy nguyên kí Q.4].

GIẢN TRẠCH

Lựa chọn. Tức dùng trí tuệ phán đoán

một cách chính xác để loại bỏ điều sai lầm,

giữ lấy điều đúng đắn.

Sức trí tuệ phân biệt, chọn lựa tất cả các

pháp, gọi là Trạch lực; nhờ sức giản trạch

mà được Diệt đế Niết bàn, gọi là Trạch diệt.

Ngoài ra, vị thầy lựa chọn đệ tử có khả năng

để trao truyền giáo pháp, gọi là Giản khí.

Khí, tức là căn khí, căn cơ.

[X. kinh Tạp a hàm Q.28; luận Câu xá

Q.1].

GIANG HỒ

Nguyên chỉ cho Giang tây và Hồ nam,

hoặc chỉ sông Dương tử (Trường giang) và

hồ Động đình, hoặc chỉ cho Tam giang là

Kinh giang ở Hồ bắc, Tùng giang ở Giang

tô, Chiết giang ở tỉnh Chiết giang và Ngũ

hồ là hồ Bá dương ở Giang tây, hồ Thanh

thảo, hồ Động đình ở Hồ nam, hồ Đơn

dương và Thái hồ ở Giang tô. Tiếng “giang

hồ” đã được dùng rất sớm trong câu: “Chẳng

bằng quên nhau nơi giang hồ” trong Nội

thiên đại tông sư của Trang tử.

Trong Thiền lâm, tiếng giang hồ thường

được dùng để gọi những vị tăng vân du bốn

GIANG HỒ

 

G

1964

phương (Vân thủy tăng). Vào đời Đường, ở

tỉnh Giang tây có ngài Mã tổ Đạo nhất, ở

tỉnh Hồ nam có ngài Thạch đầu Hi thiên,

hai vị Đại sư này đồng thời dựng cao ngọn

cờ Thiền pháp, phát dương tông phong,

danh đức vang lừng khắp nơi. Bấy giờ chúng

tăng trong nước phần lớn đến tham học hai

ngài, cho nên theo địa danh mà gọi các vị

học tăng là Giang hồ tăng, Giang hồ chúng,

gọi tắt là Giang hồ.

Ngoài ra, chúng tăng phần đông du

phương tham vấn ở vùng Tam giang, Ngũ

hồ, nên cũng gọi là Giang hồ tăng. Kết hạ

an cư do các vị tăng hành cước vân du cử

hành, gọi là Giang hồ tăng hội, Giang hồ

hội, gọi tắt là Giang hồ. Lại nữa, Tăng đường

gọi là Giang hồ đạo tràng, Giang hồ liêu.

Các bậc thầy thì gọi là Giang hồ danh thắng

thiền sư. Còn văn sớ chúc mừng vị Tân trụ

trì (Tấn sơn), gọi là sớ Giang hồ hoặc sớ

Giang hồ hữu xã. Nếu sớ này do vị Đông

tạng chủ đọc thì gọi là sớ Đông giang hồ,

còn do vị Tây tạng chủ đọc thì gọi là sớ Tây

giang hồ.

Ngoài ra, tiếng “Giang hồ” còn có nhiều

ý nghĩa:

1. Theo môn Xưng hô trong Thiền lâm

tượng khí tiên, nếu Thiền tăng không ở

trong các Đại tùng lâm mà ở các nơi ven

sông, bên hồ, thì gọi là Tăng giang hồ;

không làm Trụ trì các chùa viện lớn mà

cùng nhau tụ họp ở một chỗ, thì gọi là

Chúng giang hồ.

2. Nói về thế gian: Chỉ chỗ ở của nhà ẩn

sĩ, như trong Nhạc dương lâu kí của Phạm

trọng yêm có câu: “Ở chốn giang hồ xa xôi

thì lo cho vua của mình”. Hoặc trong Hán

thư: “Rất được lòng dân nơi giang hồ”.

3. Cách xưng hô phổ thông: Kẻ lãng tử

đi khắp bốn phương để mưu sinh, gọi là Tẩu

giang hồ, Bào giang hồ; người nhiều kinh

nghiệm, từng trải đó đây, thì gọi là Lão giang

hồ; người chuyên nghề làm trò ảo thuật để

thu tiền, thì gọi là Giang hồ thuật sĩ, Giang

hồ lang trung v.v…

[X. Phẩm Định tú trực trong kinh Tú

diệu Q.thượng; chương Tôn tổ, chương Trụ

trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui

Q.thượng; chương Thạch đầu trong Cảnh

đức truyền đăng lục; môn Văn sớ trong

Thiền lâm tượng khí tiên].

GIANG HỒ PHONG NGUYÊT TẬP

Cũng gọi Giang hồ tập.

Gồm 2 quyển, do ngài Tùng pha Tông

khế soạn vào đời Nguyên.

Nội dung gồm 270 bài kệ tụng của 76 vị

tôn túc, sáng tác trong khoảng các năm Cảnh

định, Hàm thuần đời Tống đến các năm

Diên hựu, Chí trị (1260-1323) đời Nguyên,

trong đó có 13 bài của chính tác giả Tùng

pha. Lại trong sách cũng có thu chép các

tác phẩm của những tác giả sau thời đại

ngài Tùng pha, bởi thế, thuyết chủ trương

sách này do ngài Tùng pha biên tập còn có

nghi vấn.

Về nhan đề tập sách là vì các vị tôn túc

đi vân du tham vấn khắp nơi, rồi đem những

điều mình tâm đắc, mượn cảnh gió mát,

trăng thanh mà sáng tác để nói lên cái cảnh

giới ngộ nhập của mình, cho nên gọi là

“Giang hồ phong nguyệt tập”.

Sách này cũng được lưu truyền ở Nhật

bản, có nhiều bản in và sách chú thích.

GIANG THIÊN TỰ

Chùa ở chân núi Kim sơn, mạn tây bắc

huyện Trấn giang, tỉnh Giang tô, Trung

quốc.

Cứ theo truyền thuyết thì chùa này được

sáng lập vào thời Nguyên đế hoặc Minh đế

đời Đông Tấn, đặt tên là chùa Trạch tâm.

Năm Thiên giám thứ 4 (505, vua Lương Vũ

đế mở Đại hội thủy lục tại chùa này. Đến

GIANG THIÊN TỰ

 

G

1965

đời Tống, vua Chân tông ban cho Đại tạng

kinh. Năm Đại trung tường phù thứ 5 (1012)

đổi tên là chùa Long du. Từ đời Nguyên về

sau thì gọi là chùa Kim sơn.

Trải qua các đời, chùa này đã có rấtnhiều

các vị cao tăng đại đức đến ở, như các ngài:

Phật ấn Liễu nguyên, Nghĩa thiên (người Cao

li), Viên ngộ Khắc cần, Nam bình Phạm

trăn, v.v… Ngoài ra, thi hào Tô đông pha

cũng thường đến đây hỏi đạo nơi thiền sư

Phật ấn và rất nhiều tao nhân mặc khách

đến ngoạn cảnh.

Năm Chính hòa thứ 4 (1114) đời Tống

Huy tông, nhà vua ra lệnh đổi chùa thành

Đạo quan, nhưng chẳng bao lâu lại đổi lại

thành chùa. Khoảng đời Tống, Minh, chùa

trải qua nhiều lần hưng phế, đến năm Khang

hi 25 (1686) đời Thanh lại được đổi tên là

chùa Giang thiên và cùng với hai chùa Cao

mân, Thiên ninh gọi chung là “Lâm Tế Tam

Đại Tùng Lâm”. Năm Hàm phong thứ 3

(1853), khi loạn Hồng dương nổi lên, chùa

bị thiêu hủy. Đầu năm Quang tự (1875) chùa

được xây dựng lại, nhưng qui mô nhỏ hơn

xưa rất nhiều. Năm Dân quốc 36 (1947) chùa

lại bị hỏa thiêu.

[X. Tục truyền đăng lục Q.2, Q.4, Q.5;

Phật tổ thống kỉ Q.12, Q.13; Tân tục cao

tăng truyện Q.9, Q.25; Đại thanh nhất thống

chí Q.63; Trung quốc Phật giáo sử Q.4

(Tưởng duy kiều)].

(xt. Kim Sơn Tự).

GIANG VỊ NÔNG (1873-1938)

Người huyện Giang ninh, tỉnh Giang tô,

sinh sống ở Hồ bắc, tên là Trung nghiệp, tự

Vị nông, pháp danh Diệu hi.

Từ nhỏ, ông đã theo ông nội trì tụng

kinh Kim cương. Tuổi trung niên, người bạn

trăm năm từ trần, ông liễu ngộ đời người là

vô thường. Năm Dân quốc thứ 7 (1918), ông

lễ thiền sư Vi quân làm thầy, thụ giới Bồ

tát. Ông từng hiệu đính các bản kinh chép

tay xưa, đào được ở Đôn hoàng, thu tập

thành các bộ Đại thừa đạo cán kinh 1 quyển

và Tịnh danh kinh tập giải quan trung sớ 2

quyển. Riêng bộ Kim cương kinh giảng nghĩa

của ông được lưu thông rất rộng.

GIÁNG ĐẢN HỘI

Cũng gọi Phật sinh hội, Dục Phật tiết,

Quán Phật hội.

Pháp hội chúc mừng đức Phật đản sinh.

Theo thông lệ, pháp hội được cử hành

vào ngày mồng 8 tháng 4 mỗi năm (nhưng

hiện nay được tổ chức vào ngày 15 tháng 4 theo

nghị quyết của hội Phật giáo thế giới, họp tại

Colombo năm 1952). Vào ngày này, tượng

đức Phật đản sinh được tôn trí trong một

khám thờ nhỏ trang hoàng bằng hoa, dùng

nước cam trà (nước thơm) tắm Phật, tượng

trưng cho nước mưa cam lộ từ trên trời rơi

xuống khi đức Phật đản sinh.

[X. kinh Phật bản hạnh Q.1; kinh Quán

tẩy Phật hình tượng; Phật tổ thống kỉ Q.36].

GIÁNG KHÚC VI

……..

Tạng: Byaí-chub-#od.

Cũng gọi Bồ đề quang.

Người ở vùng A lí, Tây tạng, sống vào

thế kỉ XI, cháu của vua Trí quang.

Phật giáo Tây tạng sau Chùa Giang Thiên ở Kim Sơn 100 năm bị Lãng

GIÁNG KHÚC VI

 

G

1966

đạt ma tiêu diệt, tuy có dấu hiệu phục hưng,

nhưng vẫn còn trong tình trạng hỗn loạn,

Mật giáo được tôn trọng, Hiển giáo bị khinh

thường; người tín đồ chỉ xem trọng lời thầy

dạy mà coi nhẹ kinh luận, tình hình giữa

Hiển và Mật cứ như nước với lửa, việc tu

hành cũng lộn xộn, không có thứ tự trước

sau, chỉ y theo văn điều của Mật pháp mà

giết hại kẻ thù địch. Vua Trí quang và Bồ đề

quang muốn chấm dứt những tệ nạn ấy, nên

không tiếc thân mệnh tài sản sai người đến

Ấn độ xin gặp đại sư A đề sa, nói rõ thực

trạng của Phật giáo Tây tạng và thỉnh Đại

sư đến Tây tạng truyền pháp. Nhờ thế mà

Phật giáo Tây tạng được phục hưng và long

thịnh một thời.

GIẢNG

..

Diễn thuyết hoặc giảng giải kinh luận

cho mọi người nghe.

Theo nội dung giảng thuyết, có thể chia

làm ba loại chính là: Giảng kinh, giảng luật

và giảng luận.

Tại Ấn độ, vào thời vua A dục đã có

việc giảng kinh thuyết pháp, như trong Tiểu

ma nhai pháp sắc, vua A dục có khắc bảy

loại kinh được giảng thuyết, như kinh Thánh

chủng (Phạm: Ariya-vasaịì), v.v… và khuyên

bốn chúng tăng tục thường phải lắng nghe

và ghi nhớ để thực hành. Thiện kiến luật tì

bà sa quyển 2 cũng ghi việc các vị tăng truyền

đạo ở thời vua A dục đi các nơi hoằng pháp,

giảng kinh…

Tại Trung quốc, việc giảng kinh được bắt

đầu vào những năm cuối đời Hậu Hán. Cứ

theo Thích thị yếu lãm quyển hạ chép, thì

vào thời Tào Ngụy, ngài Chu sĩ hành khai

giảng kinh Đạo hành bát nhã, đây là lần

đầu tiên một vị tăng giảng kinh. Thời Đông

Tấn, ni sư Đạo hinh khai giảng kinh Pháp

hoa và kinh Duy ma, là lần đầu tiên một vị

ni giảng kinh. Thời Nguyên Ngụy,ngài Pháp

thông giảng luật Tứ phần, là lần đầu tiên

giảng luật. Thời Diêu Tần, ngài Cưu ma la

thập giảng dạy luận Thành thực cho pháp

sư Tăng tung, là lần đầu tiên giảng luận.

Ngoài ra, cứ theo Vũ đế bản kỉ trong

Lương thư quyển 3 ghi chép, thì vào năm

Đại thông thứ 3 (529), Lương Vũ đế đến

chùa Đồng thái giảng kinh Đại bát niết bàn

cho mọi người nghe; đây là lần đầu tiên một

vị Đế vương giảng kinh.

Về danh xưng người giảng thuyết thì

hoặc gọi là Giảng sư, Giảng tăng, hoặc

Giảng chủ, Giảng sĩ, Giảng tượng. Như Tục

cao tăng truyện quyển 26 chép, Sa môn Trí

ẩn đời Tùy đã từng giữ chức Giảng luận

chúng chủ. Tắc 4 trong Bích nham lục thì

ghi, thiền sư Đức sơn Tuyên giám đời

Đường từng làm Giảng tăng. Đến đời Tống

thì có các chức Giảng kinh thủ tọa, Giảng

luận thủ tọa, v.v…

Còn về nơi chỗ giảng thuyết thì gọi là

Giảng đường, Giảng tịch, Giảng diên, hoặc

là Giảng tứ, Giảng tọa…, như “Phổ Hội Giảng

Đường” ở nước Tì xá li thời đức Phật còn

tại thế. Mọi người tập họp lại để nghe giảng

thuyết, gọi là Giảng hội…

[X. truyện Pháp ngộ trong Lương cao tăng

truyện Q.5; truyện Pháp vân trong Tục cao

tăng truyện Q.5; bài tựa Sa di thập tuệ

chương cú và truyện An huyền trong Xuất

tam tạng kí tập Q.10, Q.13; điều Tăng giảng

trong Đại tống tăng sử lược; Loại tụ tam đại

cách Q.2; Hán ngụy lưỡng tấn nam bắc triều

Phật giáo sử chương 5 (Thang dụng đồng)].

GIẢNG ĐƯỜNG

Phạm:Pràsàda.Pàli:Pàsàda.

Tòa nhà dùng làm nơi giảng kinh thuyết

pháp.

Ở Ấn độ, thời đức Phật tại thế cũng đã

thiết lập Giảng đường, như kinh Tăng nhất

a hàm quyển 50 chép, khi đức Phật đến nước

GIẢNG ĐƯỜNG

 

G

1967

Tì xá li, Ngài trụ trong giảng đường Phổ hội

cùng với đại chúng tỉ khưu gồm 500 vị. Còn

kinh Phân biệt công đức quyển 2 thì chép,

tinh xá Kì hoàn có 72 ngôi giảng đường.

Ngoài ra, còn có các ngôi giảng đường khác

như: Giảng đường Lộc mẫu trong khu vườn

ở phía đông nước Xá vệ, giảng đường Trùng

các ở Đại lâm, v.v… được ghi rải rác trong

các kinh luận.

Về lí do thiết lập ngôi giảng đường đầu

tiên, theo kinh Phật bản hạnh được trích

dẫn trong điều Giảng đường chế của sách

Thích thị yếu lãm quyển hạ, thì khi đức Phật

còn tại thế, một hôm, các vị tỉ khưu tụ tập

trong một ngôi nhà, lúc đó, có hai vị tỉ khưu

đồng thời nói pháp cho mọi người nghe, vì

ở chung một chỗ nên hai bên làm chướng

ngại cho nhau, đức Phật bèn cho thiết lập

hai giảng đường để tiện việc thuyết pháp.

Còn theo kinh Pháp cự đà la ni được trích

dẫn trong điều Giảng đường trí Phật tượng

của sách đã dẫn ở trên, thì khi pháp sư thuyết

pháp, có La sát nữ tên là Ái dục, thường

đến cám dỗ, làm cho tâm pháp sư bị tán

loạn, nên phải thờ tượng Phật và cúng dường

hương hoa, thì La sát nữ không dám đến

quấy nhiễu.

Tại Trung quốc, từ xưa cũng đã có nhiều

giảng đường. Cứ theo Lạc dương già lam kí

quyển 1, thì vào niên hiệu Phổ thái năm

đầu (531) đời Bắc Ngụy, ngôi Giảng đường

đầu tiên đã được thiết lập ở chùa Kiến trung

tại thành Lạc dương. Từ đó về sau, qua các

đời, trong các tùng lâm và tự viện lớn đều

có xây cất giảng đường. Pháp đường trong

các chùa thuộc Thiền tông tức được thiết trí

theo qui chế Giảng đường.

Ở Nhật bản, các chùa Pháp long, Đông

đại, Nguyên hưng, Đường chiêu đề, v.v…

cũng đều đã thiết lập giảng đường từ rất

sớm.

[X. phẩm Xả thân trong kinh Kim quang

minh Q.4; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; kinh

Kì hoàn tự đồ Q.hạ; Nam đô thất đại tự

nhật kí].

GIẢNG KINH TỨ ÍCH

………..

Giảng kinh Kim quang minh được bốn

điều lợi ích:

Theo kinh Kim quang minh quyển 1, thì

bốn điều lợi ích là:

1. Quốc độ cát tường ích: Quân đội có

thế hùng mạnh nên trong nước không có

giặc giã, bệnh dịch tiêu trừ, tuổi thọ tăng

trưởng, chính pháp hưng thịnh, nhân dân

an lạc.

2. Phụ thần hòa lạc ích: Các quan đại

thần hòa thuận, không tranh giành quyền

tước lợi lộc, hết lòng giúp vua trị nước, được

vua yêu kính.

3. Quốc nhân phú thọ ích: Đệ tử Phật

và nhân dân trong nước đều tu hành theo

chính pháp, gieo trồng ruộng phúc nên giàu

có yên vui.

4. Pháp sư tự lợi lợi tha ích: Người

giảng kinh thân tâm thường nhẹ nhàng,

thanh thoát, lòng từ bi bình đẳng, không

gây thương tổn cho ai, khiến cho tất cả

chúng sinh thành tâm qui ngưỡng, tu tập

hạnh bồ đề.

GIẢNG SƯ ĐỘC SƯ CAO TỌA

……………..

Khi cử hành pháp hội, ở hai bên trước

điện Phật, đặt hai tòa ngồi cao dành cho

Giảng sư và Độc sư. Tòa Giảng sư ở bên

GIẢNG SƯ ĐỘC SƯ CAO TỌA

Giảng Đường chùa Đường Chiêu Đề Nhật Bản

 

G

1968

phải, tòa Độc sư ở bên trái, hai tòa đốidiện

nhau. Độc sư đọc văn kinh, Giảng sư giảng

nghĩa kinh. Như giảng đường chùa Pháp long

ở Nhật bản, chính giữa lập đàn quay hướng

nam, thờ Dược sư Tam tôn (Phật Dược sư,

bồ tát Nhật quang biến chiếu, bồ tát Nguyệt

quang biến chiếu) và Tứ thiên vương, hai

bên phía trước đàn đặt tòa ngồi cao của

Giảng sư và Độc sư.

GIẢNG TÔNG

…..

Các tông phái Phật giáo khác ngoài Thiền

tông và Luật tông.

Thiền tông cho rằng các tông phái khác

phần nhiều chú trọng về phương diện giảng

diễn, chú giải kinh điển, không giống như

Thiền tông nhấn mạnh ở điểm kiến tính

ngộ đạo, vì thế Thiền tông gọi các tông ấy là

Giảng tông.

GIẢNG VIÊN

…. .

Cũng gọi Giảng tự. Đối lại với Thiền viện,

Luật viện.

Chỉ cho những tự viện chuyên nghiên

cứu giáo nghĩa của tông Thiên thai và tông

Hoa nghiêm.

Cứ theo Tục thích thị kê cổ lược quyển

2 chép, thì vào năm Hồng vũ 15 (1382) đời

Minh, các tự viện trên khắp nước Trung

quốc được chia làm 3 loại:Thiền,Giảng,

Giáo. Công việc chính yếu của Giảng viẹn

là giảng rõ ý chỉ của các kinh.

Vào khoảng năm Nguyên hựu (1086-

1094) đời Bắc Tống, sư Nghĩa thiên –người

Cao li– đến Trung quốc học đạo, trụ ở Tuệ

nhân cổ tự, vốn là Thiền viện, sau đổi làm

Giảng viện. Chùa viện ở Nhật bản cũng noi

theo qui chế này, như chùa Quang minh ở

Lật sinh tại Sơn thành được đổi thành Quang

minh giảng tự.

[X. Phật tổ thống kỉ Q.48; Thích thị kê

cổ lược Q.4; Tứ minh tôn giả giáo hành lục

Q.1 phần thứ 12].

GIAO CÁT

Bàn giao những đồ vật công tư trước sự

chứng kiến của chúng tăng. Trong Tăng

đường thuộc Thiền tông, khi có sự thay đổi

chức vụ thì hai nhân viên mới và cũ cùng

kiểm tra lại những đồ vật công và tư trước

khi bàn giao cho nhau, gọi là Giao cát.

Điều Nhập viện giao cát châm cơ thập

vật, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng

thanh qui quyển thượng (Đại 48, 1127

thượng), nói: “Sau khi nhận chức vụ, vị Tân

trụ trì phải mời các vị Cần cựu (những chức

viên đã nghỉ việc) của Đông tự và Tây tự

đến dùng trà để hỏi các việc trong sơn môn

cho rõ ràng, như sổ sách, đồ vật, theo từng

mục mà bàn giao (giao cát), tính toán tiền

bạc, gạo thóc, ghi chép chi tiết, phân minh

để đề phòng sự thất thoát thâm lạm”.

Điều Liêu xá giao cát thập vật, chương

Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh

qui quyển hạ (Đại 48, 1135 thượng), chép:

“Hai vị chức sự mới, cũ bàn giao cho nhau,

phàm đồ vật cái nào hư hỏng thì thường trụ

sửa chữa, cái nào thất thoát thì bản liêu phải

bồi thường”.

Ngoài ra, hai người cùng kiểm điểm sự

vật, gọi là Giao điểm; bàn giao tiền của, gọi

là Giao thu; hai người mới và cũ thay nhau

bàn giao, gọi là Giao thừa.

[X. Bách trượng thanh qui chứng nghĩa

kí Q.6; Pháp sơn tháp đầu tịnh tiểu phương

trượng giao cát trướng; Oánh sơn hòa thượng

thanh qui Q.hạ; Loại tụ danh vật khảo

Q.188].

GIAO ĐƯỜNG

Bàn giao chức vụ trông nom Tăng đường

cho người trực kế tiếp.

GIAO ĐƯỜNG

 

G

1969

Trong Thiền lâm, sau khi “Khai tĩnh”

(báo thức) buổi sáng vị Trực đường có trách

nhiệm trông coi áo bát, mùng mền và vật

dụng của chúng tăng, từ sáng đến tối, không

phải tụng kinh, không đi ra ngoài, không

vào các liêu xá khác chỉ chuyên giữ phận sự

này cho đến giờ “phóng tham” (giờ tham

thiền buổi tối kết thúc), mới bàn giao nhiệm

vụ cho vị Trực đường kế tiếp thay phiên.

Lúc bàn giao, phải theo thứ tự giao tấm thẻ

trực đường, gọi là Giao bài. Về thứ tự luân

phiên thì bắt đầu từ giường thứ hai ở gian

trên của Tăng đường, mỗi ngày một người,

lần lượt giao phó thẻ Trực đường, khi đến

người cuối cùng thì lại trở lại người đầu.

[X. điều Trực đường trong Thiền uyển

thanh qui Q.4; môn Tùng quĩ trong Thiền

lâm tượng khí tiên].

GIAO LỘ

Những giọt sương mai giao thoa nhau.

Ví dụ những viên ngọc báu trang sức óng

ánh xen lẫn, đan dệt vào nhau, giống như

những giọt sương mai lấp lánh dưới ánh mặt

trời vừa mọc, tạo thành quang cảnh lung

linh rực rỡ.

Phẩm Tựa trong kinh Pháp hoa quyển 1

(Đại 9, 3 trung), nói: “… Đều có một nghìn

cờ phướn, màn ngọc xen nhau, chuông báu

hòa âm”.

Ngoài ra, kinh Vô lượng thọ quyển

thượng miêu tả: Giảng đường, tinh xá, cung

điện, lâu các, v.v… ở Tịnh độ cực lạc đều do

bảy thứ quí báu tự nhiên hóa thành; và đều

dùng những hạt chân châu, minh nguyệt ma

ni, giao lộ che phủ ở trên.

Theo sự giải thích của ngài Cảnh hưng

trong Quán vô lượng thọ kinh sớ, thì bức

màn làm bằng những viên ngọc báu xen

lẫn, đan dệt vào nhau, được treo rủ xuống,

trông lấp lánh, óng ánh, lung linh giống

như những hạt sương dưới ánh nắng ban

mai, nên gọi là Giao lộ.

[X. kinh Tự thệ tam muội; Huyền ứng

âm nghĩa Q.6].

GIÁO

Phạm:Sàstra.

Dịch âm: Thiết sa đát la.

Dịch ý: Hiệu, huấn.

Lời dạy bảo của Thánh nhân khiến mọi

người làm theo, tức là ngôn giáo năng thuyên.

Đây là tiếng chỉ chung cho giáo pháp mà

đức Phật đã nói trong một đời và những

đạo lí của các bậc Thánh bồ tát đã dạy.

Thông thường kinh giáo của Phật được

chia làm hai loại là Đại thừa giáo và Tiểu

thừa giáo. Trong đó còn được chia ra: Tiệm

giáo, Đốn giáo, Quyền giáo, Thực giáo, Nhất

thừa giáo, Tam thừa giáo, Hiển giáo, Mật

giáo, v.v… Cũng có cách phân loại: Tam giáo

(Hữu, Không, Trung), Tứ giáo (Tạng, Thông,

Biệt, Viên), Ngũ giáo (Tiểu, Thủy, Chung,

Đốn, Viên), v.v…

Ngoài ra, những lời dạy bảo của bậc

Thánh, gọi là Thánh giáo, giáo pháp được

biểu đạt bằng lời nói, gọi là Ngôn giáo, Thanh

giáo. Lời nói được dùng làm phép tắc thì gọi

là Giáo pháp. Lời dạy được dùng như con

đường để đi theo, gọi là Giáo đạo. Nói theo

các phương diện: “Chứng” gọi là Giáo chứng;

“Quán” gọi là Giáo quán; “Thiền” gọi là Giáo

thiền; “Hành chứng” gọi là Giáo hành chứng;

“Hành tín chứng” gọi là Giáo hành tín

chứng; “Lí hành quả” gọi là Giáo lí hành

quả; “Cảnh lí hành quả” thì gọi là Cảnh giáo

lí hành quả.

[X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.1 phần trên;

Tứ giáo nghĩa Q.1].

GIÁO BỊ THẬP CƠ

Đức Như lai nói pháp Viên đốn Nhất

thừa trong kinh Hoa nghiêm để hóa độ cho

GIÁO BỊ THẬP CƠ

 

G

1970

10 loại căn cơ. Đó là:

1. Bị vô tín cơ: Chúng sinh tà kiến không

có căn lành, chẳng những không tin nhận

chính pháp mà còn sinh lòng phỉ báng, nên

bị rơi vào các con đường ác; nhưng, nhờ nghe

kinh này (Hoa nghiêm) mà huân tập được

chủng tử thiện căn.

2. Bị vi chân cơ: Những kẻ chê bai kinh

này để cầu danh lợi mà nói pháp bất tịnh,

tuy trái với giáo pháp chân chính, nhưng

đức Phật vì lòng từ bi, không nỡ bỏ họ.

3. Bị quai thực cơ: Người cố chấp văn

tự, ngôn ngữ mà trái với lí chân thực, nhưng

nhờ nghe kinh này nên cũng gieo được hạt

giống lành.

4. Bị hiệp liệt cơ: Hàng Nhị thừa (Thanh

văn, Duyên giác) căn khí nhỏ hẹp, cho nên

khó hiểu được kinh này, nhưng nhờ nhân

lành kiếp trước, nên tuy nghe không hiểu

mà cũng được lợi ích.

5. Bị thủ quyền cơ: Người chấp vào

Quyền giáo và Tiểu giáo, không tin nơi giáo

pháp Viên dung đầy đủ mọi đức, nhưng

nhờ ơn nhiêu ích của Phật, cuối cùng có

thể tỉnh ngộ.

6. Bị chính vị cơ: Đức Phật vì hàng căn

cơ Nhất thừa viên đốn mà tuyên thuyết giáo

pháp cụ đức, khiến cho họ tin hiểu ngộ nhập,

vào biển Liên hoa tạng.

7. Bị kiêm vị cơ: Người nghe kinh này,

tuy chưa ngộ nhập, nhưng nếu tin nhận thì

cũng có thể thành hạt giống bền chắc.

8. Bị dẫn vị cơ: Đối với hàng Bồ tát

thập địa, đức Phật dùng nghĩa Lục tướng

viên dung, mượn danh Tam thừa hàng bố,

để gửi gắm vào đó ý nghĩa thù thắng, làm

cho những người cố thủ Tiểu thừa giáo tin

nhận, mà vào viên dung.

9. Bị quyền vị cơ: Hàng Nhị thừa tiểu

căn là do hàng Bồ tát Đại thừa dùng phương

tiện khéo léo tạm thời thị hiện, để tỏ rõ rằng

hàng Nhị thừa tiểu căn cũng có thể ngộ nhập

Đại thừa viên đốn.

10. Bị viễn vị cơ: Đức Phật nói kinh

này khiến cho hàng phàm phu, ngoại đạo,

xiển đề vô tính và tất cả chúng sinh đời vị

lai, những người hiện tại không tin, kiếp sau

ắt được ngộ nhập. Đó là nhờ sự huân tập

chủng tử thiện đã từ xa xưa.

GIÁO CHỦ

Vị sáng lập ra một tông giáo, hoặc người

chủ trì giáo đoàn, hoặc chỉ cho người giáo

hóa, tức là vị chủ tôn tuyên thuyết kinh giáo.

Phật giáo do đức Phật Thích ca mâu ni

sáng lập, nên Ngài được coi là Giáo chủ của

Phật giáo, phổ thông tôn xưng là “Đại Ân

Giáo Chủ”.

Đến đời sau, giữa các tông phái có những

quan niệm khác nhau đối với thân Phật, nên

phát sinh nhiều thuyết bất đồng về vị giáo

chủ tuyên thuyết các kinh pháp.

I. Giáo chủ kinh Hoa nghiêm.

Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển

2 nêu ra 3 thuyết:

1. Giáo chủ kinh Hoa nghiêm là Hóa

thân Phật: Đức Phật Thích ca hiện đủ tướng

thành Phật dưới gốc cây Bồ đề tuyên thuyết

kinh Hoa nghiêm là Hóa thân.

2. Giáo chủ kinh này là Thực báo thân:

Tức là thân pháp giới Tì lô giá na. Đức Phật

này trụ ở cõi Tịnh độ Liên hoa tạng, có đầy

đủ 21 thứ công đức thù thắng.

3. Giáo chủ kinh này là Thập thân Phật,

thân này hiện chung cho cả ba thế gian,

thuyết pháp cho hàng Thập tín, Tam hiền

nghe và trùm khắp pháp giới.

II. Giáo chủ kinh Pháp hoa.

Pháp hoa văn cú kí chủ trương Giáo chủ

của kinh Pháp hoa là Báo thân Phật, cũng

giống với kinh Hoa nghiêm, đều do đức Phật

Lô giá na tuyên thuyết. Duy có điều là: Tông

Thiên thai cho rằng Giáo chủ của kinh Hoa

nghiêm chỉ là Báo thân mà thôi, còn Giáo

chủ kinh Pháp hoa thì là “Ứng thân tức Báo

GIÁO CHỦ

 

G

1971

thân” (Thích ca tức Giá na). Đây là điểm

bất đồng lớn nhất giữa tông Hoa nghiêm và

tông Thiên thai.

III. Giáo chủ kinh Đại nhật.

Vấn đề này, giữa các nhà Mật giáo xưa

nay tranh luận rất sôi nổi và kết quả là đã

nêu ra bảy thuyết quan trọng:

1. Tự tính thân: Theo luận Hiển Mật

nhị giáo quyển thượng và Bí tạng bảo thược

quyển thượng, thì Giáo chủ của kinh Đại

nhật là Tự tính pháp thân Đại tì lô giá na.

2. Mạn đồ la Trung đài gia trì thân, gọi

tắt: Trung đài gia trì thân. Cứ theo Đại nhật

kinh sớ quyển 1, thì Giáo chủ kinh này là

thân Gia trì tôn đặc, nhờ thần lực tự tại gia

trì nên từ trong tâm vương Tì lô giá na mà

hiện khởi. Còn theo Đại nhật kinh sớ quyển

3, thì nhờ sức gia trì của Như lai mà từ công

đức tự chứng của Phật Bồ đề hiện thân Bát

diệp trung đài Thai tạng.

3. Tự thụ dụng thân: Do Thai Mật (Mật

giáo của tông Thiên thai Nhật bản) lập ra.

Cứ theo Đại nhật kinh sớ sao của ngài Viên

trân, thì Giáo chủ kinh Đại nhật là Tự thụ

dụng thân.

4. Tha thụ dụng thân: Tức là Tự tính

pháp thân gia bị cho Tha thụ dụng thân để

nói pháp Tự nội chứng.

5. Tam chuyển nhất thể thân: Lí thân và

Trí thân ngầm hợp làm Gia trì thân (tức

Tha thụ dụng thân) là Giáo chủ của kinh

Đại nhật. Ba thân này vốn cùng là một thân

Phật mà thị hiện làm 3 loại, cho nên gọi là

Tam chuyển nhất thể thân.

6. Tam điểm cụ túc Phật thân: Tức là

thân có đầy đủ ba phương diện Lí, Trí, Sự là

Giáo chủ của kinh Đại nhật.

7. Tứ thân: Tùy tự ý thân nói trong kinh

Đại nhật được chia làm bốn thân: Pháp thân,

Báo thân, Ứng thân và Đẳng lưu thân, trong

đó, Pháp thân là Giáo chủ của kinh Đại nhật.

[X. Phật địa kinh luận Q.1; Pháp hoa

văn cú Q.9 phần dưới; Hoa nghiêm ngũ

giáo chương Q.3; Hoa nghiêm kinh tùy sớ

diễn nghĩa sao Q.4; Kim quang minh văn

cú Q.2 phần dưới; Tứ minh tôn giả giáo hành

lục Q.4].

GIÁO CHỨNG

Cũng gọi Văn chứng.

Chứng cứ của Thánh giáo được hiển bày

trong các kinh luận, còn khi chứng minh về

mặt lí luận thì gọi là Lí chứng.

(xt. Giáo Chứng Nhị Đạo).

GIÁO CHỨNG NHỊ ĐẠO

Gọi chung Giáo đạo, Chứng đạo hoặc

Giáo hành, Chứng hành.

Dùng lời để giảng thuyết gọi là Giáo, căn

cứ vào giáo thuyết mà thực hành gọi là Giáo

đạo hoặc Giáo hành. Thực hành khế hợp

chân lí thì gọi là Chứng đạo hoặc chứng

hành, cả hai hợp lại gọi là Giáo chứng.

Thập địa kinh luận lấy kinh A hàm làm

Giáo, rồi đem kết hợp với Chứng mà bàn

rộng ra. Tông Thiên thai căn cứ theo đó mà

chia tất cả hành pháp làm hai môn là: Ước

hành và Ước thuyết. Ước hành tức quán

hạnh thực tu của hành giả; Ước thuyết tức

là giáo pháp phương tiện năng thuyên. Hai

môn này lại được chia làm 4 môn:

1. Giáo đạo ước hành môn: Hành giả

trước Thập địa chưa khế hợp lí thể, vẫn còn

phải nương theo ngôn giáo mà tu tập.

2. Chứng đạo ước hành môn: Bồ tát

vào giai vị Thập địa, lí thể đã hiện tiền, lìa

ngôn giáo mà thân chứng pháp chân thực.

3. Giáo đạo ước thuyết môn: Tùy theo

căn cơ và phương tiện nhập địa (vào giai vị

Thập địa) của hàng Bồ tát Địa tiền (trước

Thập địa) mà nói pháp môn cách lịch (cách

biệt nhau, như lí và sự không dung thông

nhau). Chẳng hạn nói chân như bị phiền

não vô minh che lấp, hoặc nói phải lìa hai

GIÁO CHỨNG NHỊ ĐẠO

 

G

1972

bên có, không để tu Chân như quán.

4. Chứng đạo ước thuyết môn: Thuyết

cho Bồ tát Địa tiền nghe về pháp mà Thập

địa đã chứng. Tức là căn cơ thì còn ở hàng

Địa tiền, nhưng pháp chứng được thì tương

xứng với hàng Địa thượng (Bồ tát đã vào

giai vị Thập địa) chứng lí dung thông vô ngại.

Ước hành, Ước thuyết trên đây đều cho

Giáo đạo chỉ là phương tiện tạm thời được

đặt ra, còn Chứng đạo mới chính là chân

thực. Thuyết này là do Chỉ quán phụ hành

truyền hoằng quyết quyển 3 phần 3 và Pháp

hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 6, mượn

thuyết “Giáo chứng nhị đạo” trong Pháp hoa

huyền nghĩa quyển 2 phần dưới để luận

chứng về Quyền (tạm thời), Thực (chân thực)

và giải thích nghĩa Biệt giáo trong Ma ha chỉ

quán quyển 3 phần dưới; cũng tức là để

chứng minh rằng giáo lí kinh Pháp hoa là

chân thực, là Chứng đạo; còn giáo lí các kinh

khác là tạm thời, là Giáo đạo. Đồng thời,

trong bốn giáo hóa pháp mỗi giáo đều có

Giáo đạo và Chứng đạo, trong đó, Giáo,

Chứng của Tạng giáo và Thông giáo là tạm

thời được đặt ra, gọi là Giáo chứng câu quyền.

Còn Giáo, Chứng của Viên giáo thì đều chân

thực nên gọi là Giáo chứng câu thực. Riêng

trong Biệt giáo thì là Giáo quyền, Chứng

thực; vì giáo thuyết của Biệt giáo là phương

tiện tạm thời, dành cho những người không

thể trực tiếp lí giải Viên giáo mà đặt ra, nhưng

chân lí họ chứng ngộ thì cũng đồng như

Viên giáo.

Nói theo Giáo đạo, thì hàng Bồ tát Biệt

giáo và Viên giáo đều có đủ 52 giai vị; nói

theo Chứng đạo, thì Bồ tát Sơ địa của Biệt

giáo đồng với Bồ tát Sơ trụ của Viên giáo.

Đây gọi là Chứng đạo đồng Viên.

Đại thừa nghĩa chương quyển 9 và Hoa

nghiêm kinh sưu huyền kí quyển 3 phần

trên, thì dựa theo thể tướng của Giáo và

Chứng trong Thập địa kinh luận, mà chia

làm chín loại tương đối để giải thích. Đólà:

Hành giáo tương đối, Tu thành tương đối,

Tựu vị phân biệt, Chân vọng phân biệt,

Tướng thực tương đối, Thể đức tương đối,

Thể dụng tương đối, Tự phân thắng tiến

tương đối và Ước thuyên tựu thực tương đối.

[X. luận Đại tì bà sa Q.183; Thập địa

luận nghĩa kí Q.2; Thiên thai tứ giáo nghi

tập chú Q.hạ].

GIÁO CƠ THỜI QUỐC SAO

Gọi đủ: Giáo cơ thời quốc giáo pháp lưu

bố tiền hậu sao.

Gọi tắt: Ngũ nghĩa sao, Ngũ đoạn sao.

Có 1 quyển, do ngài Nhật liên người Nhật

bản soạn.

Nội dung nói về việc hoằng dương Phật

pháp cần phải biết rõ giáo pháp trao truyền

và căn cơ nhận lãnh; thời đại và quốc độ

nào có thể hoằng dương và thứ tự trình bày

giáo pháp như thế nào, thì mới có thể mang

lại lợi ích cho mình và người.

GIÁO ĐOÀN

Đoàn thể được hình thành bởi những

người cùng một tín ngưỡng tụ tập lại ở một

nơi chốn.

Thông thường do người truyền giáo và

tín đồ thụ giáo cấu thành Giáo đoàn. Trong

Phật giáo từ xưa gọi Giáo đoàn là Tăng già

(Phạm,Pàli:Saôgha). Vào thời kì đầu của

Phật giáo nguyên thủy, Tăng già đặc biệt chỉ

cho chúng xuất gia, chứ chưa bao gồm tín

đồ tại gia.

Theo nghĩa rộng, Giáo đoàn chỉ cho toàn

thể Phật giáo, còn theo nghĩa hẹp thì chỉ

riêng cho một tông phái.

GIÁO ĐỐN CƠ TIÊM

Giáo pháp thì không theo thứ bậc mà

hiển bày ngay chỗ sâu xa mầu nhiệm của

GIÁO ĐỐN CƠ TIÊM

 

G

1973

Phật pháp, nhưng người tiếp thu là hạng

căn cơ chậm lụt thì cần phải tu hành theo

thứ tự, tích lũy công đức dần dần, mới có

thể chứng quả.

GIÁO GIỚI LUÂN

Cũng gọi Thuyết pháp luân, Khẩu luân.

Một trong ba luân. Phật nói pháp giáo

hóa chúng sinh, khiến bỏ tà về chính, phá

trừ phiền não.

Chương Tam luân trong Đại thừa pháp

uyển nghĩa lâm chương quyển 6 nói: Giáo

nghĩa là dạy bảo chúng sinh khiến làm điều

thiện; Giới nghĩa là răn đe chúng sinh khiến

dứt việc ác; Luân có hai công dụng là phá

dẹp, trấn áp.

GIÁO GIỚI TÂN HỌC TỈ KHƯU HÀNH HỘ LUẬT

NGHI

Gọi tắt: Giáo giới luật nghi.

Cũng gọi Hành tướng pháp.

Có 1 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào

đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 45.

Nội dung gồm 23 chương 465 điều, nói

về các luật nghi mà vị tỉ khưu (hoặc sa di?)

mới học phải vâng giữ. Ở đầu quyển có lời

tựa của chính tác giả, đại ý cho rằng việc

nghiên cứu nghĩa học rất được ưa chuộng,

mà các thiện luật nghi thì dần dần đi đến

chỗ phế bỏ. Nhưng muốn hộ trì chính pháp,

phát huy Di giáo, thì không thể không coi

trọng luật qui, đó là lí do soạn ra sách này.

GIÁO HÀNH

Gọi chung Giáo và Hành.

Giáo là giáo pháp của Phật; Hành là

chúng sinh nương vào giáo pháp mà tu hành.

Bài tựa trong Tứ minh tôn giả giáo hành lục

(Đại 46, 856 trung), nói: “Pháp môn của tông

Thiên thai đều nương vào giáo mà lập hành,

dùng hành để hiển rõ giáo”.

Thập bất nhị môn thì nói: “Quán tâm là

then chốt của giáo hành”. Còn Tứ phần luật

hành sự sao tư trì kí quyển thượng phần 1

cũng nói: “Nếu nói giáo thì chỉ qui về tạng

luật, nếu nói hành thì chuyên theo giới khoa”.

GIÁO HÀNH CHỨNG

Cũng gọi Giáo hành quả.

Gọi chung Giáo, Hành, Chứng.

Giáo là giáo pháp của Phật; Hành là

chúng sinh theo giáo pháp mà tu hành;

Chứng là nhờ tu hành mà được chứng ngộ.

Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương

quyển 6 phần đầu, đem Giáo, Hành, Chứng

phối hợp với ba thời Chính pháp, Tượng

pháp và Mạt pháp. Nghĩa là đầy đủ cả Giáo,

Hành, Chứng gọi là Chính pháp, có đủ Giáo

và Hành gọi là Tượng pháp, chỉ có Giáo

không thôi thì gọi là Mạt pháp.

[X. Thập địa kinh luận Q.3; Pháp hoa

huyền nghĩa Q.5].

GIÁO HÀNH LÍ

Giáo là giáo pháp thích ứng theo cơ

duyên; Hành là tu nhân để chứng quả; Lí là

chân lí do lời nói và danh tướng hiển bày.

Pháp hoa huyền nghĩa quyển 1 phần dưới

(Đại 33, 691 thượng), nói: “Đặt ra hai tên

gọi này là căn cứ theo ba ý nghĩa: Giáo, Hành,

Lí. Theo duyên nên Giáo khác nhau, theo

thuyết nên Giáo thông nhau. Theo năng khế

nên Hành khác nhau, theo sở khế nên Hành

thông nhau. Lí theo danh tướng nên khác

nhau, danh tướng theo Lí nên thông nhau”.

Nghĩa là cơ duyên chúng sinh tuy mỗi mỗi

khác nhau, nhưng giáo thuyết đều thuộc Phật

pháp. Pháp môn chúng sinh tu tập tuy mỗi

mỗi khác nhau, nhưng lí của sự tu hành thì

vẫn là một. Lí tuy có nhiều tên gọi, nhưng lí

căn bản thì không khác.

GIÁO HÀNH LÍ

 

G

1974

GIÁO HÀNH TÍN CHỨNG

Gọi đủ: Hiển tịnh độ chân thực giáo

hành chứng văn loại.

Gọi tắt: Tịnh độ văn loại, Văn loại,

Quảng văn loại, Quảng bản, Bản điển.

Gồm 6 quyển, do ngài Thân loan người

Nhật bản soạn, thu vào Đại chính tạng tập

83. Đây là bộ Thánh điển căn bản phát huy

giáo nghĩa của Tịnh độ chân tông Nhật bản.

Nội dung chia làm 6 quyển (phần) là:

Giáo, Hành, Tín, Chứng, Chân Phật độ và

Hóa thân độ. Năm quyển đầu thuyết minh

về giáo chân thực, quyển 6 thì nói rõ về giáo

phương tiện. Giáo là chỉ cho kinh Đại vô

lượng thọ; Hành là niệm sáu chữ danh hiệu

Na mô A di đà Phật; Tín là nhân chính của

sự vãng sinh, cũng là lòng tin đối với đức

Phật A di đà; Chứng là nhờ Hành, Tín mà

được chứng quả. Chân Phật độ tức là Tịnh

độ, nghĩa là pháp môn phát xuất từ Tịnh độ

rồi lại trở về Tịnh độ. Lại nói: Trong Hóa

thân độ tu hành giáo phương tiện để hiển

rõ “Chân”(Chân Phật độ) và “ngụy”(Hóa

thân độ).

Bộ sách này có rất nhiều bản chú sớ,

nhưng quan trọng hơn cả thì có “Giáo hành

tín chứng đại ý” của ngài Giác như.

GIÁO HÀNH TÍN CHỨNG ĐẠI Ý

Cũng gọi Tứ pháp đại ý, Giáo hành tín

chứng danh nghĩa.

Có 1 quyển, do ngài Giác như (có chỗ

nói do ngài Tồn giác) thuộc Tịnh độ chân

tông Nhật bản soạn.

Nội dung trình bày về đại ý trong bộ

“Giáo hành tín chứng” 6 quyển của ngài

Thân loan.

Về chú sớ sách này thì có: Lược giải 1

quyển (Đạo chấn), Quản khuy lục(Thiện

nhượng), Thính kí 1 quyển(Tuấn lãnh).

GIÁO HÓA

I. Giáo Hóa.

Phạm:Pari-pac.

Đồng nghĩa với Khai hóa, Nhiếp hóa,

Thi hóa, Khuyến hóa.

Dạy bảo, cảm hóa. Nghĩa là dùng thiện

pháp để dạy bảo chúng sinh, khiến họ được

cảm hóa mà xa lìa ác pháp.

Như kinh nói: Chuyển pháp luân vô

thượng, giáo hóa các Bồ tát và vô lượng chúng

sinh, khiến cho họ an trụ trong đạo chính

chân vô thượng.

[X. kinh Đại bản trong Trường a hàm

Q.1; kinh Tăng nhất a hàm Q.1; kinh Pháp

hoa Q.4].

II. Giáo Hóa.

Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản.

Một loại tán ca được xướng tụng trước

Phật lúc cử hành pháp hội.

GIÁO HÓA ĐỊA

Địa vị Bồ tát có khả năng giáo hóa chúng

sinh.

Chỉ cho Bồ tát từ địa thứ 8 trở lên. Bồ

tát từ địa vị này trở lên đã dứt trừ phần đoạn

sinh tử, được vô lậu tương tục và định tuệ

tự tại, cho nên có thể nhậm vận giáo hóa

chúng sinh trong 10 phương.

Ngoài ra, nơi thực thi việc giáo hóa cũng

gọi là Giáo hóa địa.

[X. luận Đại trí độ Q.86; Vãng sinh luận

chú Q.hạ].

GIÁO HÓA ĐỊA ÍCH

Nơi giáo hóa làm lợi ích chúng sinh.

Nghĩa là người vãng sinh Tịnh độ cực

lạc được năm loại quả tướng (Ngũ công đức

môn), trong đó, loại thứ 5 là “Lâm viên du

hí địa môn”, có đủ công đức “hoàn tướng

GIÁO HÓA ĐỊA ÍCH

 

G

1975

hồi hướng”(hiện thân tướng trở về lại cõi Sa

bà). Tức ở trong môn thứ 5 này, dùng tâm

đại từ bi quán xét chúng sinh khổ não, rồi

thị hiện Ứng thân, trở lại thế giới Sa bà,

bằng thần thông du hí và sức bản nguyện,

cứu vớt chúng sinh ra khỏi biển sinh tử.

[X. luận Vãng sinh; Vãng sinh luận chú

Q.hạ]. (xt. Ngũ Công Đức Môn).

GIÁO HÓA ĐỊA NGỤC KINH

Cũng gọi Tội nghiệp ứng báo giáo hóa

địa ngục kinh, Địa ngục báo ứng kinh.

Có 1 quyển, do ngài An thế cao dịch vào

đời Hậu Hán, thu vào Đại chính tạng tập 17.

Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật

theo lời thỉnh cầu của bồ tát Tín tướng mà

nói rõ về nguyên nhân đời trước của những

chúng sinh đang chịu tội khổ trong địa ngục,

ngã quỉ, súc sinh, nô tì v.v…, đồng thời, Ngài

dạy nếu chúng sinh làm các việc thiện ở thế

gian, qui y Tam bảo, tu hành lục độ, tứ vô

lượng, v.v… thì sẽ xa lìa khổ đau và được

yên vui mãi mãi.

GIÁO HỐI SƯ

Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản.

Người làm công tác khuyên bảo, hướng

dẫn các phạm nhân trong nhà tù, khiến họ

sinh hoạt theo đúng kỉ luật.

Chức vụ này phần nhiều do các nhà tông

giáo đảm nhiệm, nhưng thường thì do các

mục sư Cơ đốc giáo, chứ giới nhân sĩ Phật

giáo Nhật bản thì ít ai chịu làm việc này.

Nhưng, từ năm Minh trị 19 (1886) trở về

sau, chức Giáo hối sư phần nhiều do các sư

thuộc phái Chân tông đảm nhiệm.

GIÁO KHỞI NHÂN DUYÊN

Lí do thành lập giáo pháp.

Ở đầu mỗi bộ kinh, thường có một đoạn

văn trình bày về nhân duyên (nguyên do)

thành lập giáo pháp, được gọi là Tự phần,

Tự văn(phần tựa, văn tựa).

Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1,

thì do vô lượng nhân duyên mà đức Như lai

tuyên thuyết kinh Hoa nghiêm được thành

tựu, vì thế gọi là Giáo khởi nhân duyên. Hai

chữ Nhân, Duyên, mỗi chữ được mở ra 10

nghĩa để hiển bày lí vô tận.

I. Giáo Khởi Thập Nhân.

1. Pháp ưng nhĩ: Pháp vốn như thế,

nghĩa là đức Như lai xuất hiện, tất nhiên

tuyên thuyết kinh Hoa nghiêm, Phật Phật

đều giống nhau thì pháp cũng như thế, cho

nên chư Phật ở trong thế giới vô tận, thường

chuyển pháp luân vô tận, để khiến chúng

sinh trở về nguồn gốc.

2. Thù túc nhân: Như lai nói pháp là

để đáp lại nhân phát nguyện ở đời trước.

3. Thuận cơ cảm: Như lai thuyết giáo là

do thuận theo cơ duyên, cảm ứng.

4. Vị giáo bản: Trước hết, Như lai nói

pháp Nhất thừa viên đốn để làm phần gốc

của các giáo, rồi sau mới dần dần lập bày ra

phần ngọn của giáo để chỉ dạy hàng Nhị

thừa.

5. Hiển quả đức: Như lai hiển bày về

thế giới Hoa tạng, về quả đức y chính báo

của 10 thân vi diệu để khiến chúng sinh tin

ưa khẩn cầu.

6. Chương địa vị: Kinh Hoa nghiêm nêu

rõ địa vị tu hành của Bồ tát có:

-Hàng bố vị: Từ nhân đến quả sắp xếp

thứ tự và phân chia các giai vị để theo đó

mà tiến tu.

-Viên dung vị: Trong một vị gồm thu

tất cả vị.

7. Thuyết thắng hạnh: Như lai tuyên

nói diệu hạnh thù thắng, khiến tất cả Bồ tát

và chúng sinh nương theo giáo mà lập hạnh,

tinh tiến tu hành để cầu chứng nhập.

8. Thị chân pháp: Như lai hiển bày pháp

chân thực, khiến chúng sinh mở tỏ thấu lí.

GIÁO KHỞI NHÂN DUYÊN

 

G

1976

9. Khai nhân tín: Như lai chỉ bảo rõ nhân

quả của chân pháp và thắng hạnh đều là tính

đức vốn có của tất cả chúng sinh.

10. Lợi kim hậu: Như lai nói pháp khiến

tất cả Bồ tát và chúng sinh đời này đời sau

đều nghe biết và được lợi ích lớn.

II. Giáo Khởi Thập Duyên.

1. Y thời: Thời, tức là thời gian nói kinh

Hoa nghiêm. Nghĩa là một niệm của Như

lai hàm chứa nhiều kiếp, vốn không giới hạn

thời gian, nay dùng thời gian vô hạn nói

qua về 10 thời để liên tục diễn nói kinh này.

2. Y xứ: Xứ, tức là nơi chỗ nói kinh Hoa

nghiêm. Nghĩa là chư Phật, Bồ tát ở khắp

10 phương vi trần cõi nước, cho đến mỗi

mỗi đầu mảy lông đều có bảy nơi chín hội

để diễn nói kinh này, giống như tấm lưới

của Đế thích, trùng trùng vô tận.

3. Y chủ: Chủ, tức Giáo chủ của kinh

Hoa nhiêm. Nghĩa là đức Phật Tì lô giá na

hiện thân mây trong pháp giới vô tận, trùm

khắp các cõi nước trong 10 phương nhiều

như bụi nhỏ để tuyên thuyết kinh này.

4. Y tam muội: Tam muội, tức chính

định. Nghĩa là trước khi nói kinh này, đức

Phật vào chính định để tĩnh lặng quán xét

pháp lí, quyền thực rõ ràng, sau đó mới xuất

định ứng cơ thuyết pháp.

5. Y hiện tướng: Tướng, tức trước khi

nói kinh Hoa nghiêm thì tướng tốt lành hiện

ra. Nghĩa là ở các hội, lúc sắp nói pháp thì

có các tướng tốt lành hiện ra như: phóng

hào quang, mặt đất rúng động, mây thơm,

mưa hoa, v.v… để mọi loài cùng biết.

6. Y thuyết nhân: Thuyết nhân, tức

người nói pháp. Nghĩa là Phật pháp không

có thịnh, suy, chỉ do người truyền bá.

7. Y thính nhân: Thính nhân, tức là

người nghe pháp. Nghĩa là đức Phật nói

pháp nếu không có ai nghe thì chẳng bao

giờ nói.

8. Y đức bản: Thuyết kinh nên lấy trí

tuệ, hạnh nguyện làm gốc, nếu trong không

có đức bản thì ngoài lấy gì để nói.

9. Y thỉnh nhân: Người nói pháp nếu

không có ai thưa hỏi thì có thể tự mình nói,

nếu được người thưa hỏi thì phải kính pháp

trọng người, sau khi được thưa thỉnh một

cách chân thành mới nói pháp.

10. Y năng gia: Đức Như lai dùng thần

lực gia bị cho hàng Bồ tát để nói pháp. Gia

bị chia làm 2 loại:

-Hiển gia: Phật dùng thần lực của ba

nghiệp để gia hộ rõ ràng.

-Minh gia: Phật dùng trí tuệ để gia hộ

một cách kín đáo.

GIÁO KHU

Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản.

Khu vực hành chính tự trị của một tông

phái Phật giáo.

Ở Nhật bản, từ Minh trị trở về sau, Phật

giáo bắt chước cách tổ chức thống lãnh tín

đồ ở một địa hạt nào đó của Cơ đốc giáo,

hoặc chia từng khu vực để tiện việc quản lí

giáo hội ở Mĩ quốc.

Giáo khu khác với khu vực hành chính

của nhà nước. Dưới Giáo khu chia làm nhiều

khu vực nhỏ gọi là “Tổ”, dưới tổ lại chia

làm nhiều “Bộ”, đây là tổ chức về mặt thống

nhất quản lí các chùa viện.

Sự thành lập và phát triển Giáo khu của

các tông phái không giống nhau, nhưng đại

khái một Đại giáo viện được thiết lập ở Trung

ương, ở các tỉnh đặt những Giáo viện vừa

và nhỏ trực thuộc Đại giáo viện ở Trung

ương. Đây là lần đầu tiên các tông phân chia

Giáo khu, tức vào đầu thời Minh trị, khi

Thần Phật được hợp nhất. Năm Minh trị

thứ 8 (1875), khi các phái thuộc Chân tông

tách riêng ra nên Thần Phật Đại giáo viện

bị bãi bỏ. Sau khi được phép thiết lập lại

Đại giáo viện, thì các tông phái tự qui định

việc tổ chức giáo khu, từ đó dần dần trở

thành chế độ hiện hành.

GIÁO KHU

 

G

1977

GIÁO KÍNH

Kinh giáo được ví dụ như tấm gương.

Nghĩa là nương vào kinh giáo mà tu hành

quán chiếu thì có thể phát sinh trí tuệ, rõ

suốt tâm mình, giống như người ta soi gương

liền thấy rõ diện mạo của mình, nhờ đó sửa

lại dung nghi cho hợp cách.

Ngoài ra, còn có từ ngữ “Giáo dược”,

nghĩa là kinh giáo được ví như thuốc hay,

có thể chữa lành các bệnh phiền não của

chúng sinh, cho nên gọi là Giáo dược.

[X. Quán kinh sớ tự phần nghĩa; Tứ phần

luật hàm chú giới bản sớ Q.1 phần trên].

GIÁO LÊNH LUÂN

Giáo lệnh, là giáo chỉ của đức Như lai

ban phát ra để giáo hóa lợi ích chúng sinh.

Luân (bánh xe), vốn là một loại vũ khí của

Ấn độ xưa, có tác dụng phá dẹp.

Giáo lệnh của đức Đại nhật Như lai trong

Mật giáo rất cứng chắc, có khả năng phá trừ

phiền não của các chúng sinh ngang bướng

khó dạy, giống như bánh xe báu của Chuyển

luân Thánh vương, vì thế gọi là Giáo lệnh

luân.

Cứ theo Lí thú thích quyển hạ, đức Phật

Tì lô giá na thuyết pháp gọi là “Chuyển pháp

luân” (quay bánh xe pháp). Luân có 4 loại

là: Kim cương luân, Bảo luân, Pháp luân và

Yết ma luân. Bốn luân này đều bao hàm

trong hai luân là Chính pháp luân và Giáo

lệnh luân.

GIÁO LÊNH LUÂN THÂN

Thân thi hành giáo lệnh. Một trong ba

Luân thân.

Để cứu độ những chúng sinh ngang

ngược khó dạy, đức Như lai hiện ra những

thân hình phẫn nộ, dữ tợn để khiến chúng

tuân theo giáo lệnh của Ngài.

Bí tạng kí đem năm vị tôn Phẫn nộ là

Bất động minh vương, Hàng tam thế minh

vương, Quân đồ lợi minh vương, Lục túc

tôn và Kim cương dạ xoa minh vương phối

hợp với năm trí, năm Phật mà mỗi mỗi trở

thành Giáo lệnh luân thân là Đại nhật Như

lai, A súc Phật, Bảo sinh Phật, Vô lượng thọ

Phật và Bất không thành tựu Phật.

[X. Lí thú thích Q.hạ]. (xt. Tam Luân Thân).

GIÁO LÍ

Hi lạp: Dogma.

Cũng gọi: Giáo nghĩa.

Giáo thuyết có đủ quyền uy và tính

quyết định, nhưng không phải chỉ cho loại

ý kiến riêng. Nói cụ thể hơn, đó là ngôn

luận của những bậc Giáo tổ các tông giáo

hoặc của những vị Thủy tổ của các học phái

triết học.

Đối với tín đồ, thì loại ngôn luận này có

giá trị tín ngưỡng sâu đậm và đầy quyền uy.

Nếu giản minh hóa, thì giáo lí này sẽ trở

thành kinh điển hoặc những tín điều. Cho

nên nhìn từ bên ngoài, loại giáo lí này thường

được coi là Độc đoán luận (Dogmatism) và

bị phê phán.

Trong Phật giáo, danh từ giáo lí thường

được các học giả nước ngoài gọi là Doctrine

theo Anh ngữ, là chỉ cho lời dạy của đức

Phật, vì từ những lời dạy này mà chân lí

được hiển bày. Nhưng, đức Phật hoàn toàn

không coi giáo lí đó là mô hình cố định mang

tính quyền uy, mà chỉ muốn tín chúng và

đệ tử theo đó tu hành để cầu giải thoát. Đây

là điểm sai khác rất lớn giữa Phật giáo và các

tông giáo khác.

(xt. Phật Giáo Giáo Lí).

GIÁO LÍ HÀNH QUẢ

Từ ngữ gọi chung giáo, lí, hành, quả,

GIÁO LÍ HÀNH QUẢ

 

G

1978

thông thường gọi là Tứ pháp bảo. Đó là:

Ngôn giáo năng thuyên (lời dạy (Giáo)rõ

ràng), Nghĩa lí sở thuyên(nghĩa lí(Lí)được

giải thích rõ ràng), Tu hành năng thành(sự

tu hành (Hành) thành tựu) và Chứng quả sở

thành(sự chứng quả(Quả) được thành).

Thứ tự tu chứng trong Phật giáo phần

nhiều là dựa vào giáo để rõ lí, nhờ vào lí mà

tu hành, nương vào hành mà chứng quả.

Về ý nghĩa của Giáo lí hành quả, các kinh

luận giải thích có khác nhau:

Cứ theo kinh Đại thừa bản sinh tâm địa

quán quyển 2, thì thanh, danh, cú, văn có

thể phá được vô minh nghiệp chướng thì

gọi là Giáo pháp; các pháp hữu vi, vô vi gọi

là Lí pháp; các hạnh tu giới, định, tuệ gọi là

Hành pháp; diệu quả vô vi, gọi là Quả pháp.

Cứ theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm

chương quyển 6 phần đầu, thì Giáo là âm

thanh, danh, cú, văn, v.v… Lí là lí của Nhị

đế, Tứ đế, có hai loại:

1. Cảnh giới căn bản trí(cũng gọi Vô

phân biệt trí), chính là lí trí bình đẳng nhất

như của thực tướng các pháp, như lí nhị

không.

2. Cảnh giới hậu đắc trí(cũng gọi Quyền

trí, Tục trí), như 16 đế của học phái Chính lí

ở Ấn độ đời xưa.

Hành là nhân hạnh của 3 thừa và các

hạnh lợi mình, lợi người của bậc Thánh; Quả

tức là quả Đại niết bàn, Đại bồ đề mà bậc

vô học trong 3 thừa đạt được.

Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng

quyển 1 phần đầu lại nói trong Tứ pháp

bảo, mỗi thứ đều có 3 loại: Giáo có Vô

nghĩa ngôn(lời nói vô nghĩa), Tà vọng ngôn

(lời nói tà bậy), Như nghĩa ngôn(lời nói đúng

nghĩa); Lí có Tăng ích nghĩa (tăng trưởng

điều lợi ích), Tổn giảm nghĩa, Thuận thể

nghĩa(thuận theo bản thể); Hành có Thuận

thế nhân (nhân hạnh thuận theo thế gian),

Tà tích nhân(nhân hạnh tà vạy), Xử trung

nhân(nhân hạnh trung dung); Quả có Siểm

cuống quả(quả dối láo), Hư vọng quả, Xuất

thế quả.

[X. Quán vô lượng thọ Phật kinh nghĩa

sớ Q.trung; Thành duy thức luận thuật kí

Q.1 phần đầu; Hoa nghiêm kinh thám huyền

kí Q.3]. (xt. Tứ Pháp).

GIÁO NGHĨA

I. Giáo Nghĩa.

Tiếng gọi chung Giáo và Nghĩa. Tức là

ngôn giáo năng thuyên(lời dạy giải thích rõ

ràng) và nghĩa lí sở thuyên (nghĩa lí được giải

thích rõ ràng).

Đại thừa nghĩa chương chia làm hai loại

là Giáo tụ và Nghĩa pháp tụ. Trong đó, Giáo

tụ lập ba môn, Nghĩa pháp tụ thuyết 26 môn.

Theo ý tông Hoa nghiêm nếu bàn về sự

ngang nhau thì Tam thừa và Nhất thừa đều

có đủ Giáo và Nghĩa, nhưng nếu chỉ lấy pháp

duyên khởi vô tận làm nghĩa, thì ngoài Biệt

giáo nhất thừa ra, tất cả đều là Giáo chứ

không phải là Nghĩa.

[X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1;

Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.11].

II. Giáo Nghĩa.

Cũng gọi là Giáo lí.

Nghĩa lí do mỗi tông phái lập ra để giáo

hóa.

Đại thừa, Tiểu thừa khi phân chia tông

phái, đều có lập ra những giáo thuyết riêng,

như: Giáo nghĩa Thiên thai, giáo nghĩa Hoa

nghiêm, giáo nghĩa Pháp tướng, giáo nghĩa

Câu xá, v.v…

GIÁO NGOẠI BIÊT TRUYỀN

I. Giáo Ngoại Biệt Truyền.

Cũng gọi là Đơn truyền.

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Truyền riêng ngoài kinh giáo, tức là

không nhờ văn tự, ngôn ngữ, mà chỉ thẳng

tâm tính, khiến cho người tu hành ngộ

GIÁO NGOẠI BIÊT TRUYỀN

 

G

1979

nhập cảnh giới Phật. Vì thế nên Thiền tông

còn được gọi là tông Giáo ngoại biệt truyền,

hoặc gọi tắt là tông Biệt truyền. Thiền pháp

này cũng tức là Tổ sư thiền do ngài Bồ đề

đạt ma truyền lại.

Liên đăng hội yếu quyển 1 (Vạn tục 136,

220 hạ) chép: “Trong hội Linh sơn, đức Thế

tôn đưa cành hoa để dạy chúng, tất cả đều

im lặng, chỉ có tôn giả Ca diếp mỉm cười.

Đức Thế tôn bảo: Ta có chính pháp nhãn

tạng, Niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng,

pháp môn vi diệu, không lập văn tự, truyền

riêng ngoài giáo, nay ta trao phó cho ông

Ma ha ca diếp”.

Công án trên đây không những chỉ biểu

thị Thiền gia chú trọng về chính pháp tương

truyền, mà còn tỏ cho thấy Thiền tông

không bị mắc kẹt vào văn tự ngôn ngữ như

Giáo môn, mà trực tiếp liễu ngộ tâm địa

rỗng suốt.

Ngoài ra, theo Hoài thiền sư tiền lục

trong Tổ đình sự uyển quyển 5, thì chư tổ

của Thiền tông lúc đầu truyền pháp cũng

dùng Tam tạng giáo dắt dẫn đệ tử, mãi đến

thời Tổ sư Đạt ma, mới đơn truyền tâm ấn

để phá chấp và nêu rõ tông chỉ.

[X. bài tựa trong Cảnh đức truyền đăng

lục; Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục Q.1;

luận Hưng thiền hộ quốc Q.trung; luận

Truyền pháp chính tông Q.hạ; Ngũ đăng

hội nguyên Q.1; Thiền tông chính mạch

Q.1].

II. Giáo Ngoại Biệt Truyền.

Ngữ lục, 16 quyển do cư sĩ Lê mi (Quách

ngưng chi) biên soạn vào đời Minh, thu vào

Vạn tục tạng tập 144.

Cư sĩ Lê mi tham cứu chỗ sâu xa kín

nhiệm của Thiền tông, nguồn gốc của Phật

tổ, sưu tập các ngữ yếu cơ duyên của các bậc

Tiên đức mà soạn thành sách này, để nêu rõ

tông thừa của Tổ sư và gia phong của mỗi

nhà, giúp người tham thiền học đạo nhận

rõ bản lai diện mục của mình, mà tiếp nối

ngọn đèn của chư Tổ.

Nội dung sách này gồm cơ duyên ngữ

yếu của 110 vị, 38 tắc ẩn danh và lời tựa của

các Thiền sư: Hán nguyệt Pháp tạng, Mật

vân Viên ngộ, Tuyết kiệu Viên tín, v.v…

GIÁO NỘI GIÁO NGOẠI

Hai phương thức giáo hóa của đức Phật.

1. Phương thức giáo nội: Đức Phật dùng

lời nói để truyền trao giáo pháp.

2. Phương thức giáo ngoại: Khác với

phương thức giáo nội, phương thức này bỏ

hết ngôn ngữ, văn tự, chỉ dùng tâm truyền

tâm.

Thiền tông chủ trương “Giáo ngoại biệt

truyền” và gọi tông mình là pháp Giáo ngoại;

mà cho các tông khác nương theo kinh,

luật, luận để thành lập giáo pháp là pháp

Giáo nội.

GIÁO QUÁN BẢN TÔN

Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản.

Từ ngữ gọi chung Giáo môn bản tôn và

Quán môn bản tôn.

Tông Nhật liên của Nhật bản cho rằng

Bản tôn của Giáo môn là những hình tượng

bằng gỗ, còn Bản tôn của Quán môn là Mạn

đồ la bằng chữ, biểu thị Thập giới tròn đủ.

Sự phân biệt về Giáo môn bản tôn và

Quán môn bản tôn đã từng phát sinh tranh

luận. Bởi vì, Mạn đồ la là pháp phương

tiện để quán tâm, còn tượng gỗ là pháp

phương tiện của Giáo tướng. Hai môn Giáo

và Quán có thể miễn cưỡng phân chia,

nhưng Bản tôn thì chỉ có một; như vậy

Giáo, Quán là hai mặt của một thể. Nếu

quán xét từ Diệu giải môn, thì tượng gỗ và

Mạn đồ la cùng là Bản tôn của Giáo môn;

nhưng nếu quán xét từ Diệu hành môn,

thì cả hai đều là Bản tôn của Quán môn, vì

thế không thể phân chia.

GIÁO QUÁN BẢN TÔN

 

G

1980

GIÁO QUÁN CƯƠNG TÔNG

Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí húc

(1599-1655) soạn thuật vào đời Minh, thu

vào Đại chính tạng tập 46.

Sách này nguyên là một bức đồ biểu

mang tên: “Nhất đại thời giáo quyền thực

cương yếu đồ”, nhưng vì quá dài và khó xem

nên mới đổi thành sách.

Nội dung trình bày khái quát về Tứ giáo

hóa nghi, Tứ giáo hóa pháp và Thập thừa

quán trong giáo nghĩa then chốt của tông

Thiên thai. Ở đầu quyển có nói (Đại 46,

936 hạ): “Quán mà không có giáo thì không

chính đáng, Giáo mà không có quán thì

không được lưu truyền”. Do đó mà biết

sách này đứng trên lập trường Giáo và Quán

kiêm tu của tông Thiên thai để giải thích

rõ những điểm cốt yếu của hai môn Giáo,

Quán.

Ngài Trí húc nhận thấy việc tu hành môn

Chỉ quán nói trong Thiên thai tứ giáo nghi

quá vắn tắt, nên mới soạn sách này để bổ

sung. Nếu đọc bộ sách này song song với

Thiên thai tứ giáo nghi, thì người ta có thể

thấu suốt được tinh túy của giáo nghĩa

Thiên Thai.

GIÁO QUÁN NHỊ MÔN

Gọi đủ: Giáo môn quán môn.

Gọi tắt: Giáo quán.

Tức là Giáo tướng môn và Quán tâm

môn, do tông Thiên thai phân chia theo lí

luận giáo nghĩa và phương pháp tu hành

thực tiễn.

Nếu đứng về phương diện lí luận để

phân loại, chỉnh lí, phê phán, từ hình thức

đến nội dung của các giáo pháp trong

Thánh điển Phật giáo, rồi suy cứu đến chỗ

cốt tủy để cấu thành một hệ tư tưởng, thì

gọi là Giáo tướng môn. Ví dụ như bàn về

tướng trạng sai biệt của giáo nghĩa mà chia

làm Ngũ thời, Bát giáo: Đó là Giáo tướng

môn. Còn phương pháp tu hành để thể

nghiệm cái cốt tủy của giáo pháp, hoặc giảng

dạy việc thực hành chân đế, thì gọi là Quán

tâm môn. Ví dụ như thực hành pháp quán

Nhất niệm tam thiên, Nhất cảnh tam đế:

Đó là Quán tâm môn. Hai môn này nương

vào nhau, giúp đỡ nhau mà thành tựu, giống

như hai bánh của chiếc xe, hai cánh của con

chim, không thể thiếu một.

Đối với tông Thiên thai thì hai môn này

là kỉ cương giữ gìn giáo nghĩa, nếu trong đó

có nghiêng về một môn nào thì chỉ là phương

tiện tùy thời. Như trong tác phẩm Tam đại

bộ của tông Thiên thai thì hai bộ Pháp hoa

huyền nghĩa và Pháp hoa văn cú chủ trương

Giáo tướng môn là chính, còn Quán tâm

môn là phụ; trái lại, Ma ha chỉ quán thì nói

Quán tâm môn là chính, mà Giáo tướng môn

là phụ.

Ngoài ra, tông Pháp tướng gọi hai môn

này là Giáo tướng và Quán đạo, Mật giáo

gọi là Giáo tướng và Sự tướng, Tịnh độ chân

tông Nhật bản thì gọi là Giáo tướng và An

tâm. Cách gọi tuy có khác, nhưng ý nghĩa

chủ yếu thì đều là biểu thị hai phương diện

lí luận và thực hành.

[X. Tứ giáo nghi Q.1; Giáo quán cương

tông thích nghĩa Q.thượng; Pháp hoa huyền

nghĩa Q.8 phần dưới].

GIÁO THỂ

Cũng gọi là Kinh thể.

Thể của giáo pháp. Tức là đối với giáo

pháp do đức Phật nói, như 75 pháp của Câu

xá, hoặc 100 pháp của Duy thức, thì quyết

định lấy pháp nào làm thể. Về vấn đề này,

có rất nhiều thuyết.

Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương

quyển 1 phần đầu, căn cứ theo luận Dị bộ

tông luân mà phân biệt về luận thuyết của

GIÁO THỂ

 

G

1981

các nhà, nói rằng các bộ phái Tiểu thừa có

sáu thuyết về giáo thể:

1. Đại chúng bộ, Thuyết xuất thế bộ và

Kê dận bộ chủ trương tất cả giáo pháp của

đức Phật đều là vô lậu, và lấy âm thanh,

danh, cú vô lậu thực có làm giáo thể.

2. Đa văn bộ cho rằng các giáo pháp do

đức Phật nói ra gồm cả hữu lậu và vô lậu,

vì thế, lấy âm thanh hữu lậu hoặc vô lậu

làm thể.

3. Thuyết giả bộ chủ trương sáu xứ là

giả, năm uẩn là thực, cho nên lấy âm thanh,

danh, cú, giả, thực, hữu lậu, vô lậu làm thể.

4. Thuyết nhất thiết hữu bộ chỉ lấy âm

thanh hữu lậu làm thể.

5. Kinh lượng bộ chủ trương âm thanh

không có tác dụng giải bày, bởi vì danh, cú

là giả lập, nên lấy âm thanh hữu lậu làm

thể.

6. Nhất thuyết bộ cho rằng thể của tất

cả pháp chẳng phải có thật, nên lấy âm

thanh, danh, cú vô lậu giả lập làm giáo thể.

Tóm lại, đức Phật tuyên thuyết giáo pháp,

mục đích khiến người ta nghe mà phát sinh

sự hiểu biết chân chính, nên các tông phái,

khi biện luận về giáo thể, cũng không ra

ngoài âm thanh, danh, cú, văn tự, v.v…,

nhưng chỉ vì tông thú khác nhau nên chia

ra giả, thực.

Cũng theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm

chương quyển 1 phần đầu, thì các ngài Long

mãnh, Thanh biện cho rằng trong Thắng

nghĩa đế không thể bàn về giáo thể; còn trong

Thế tục đế thì đều lấy âm thanh, danh, cú,

văn tự… làm giáo thể.

Đại thừa nghĩa chương quyển 1 thì cho

rằng những pháp tương ứng với âm thanh,

văn tự, chương cú là giáo thể.

Pháp hoa huyền nghĩa quyển 8 phần trên,

nêu ra 3 thuyết:

1. Khi đức Phật còn tại thế, dùng thanh

(âm) làm kinh thể.

2. Sau khi Phật nhập diệt, dùng giấy

mực để lưu truyền giáo pháp nên lấy sắc

làm kinh thể.

3. Không nhờ vào lời dạy của người khác

hoặc giấy mực, chỉ tự mình tư duy mà tâm

và pháp hợp nhau nên lấy pháp làm kinh

thể.

Ba chủ trương trên đây chỉ giới hạn ở

thế giới Sa bà, vì chúng sinh ở thế giới này

chỉ có ba thức tai, mắt và ý là bén nhạy, còn

các thức khác thì chậm lụt, cho nên dùng

ba trần thanh, sắc và pháp làm thể. Nhưng

ở các quốc độ khác thì dùng cả sáu trần làm

kinh thể.

Ngoài ra, luận Du già sư địa quyển 81

thì nêu ra hai thứ kinh thể là Văn và Nghĩa,

cho rằng Văn là Sở y của kinh, Nghĩa là Năng

y của kinh.

Các nhà Duy thức cũng chia ra 2 chủ

trương:

1. Chủ trương đức Phật có nói pháp: Các

luận sư Hộ pháp, Tối thắng tử, Thân quang,

v.v… cho rằng bản nguyện của người nghe

là duyên, tương ứng với tâm thức của Như

lai mà có văn tự ý nghĩa, vì thế có nói pháp,

cho nên âm thanh, danh, cú và văn tự đều

là giáo thể vô lậu chân thiện.

2. Chủ trương đức Phật không nói pháp:

Các luận sư Long quân, Vô tính, v.v… cho

rằng đức Phật không dùng ngôn ngữ, không

có nói pháp, mà tất cả giáo pháp đều do tâm

thức của chính người nghe biến hiện ra, nếu

các pháp này hiện ở trong tâm hữu lậu, thì

lấy âm thanh, danh, cú, văn tự của vô lậu

giả làm giáo thể; còn nếu hiện trong tâm vô

lậu, thì lấy văn tự, ý nghĩa của vô lậu thật

làm giáo thể.

Còn Hoa nghiêm kinh thám huyền kí

quyển 1, khi bàn về giáo thể, cho rằng các

tông Đại thừa có 4 lập trường sai biệt:

1. Đưa giả về thực: Lấy âm thanh làm

thể, rồi nương vào âm thanh mà giả lập

danh, cú, văn.

2. Giả, thực khác nhau: Chỉ dùng danh

GIÁO THỂ

 

G

1982

làm thể.

3. Giả, thực bàn chung: Lấy âm thanh

và danh làm thể.

4. Giả, thực đều dứt bặt: Chẳng có âm

thanh, chẳng phải danh, nói tức không nói,

cả hai đều không có.

Từ bốn lập trường trên đây, lại mở ra 10

môn để bàn rộng thêm.

[X. luận Đại tì bà sa Q.126; luận Câu xá

Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ Q.3; Thành duy

thức luận thuật kí Q.1 phần trên].

GIÁO THIỀN NHỊ TÔNG

Gọi chung Giáo tông và Thiền tông.

Giáo tông là những tông phái được kiến

lập trên nền tảng giáo pháp do đức Phật nói,

như tông Thiên thai, tông Hoa nghiêm v.v…

Còn Thiền tông thì trực tiếp truyền thừa

tâm pháp của Phật, lấy “giáo ngoại biệt

truyền”, “bất lập văn tự” làm đặc trưng. Do

thiên kiến nên Giáo tông và Thiền tông

thường tranh luận phải trái.

Từ đời Tống về sau, Thiền tông hưng

thịnh, vì Giáo, Thiền cách li nên chùa viện

mới được chia ra Giáo viện và Thiền viện.

Ở đời Nguyên có thêm Luật viện, cho đến

đời Minh thì chùa viện lại được chia làm

3 loại là Thiền viện, Giảng viện và Giáo

viện.

Ngài Tông mật ở đời Đường và ngài Diên

thọ ở đời Tống có đề xướng chủ trương “Giáo

Thiền Dung Hòa Nhất Trí”.

[X. Phật tổ thống kỉ Q.53; Thiền nguyên

chư thuyên tập đô tự Q.thượng phần 1 (Tông

mật)]. (xt. Giáo Viện).

GIÁO THỤ A XÀ LÊ

Cũng gọi là Giáo thụ sư.

Vị A xà lê dạy các giới tử về tác pháp uy

nghi trong giới tràng. Là một trong ba sư,

một trong năm vị A xà lê. Giới Tiểu thừa

lấy vị sư hiện tiền làm Giáo thụ a xà lê, cùng

với vị Yết ma a xà lê đều là những vị có năm

hạ trở lên. Giới Đại thừa viên đốn thì biệt

thỉnh bồ tát Di lặc làm Giáo thụ sư. Còn

trong đạo tràng Quán đính của Mật giáo,

thì Giáo thụ a xà lê là người dẫn giới tử vào

trong đạo tràng, chỉ dạy cách tung hoa và

việc tiến thoái.

[X. luật Ngũ phần Q.16; Tứ phần luật

hành sự sao Q.thượng phần 3]. (xt. Tam Sư

Thất Chứng, A Xà Lê).

GIÁO THỪA PHÁP SỐ

Gồm 40 quyển, do ngài Viên tịnh biên

soạn vào đời Minh.

Vì nhận thấy các bộ Tạng thừa pháp số,

Hiền thủ pháp số, v.v… còn thiếu sót rất

nhiều, nên ngài Viên tịnh thu tập tất cả danh

từ có liên quan đến pháp số trong các kinh

điển Phật giáo cũng như trong các tác phẩm

của Bách gia chư tử để biên soạn thành

sách này.

Nội dung được sắp xếp theo thứ tự pháp

số tăng lên, như bắt đầu ghi từ chữ “Nhất

tâm”, lần lượt đến “Bát vạn tứ thiên pháp

môn”, khiến người ta tra cứu rất tiện lợi,

trong đó có giải thích cả những danh số

của ngoại điển. Sách này dùng phương pháp

phân tích, so sánh, qui nạp thay thế cho

thuyết minh: Đây là một đặc sắc lớn của

bộ sách.

GIÁO TÍCH

Dấu tích của giáo pháp. Tức Thánh nhân

truyền bá giáo pháp, mỗi mỗi đều có lưu lại

dấu vết.

Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển

thượng phần 1 đoạn 2 nói, Thánh nhân xuất

hiện, để lại khuôn phép cho người đời, gọi

là Giáo tích.

Kinh Báo ân quyển 1 nói, giáo tích của

GIÁO TÍCH

 

G

1983

Như lai tùy nghi mà có ba Tạng gồm chín

bộ loại.

Ngoài ra, phán thích về giáo tướng, gọi

là nghĩa Giáo tích. “Nghĩa giáo tích của các

kinh” nói trong Đại thừa nghĩa chương

quyển 1 chính là nghĩa này.

GIÁO TỔ

Người sáng lập ra giáo phái hoặc người

dắt dẫn tín ngưỡng.

Như trong Phật giáo, đức Phật chỉ dạy

hàng đệ tử phải nương theo chân lí, các đệ

tử được cảm hóa bởi nhân cách của Ngài

mà tin thờ Phật pháp. Như vậy, đối với hàng

đệ tử Phật, thì đức Thế tôn là vị Giáo tổ của

Phật giáo, là tinh thần căn bản của tín

ngưỡng Phật giáo.

Sự tồn tại của Giáo tổ chính là sự kết

hợp nhân cách về mặt tín ngưỡng, khiến

cho tổ chức đoàn thể tín ngưỡng có được

sức mạnh để phát triển. Do ý nghĩa cơ bản

ấy mà mỗi tông mỗi phái đều tôn sùng vị

Giáo tổ của mình một cách tuyệt đối.

GIÁO TRUYỀN NHAM TRUYỀN

Hai phương thức truyền pháp của phái

Ninh mã ba (Hồng giáo) thuộc Mật tông

Tây tạng.

Giáo truyền là theo phương thức thông

thường thầy truyền pháp cho đệ tử. Còn

Nham truyền là cách truyền thụ thần bí, kì

lạ. Theo truyền thuyết, cách truyền thụ này

bắt đầu từ việc Đại sư Liên hoa sinh đem

cất giấu nhiều loại kinh điển pháp yếu của

Mật thừa trong các hang núi, khe suối, để

người đời sau ai có duyên thì gặp được, nhờ

đó có thể tu tập và truyền bá.

Trong bộ Tây tạng cổ đại Phật giáo sử,

ngài Đôn châu pháp vương (1904-1987) có

giải thích về lịch sử của hai phương thức

truyền thừa này rất rõ ràng.

GIÁO TƯỚNG

I. Giáo Tướng.

Tướng trạng sai biệt của các giáo pháp

do đức Phật nói ra. Tức là điểm sai khác hay

những đặc trưng của mỗi giáo pháp. Nếu lại

căn cứ vào giáo tướng này mà tìm hiểu, giải

thích, phân biệt, thì gọi là Giáo tướng phán

thích, gọi tắt là Phán giáo, Giáo phán.

Nói một cách phổ thông, thì pháp môn

tìm hiểu về giáo tướng là thuộc phạm trù

nghiên cứu, học hiểu. Bởi thế các tông phái

lại thiết lập thêm pháp môn thực hành, hầu

mong hai môn học hiểu và thực hành đều

được xem trọng. Như tông Pháp tướng có

hai môn Giáo tướng và Quán đạo, tông

Thiên thai có hai môn Giáo tướng và Quán

tâm, còn Tịnh độ chân tông Nhật bản thì

có hai môn là Giáo tướng và An tâm.

[X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.1].

II. Giáo Tướng.

Đối lại với Sự tướng.

Trong Mật giáo, các việc như: Kiến lập

pháp môn, tìm hiểu nghĩa lí sâu cạn, hoặc

tổ chức giáo lí, học hiểu giáo nghĩa để nghiên

cứu, giải thích thêm, v.v… đều gọi là Giáo

tướng. Trái lại, các pháp tu thực tế, thì gọi là

Sự tướng.

Trong Kim cương đính đại giáo vương

kinh sớ quyển 1, khi bàn về giáo tướng,

ngài Viên nhân của Nhật bản chia ra bốn

môn: Nói rõ về nguồn gốc của giáo, Biện

minh lí do phát khởi ra giáo, Giải thích

nghĩa cạn sâu của giáo và Nêu rõ nghĩa sai

khác của giáo.

(xt. Sự Tướng).

GIÁO TƯỚNG PHÁN THÍCH

Gọi tắt: Giáo tướng, Phán giáo, Giáo

phán, Giáo nhiếp.

Phân biệt, giải thích tướng trạng sai khác

GIÁO TƯỚNG PHÁN THÍCH

 

G

1984

của giáo pháp do đức Phật tuyên thuyết. Tức

là y theo hình thức, phương pháp, thứ tự,

nội dung, ý nghĩa, của giáo thuyết mà phân

loại và hệ thống hóa để nêu rõ chân ý của

đức Phật.

Đứng về mặt nội dung các kinh mà nói,

thì kinh Pháp hoa nêu ra sự sai khác giữa

Đại thừa và Tiểu thừa; kinh Lăng già nêu ra

chỗ sai khác giữa Đốn giáo và Tiệm giáo;

kinh Hoa nghiêm nói về Tam chiếu; kinh

Niết bàn nói Ngũ vị; kinh Giải thâm mật

nói rõ Tam thời, v.v… đó đều là đầu mối để

thành lập môn Giáo tướng phán thích.

Đứng về mặt nội dung các luận mà nói,

thì luận Đại trí độ nêu ra thuyết Tam tạng

và Ma ha diễn, Hiển lộ và Bí mật; luận Thập

trụ tì bà sa thì nêu thuyết Nan hành đạo và

Dị hành đạo. Các ngài Giới hiền, Trí quang

thì có thuyết Tam thời giáo.

Những cách phân loại trên đây, đại để là

dựa theo nội dung cạn sâu của giáo thuyết,

chứ không y cứ vào hình thức thuyết pháp

để phân biệt.

Các kinh luận được phiên dịch tại Trung

quốc không những không dịch theo thứ tự

thời gian thành lập kinh, mà nội dung giáo

lí cũng tựa hồ mâu thuẫn nhau, khiến cho

người mới học không dễ gì hiểu được nghĩa

lí sâu kín. Bởi thế, các bậc Đại đức cao minh

muốn nêu rõ lập trường giáo nghĩa của mình,

mới đem các giáo thuyết phồn tạp trong các

kinh luận ấy chỉnh lí và hệ thống hóa để

hướng dẫn người mới học, đồng thời, phán

định giá trị và giải thích phần giáo tướng.

Đây là lí do cắt nghĩa tại sao môn Giáo tướng

phán thích của Phật giáo Trung quốc đặc

biệt hưng thịnh.

Giáo tướng phán thích bắt đầu lưu hành

ở thời đại Nam Bắc triều, sau đó đến các đời

Tùy, Đường, các Giáo phán mới tiếp tục xuất

hiện. Giáo tướng phán thích được mở đầu

là nhờ bộ kinh Đại bát niết bàn do ngài Đàm

vô sấm dịch. Trong quyển 14 của kinh này

có ví dụ từ bò sinh ra sữa, từ sữa sinh ra lạc,

từ lạc sinh ra sinh tô, từ sinh tô sinh ra thục

tô, từ thục tô sinh ra đề hồ. Ví dụ này được

dùng để chỉ cho việc từ Phật sinh ra 12 bộ

loại kinh, từ đó sinh ra Tu đa la.

Các nhà phán giáo còn căn cứ vào thứ

tự kinh điển như: Kinh Phương đẳng, kinh

Bát nhã ba la mật, kinh Đại niết bàn v.v…

để một mặt biểu thị toàn bộ giáo nghĩa Phật

giáo có hệ thống, mặt khác, nêu rõ giáo nghĩa

ấy có cao thấp sâu cạn khác nhau, cho nên

cần phải lập Giáo tướng phán thích. Ngài

Trúc đạo sinh dựa theo lời thuyết pháp của

đức Như lai mà chia làm bốn loại pháp luân:

Thiện tịnh, Phương tiện, Chân thực, Vô dư

mà đề xướng thuyếtĐốn Ngộ Thành Phật.

Ngài Tuệ quán đời Lưu Tống đưa tư tưởng

này vào giáo phán, chia giáo pháp một đời

của đức Phật làm hai giáo Đốn, Tiệm, liệt

kinh Hoa nghiêm vào hàng Đốn giáo, còn

trong Tiệm giáo thì phân chia theo thứ tự

năm thời. Ngài Pháp vân nương theo kinh

Pháp hoa mà lập ra Tứ thừa giáo là Ngưu xa

(xe trâu), Dương xa (xe dê), Lộc xa (xe hươu),

Đại bạch ngưu xa (xe trâu trắng lớn). Ngài

Đàm vô sấm ở Bắc Lương lập Bán giáo, Mãn

giáo. Ngài Bồ đề lưu chi đời Bắc Ngụy lập

Nhất âm giáo, Đốn giáo, Tiệm giáo. Ngài

Tuệ quang thuộc phái Nam đạo tông Địa

luận, lập Đốn giáo, Tiệm giáo, Viên giáo,

rồi căn cứ vào tông chỉ này mà lập ra phán

giáo bốn tông là: Nhân duyên tông, Giả danh

tông, Cuống tướng tông và Thường tông.

Ngoài ra, Pháp hoa huyền nghĩa quyển

10 phần trên của ngài Trí khải nêu ra giáo

phán “Nam tam Bắc thất”(Nam ba Bắc bảy),

theo đó, các nhà phán giáo ở Giang nam

dựa vào hình thức nói pháp của đức Phật

mà lập ra ba giáo: Đốn, Tiệm, Bất định.

Trong đó, Tiệm giáo có các ngài:

1. Ngập pháp sư ở núi Hổ khâu nêu ra

Tam thời giáo là: Hữu tướng giáo, Vô tướng

giáo, Thường trụ giáo.

GIÁO TƯỚNG PHÁN THÍCH

 

G

1985

2. Tông ái, Tăng mân lại lập thêm Đồng

qui giáo vào sau Vô tướng giáo gọi chung là

Tứ thời giáo.

3. Tăng nhu ở chùa Định lâm, Tuệ thứ,

Tuệ quán lại thêm Bao biếm ức dương giáo

vào trước Đồng qui giáo mà cộng thành Ngũ

thời giáo.

Còn bảy nhà phán giáo ở miền Bắc là:

1. Ngài Lưu cầu ở núi Vũ đô phán lập

Ngũ thời giáo: Nhân thiên giáo, Hữu tướng

giáo, Vô tướng giáo, Đồng qui giáo, Thường

trụ giáo.

2. Ngài Bồ đề lưu chi lập Nhị giáo: Bán

tự giáo và Mãn tự giáo.

3. Ngài Quang thống lập Tứ tông: Nhân

duyên tông, Giả danh tông, Cuống tướng

tông và Thường trụ tông.

4. Ngài Tự quĩ ở chùa Hộ thân lập thêm

Pháp giới tông vào Tứ tông mà gọi chung là

Ngũ tông giáo.

5. Ngài An lẫm ở chùa Kì xà lập Lục

tông: Nhân duyên tông, Giả danh tông,

Cuống tướng tông, Chân tông, Thường tông,

Viên tông.

6. Một vị Thiền sư lập Hữu tướng Đại

thừa và Vô tướng Đại thừa.

7. Ngài Bồ đề lưu chi (có thuyết cho là

ngài Cưu ma la thập) lập Nhất âm giáo, tức

là đức Phật dùng một tiếng diễn nói chính

pháp, chúng sanh tùy theo mỗi loài mà đều

được giải thoát.

Trong Pháp hoa huyền nghĩa, ngài Trí

khải dựa theo kinh Pháp hoa lập ra ba loại

Giáo tướng và Ngũ thời bát giáo để bài bác

phán giáo của 10 nhà Nam, Bắc (Nam ba,

Bắc bảy), rồi dùng ba tướng dung hay không

dung về căn tính, thủy chung hay không thủy

chung về hóa đạo và xa gần hay không xa

gần về thầy trò mà cho rằng kinh Pháp hoa

hơn hẳn các kinh khác.

Ngũ thời là: Hoa nghiêm, Lộc uyển,

Phương đẳng, Bát nhã, Pháp hoa Niết bàn.

Ngũ thời này được phân loại theo thời gian

đức Phật nói pháp và theo căn cơ của chúng

sinh nghe pháp. Ngoài ra, hình thức, phương

pháp giáo hóa của đức Phật còn được chia

thành Hóa nghi tứ giáo(bốn giáo hóa nghi:

Đốn, Tiệm, Bí mật, Bất định) và Hóa pháp

tứ giáo(bốn giáo hóa pháp: Tạng, Thông, Biệt,

Viên).Nhưng phán giáo Hóa nghi, Hóa pháp

này thực ra đã được căn cứ theo thuyết của

các nhà Bắc, Nam, vì thế, có thể nói, phán

giáo ấy là tập đại thành phán giáo Nam

tam Bắc thất.

Ngoài ra, ngài Cát tạng của tông Tam

luận lập ra hai tạng Thanh văn, Bồ tát, trong

tạng Bồ tát lại chia ra ba pháp luân: Căn

bản, Chi mạt và Nhiếp mạt qui bản. Đây là

phán giáo Nhị tạng tam chuyển pháp luân.

Ngài Huyền trang của tông Pháp tướng

nương theo kinh Giải thâm mật và kinh Kim

quang minh lập ra Tam pháp luân là:

Chuyển pháp luân, Chiếu pháp luân và Trì

pháp luân. Đệ tử của ngài Huyền trang là sư

Khuy cơ phán lập Tam giáo bát tông, trong

Tam giáo lấy các nghĩa Tiểu thừa trong A

hàm làm Hữu giáo, Tam luận, Bát nhã là

Không giáo, còn Hoa nghiêm, Thâm mật,

Pháp hoa là Trung đạo giáo. Về Bát tông thì

lấy Độc tử bộ làm Ngã pháp câu hữu tông,

Tát bà đa bộ là Hữu pháp vô ngã tông, Đại

chúng bộ là Pháp vô khứ lai tông, Thuyết

giả bộ, Kinh bộ và luận Thành thực là Hiện

thông giả thực tông, Thuyết xuất thế bộ là

Tục vọng chân thực tông, Nhất thuyết bộ là

Chư pháp đãn danh tông, các kinh Bát nhã

và Trung luận, Bách luận là Thắng nghĩa

giai không tông, kinh Pháp hoa và Trung

đạo giáo của ngài Vô trước là Ứng lí viên

thực tông.

Trong Hoa nghiêm kinh thám huyền

kí quyển 1, ngài Pháp tạng của tông Hoa

nghiêm, phê bình giáo phán của 10 nhà

trước nay, rồi lập ra giáo phán khác là Ngũ

giáo Thập tông. Ngũ giáo là: Tiểu thừa giáo,

Đại thừa thủy giáo, Chung giáo, Đốn giáo

GIÁO TƯỚNG PHÁN THÍCH

 

G

1986

và Viêngiáo. Còn Thập tông thì gồm sáu

tông trước trong Bát tông của ngài Khuy cơ,

thêm vào bốn tông nữa là: Nhất thiết giai

không tông, Chân đức bất không tông,

Tướng tưởng câu tuyệt tông và Viên minh

cụ đức tông.

Ngoài ra, còn có thuyết Ngũ giáo của ngài

Tông mật, thuyết Tam tông của ngài Diên

thọ, Thiền giáo luật tam học nhất nguyên

luận của ngài Trí húc đời Minh, v.v… Nhưng

nổi tiếng nhất trong các thuyết phán giáo

thì có: Ngũ thời bát giáo của ngài Trí khải,

Tam giáo bát tông của ngài Khuy cơ và Ngũ

giáo thập tông của ngài Pháp tạng.

Ở Nhật bản thì có giáo phán Hiển giáo,

Mật giáo và Thập trụ tâm của Đại sư Không

hải thuộc Chân tông, thuyết Ngũ thời ngũ

giáo của ngài An nhiên thuộc Thai mật,

thuyết Nhị song tứ trùng của ngài Thân loan,

thuyết Ngũ cương của ngài Nhật liên…

[X. Đại thừa nghĩa chương Q.1; Đại thừa

huyền luận Q.5; Giải thâm mật kinh sớ Q.1;

Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.4].

GIÁO TƯỚNG PHẦN

Đối lại với Hành nghi phần.

Phần trình bày về giáo nghĩa trong một

bộ sách gọi là Giáo tướng phần, còn phần

nói về phương pháp tu hành thực tiễn thì

gọi là Hành nghi phần. Như trong năm bộ

Sớ của Đại sư Thiện đạo thuộc tông Tịnh

độ, thì bộ Quán kinh sớ giảng nói về giáo

nghĩa là Giáo tướng phần, còn bốn bộ kia

nói về những phương pháp tu hành thực

tiễn thì là Hành nghi phần.

GIÁO TƯỚNG TAM Ý

Cũng gọi Tam chủng giáo tướng.

Tông Thiên thai cho rằng có ba điểm

khác nhau giữa kinh Pháp hoa và các kinh

khác trước thời Pháp hoa. Đó là:

1. Tướng căn tính dung hay không dung:

Khi đức Phật nói kinh Pháp hoa, căn tính

chúng sinh bằng nhau, không chia thông

lợi, ngu độn; mà giáo pháp chúng sinh nghe

cũng thuần là giáo pháp chân thực, cho nên

là Dung; còn các giáo pháp khác thì chân

thực và phương tiện xen lẫn, căn tính của

chúng sinh nghe pháp thì có thông lợi và

ngu độn, vì trình độ không giống nhau, cho

nên là Không dung.

2. Tướng hóa đạo thủy chung hay không

thủy chung: Giáo pháp kinh Pháp hoa xuyên

suốt ba đời, có thể diễn đạt hết chân ý của

đức Phật, cho nên là Thủy chung; còn các

giáo pháp khác vì phải thích ứng với thời

gian và căn cơ chúng sinh, nên có nhiều pháp

chưa phải là nghĩa chân thực, bởi thế không

là Thủy chung.

3. Tướng thầy trò xa gần hay không xa

gần: Kinh Pháp hoa chỉ ra rằng đức Thế tôn

từ đời quá khứ lâu xa đã thành Phật rồi, và

đệ tử Phật cũng đã có từ thời xa xưa ấy, chứ

không phải đời này đức Phật mới khai ngộ

và đệ tử Phật mới được giáo hóa, cho nên là

Xa gần; còn các giáo pháp khác thì cho rằng

đức Thế tôn mới thành Phật ở đời này và

các đệ tử Phật cũng mới là đệ tử Phật ở đời

này, cho nên là không Xa gần.

GIÁO UYỂN THANH QUI

Cũng gọi là Tăng tu giáo uyển thanh qui.

Gồm 2 quyển, do ngài Tự khánh biên

soạn vào năm Chí chính thứ 7 (1347) đời

Nguyên, thu vào Vạn tục tạng tập 101.

Sách này là bản sửa chữa và bổ sung

thêm cho bộ Thiên thai giáo uyển thanh

qui mà thành.

Nội dung chia làm 10 môn là: Chúc tán,

Kì nhương, Báo bản, Trụ trì, Lưỡng tự,

Nhiếp chúng, An cư, Giới khuyến, Chân

qui và Pháp khí. Mỗi môn đều được trình

bày rất rõ ràng. Sách này là tư liệu trọng yếu

GIÁO UYỂN THANH QUI

 

G

1987

để nghiên cứu về tổ chức và chế độ của tông

Thiên thai vào thời đại Tống, Nguyên.

Ngoài ra, Giáo uyển thanh qui còn có

hai bộ khác nữa: Một bộ do ngài Trí viên

(976-1022) soạn vào đời Tống, một bộ do

ngài Đạo trung (1653-1744) soạn vào đời

Thanh, mỗi bộ đều có 2 quyển.

GIÁO VIÊN

Cũng gọi là Giáo tự.

Đối lại với Thiền viện, Luật viện.

Danh từ gọi chung chùa viện của các tông

Thiên thai, Hoa nghiêm, Pháp tướng, Tịnh

độ, v.v…

Từ giữa đời Đường trở về sau, với đà phát

triển mạnh mẽ của Thiền tông, các chùa viện

tại Trung quốc đều gọi là Thiền viện, chứ

không chia Giáo, Luật. Đến đời Tống, các

tông khác như Thiên thai, Tịnh độ, v.v…

cũng hưng thịnh nên mới thiết lập Giáo viện

để tỏ rằng Thiền, Giáo ngang nhau.

Năm Đại trung tường phù thứ 4 (1011)

đời Tống, vua ban lệnh lấy viẹn Diên khánh

ở Tứ minh làm “Thập phương truyền giáo

trụ trì”, đó là Giáo viện đầu tiên. Năm

Nguyên hựu thứ 5 (1090), vua hạ chiếu đổi

Thượng thiên trúc thiền tự thành Giáo tự,

đó là khởi đầu Giáo tự. Năm Thiệu hưng 14

(1144), vua ra lệnh đổi viện Diên khánh

thành Tự. Năm Bảo khánh thứ 2 (1226),

Thiên thân vạn thọ Viên giác thiền tự được

đổi thành Thiên thai giáo tự… Đến năm

Hồng vũ 15 (1382) đời Minh, các chùa trong

nước được chia làm ba loại là: Thiền, Giảng,

Giáo, trong đó, Giảng tự là nơi giảng giải rõ

ràng ý nghĩa các kinh; Giáo tự là nơi nói

pháp tế độ lợi sinh, để răn dạy người đời.

Nhật bản từ thời Trung cổ trở về sau

cũng bắt chước chế độ này mà chia ra Giáo

viện, Thiền viện và Luật viện khác nhau.

[X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.28; Tứ

minh giáo hành lục Q.1].

GIÁO VÕNG

I. Giáo Võng:Lưới giáo.

Chỉ cho sự giáo hóa của đức Phật. Tức ví

dụ chúng sinh như cá, giáo pháp của Phật là

lưới.

Như trong kinh nói: “Giăng lưới giáo của

Phật, trùm khắp biển pháp giới, vớt hết cá

người, trời, để lên bờ Niết bàn”. Nghĩa là sự

giáo hóa của đức Phật khiến cho chúng sinh

xa lìa bể khổ sinh tử, đến được bờ giải thoát

yên vui.

II. Giáo Võng:Lưới giáo nghĩa.

Tiếng dùng trong Thiền lâm.

Ví dụ người chấp trước vào giáo nghĩa

nên bị vướng mắc, không thấy được nghĩa

chân thực.

Bích nham lục tắc 78 (Đại 48, 205 trung),

nói: “Thấy người đi vào trong lưới giáo, bị

vướng vít, nửa say nửa tỉnh, hãy giúp họ

thoát ra ngay”.

GIÁO VƯƠNG HỘ QUỐC TỰ

Cũng gọi là Di lặc bát phan sơn tổng trì

Phổ hiền viện, Đông tự, Tả đại tự.

Chùa ở khu Hạ kinh thuộc thành phố

Kyoto, Nhật bản là Tổng bản sơn (chùa

Trung ương) của phái Đông tự, tông Chân

ngôn.

Chùa này vốn tên là Kim quang minh

Tứ thiên vương giáo vương hộ quốc tự bí

mật truyền pháp viện, được sáng lập vào

năm Diên lịch 15 (796) đời Thiên hoàng

Hoàn vũ.

Năm Hoằng nhân 14 (823), Thiên

hoàng Tha nga sắc ban chùa này cho ngài

Không hải –người vừa du học từ Trung

quốc trở về Nhật bản– và đổi tên là chùa

Giáo vương hộ quốc để làm đạo tràng

truyền bá tông Chân ngôn. Về sau, chùa

trải qua hai lần hỏa hoạn, đến đời Phong

GIÁO VƯƠNG HỘ QUỐC TỰ

 

G

1988

thần Tú cát và Đức xuyên Gia khang mới

được phục hưng.

Kiến trúc chùa viện mang phong cách

cung điện của các thời Liêm thương và Thất

đinh. Về phương diện hội họa, trong chùa

còn cất giữ bảy bức tượng của bảy vị tổ tông

Chân ngôn, bình phong sơn thủy, hai bức

mạn đồ la Kim cương giới và Thai tạng giới.

Về phương diện điêu khắc, các pho tượng

Mật giáo biểu hiện nét đặc trưng của thời kì

đầu thuộc thời đại Bình an.

Về những di vật văn hiến khác, thì có:

Thỉnh lai mục lục của ngài Không hải do

ngài Tối trừng chấp bút, Nhập đường cầu

pháp tuần lễ hành kí 4 quyển, Tất đàm tạng

2 tập của ngài Viên nhân.

GIÁO VƯƠNG KINH

Cũng gọi Đại giáo vương kinh.

Gồm 3 quyển, do ngài Bất không dịch

vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng

tập 18.

Ngoài ra, trong các kinh điển thuộc hệ

thống Kim cương đính, còn có những bộ

mang tên Đại giáo vương là:

1. Kinh Kim cương đính nhất thiết Như

lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng đại

giáo vương 3 quyển, do ngài Bất không dịch

vào đời Đường.

2. Kinh Phật thuyết nhất thiết Như lai

chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng tam

muội đại giáo vương 30 quyển; kinh Phật

thuyết bí mật tam muội đại giáo vương 4

quyển; kinh Phật thuyết nhất thiết Như lai

Kim cương tam nghiệp tối thượng bí mật

đại giáo vương 7 quyển; kinh Phật thuyết vô

nhị bình đẳng tối thượng du già đại giáo

vương 6 quyển, đều do ngài Thí hộ dịch vào

đời Tống.

3. Kinh Phật thuyết du già đại giáo vương

5 quyển, do ngài Pháp hiền dịch vào đời

Tống.

GIẢO LƯỢNG THÁN

Cũng gọi Cách lượng thán.

Cách so sánh để tán thán công đức.

Muốn tán thán (khen ngợi) một công

đức nào, thì trước hết hãy tạm nêu ra

một công đức lớn khác, để cho mọi người

biết phần lượng của công đức ấy, rồi đem

so sánh nó với công đức muốn tán thán,

thì sẽ biết sự to lớn của công đức muốn

tán thán, như cách tán thán công đức

trong phẩm Tùy hỉ công đức của kinh

Pháp hoa.

GIÁP ẤT ĐỒ ĐÊ VIÊN

Đối lại với Thập phương trụ trì viện.

Chế độ thầy trò truyền nối ngôi vị trụ trì

chùa viện.

Ở Trung quốc, từ đầu đời Tống trở đi,

khi vị trụ trì chùa viện thị tịch hoặc thôi

chức, thì theo thứ tự, vị đệ tử lớn nhất sẽ

thừa kế chức vụ ấy. Thông thường các chùa

viện đều áp dụng chế độ này.

Nhưng “Thập phương trụ trì viện” thì

khác hẳn, nghĩa là chức vụ trụ trì không bắt

buộc phải có quan hệ thầy trò, mà có thể

thỉnh cử các vị cao tăng, đại đức từ 10

phương đảm trách.

Chùa Giáo Vương Hộ Quốc

GIÁP ẤT ĐỒ ĐÊ VIÊN

 

G

1989

GIÁP LẬP

Những tờ giấy được gấp xếp thành hình

cánh hoa, đặt chung quanh phần trên của

Hoa túc (đồ đựng vật cúng), do tín đồ Phật

giáo Nhật bản sử dụng.

Nguyên gọi là Hưởng lập, tức là những

tờ giấy được gấp xếp,

đặt (lập) trong đồ

dùng đựng thức ăn

(hưởng thiện) cúng

dường trong pháp hội,

khiến cho Hoa túc

đựng đầy vật cúng mà

không bị rơi rớt, về

sau gọi sai là Giáp lập.

Nay được dùng làm

vật trang sức ở trước

bàn thờ Phật.

GIÁP MÃ

Vẽ hình tượng thần, Phật trên giấy, khi

cúng tế xong thì đem đốt. Đây là phong tục

dân gian.

Thiên hương lâu ngẫu đắc: “Dân gian vẽ

hình tượng thần, Phật trên giấy, tô mầu đỏ,

vàng, dùng để cúng tế, cúng xong đem đốt,

gọi là Giáp mã. Vì giấy này thần, Phật có

thể dùng làm phương tiện di chuyển, giống

như con ngựa”.

[X. truyện Thủy hử hồi 37].

GIÁP NIÊM PHẬT

Dùng âm điệu cao để xướng niệm danh

hiệu Phật trước và sau khi tụng kinh A di

đà. Một trong những cách xướng niệm danh

hiệu Phật của Phật giáo Nhật bản.

Về cách xướng niệm thì trước hết

xướng một câu “Na mô A di đà Phật”, kế

đến niệm hai lần “A di đà Phật”, thông

thường chỉ một mình vị chủ lễ xướng niệm,

khi đến chữ “Đà” của câu thứ nhất, thì cả

đại chúng cùng xướng tiếp theo từ chữ

“Phật”.

(xt. Hợp Sát).

GIÁP SÁT

Những ngôi chùa, Thiền viện (sát) được

xếp vào hàng đầu (giáp) ở Trung quốc hoặc

được xếp hàng đầu tại các châu.

Tức vào cuối thời Nam Tống đến đầu

đời Nguyên, ngoài năm núi, mười chùa ra,

các quan phủ còn kiểm tra, sắp xếp thứ tự

của các Thiền viện khác.

Cứ theo Thiền lâm tượng khí tiên quyển

1 chép, thì các Giáp sát ở Trung quốc, có

chùa Tập khánh núi Long sóc, chùa Hiển

báo núi Hoa nghiêm, các Giáp sát ở Nhật

bản, có chùa Phật tâm núi Bình an, chùa

Cảnh đức núi Linh qui, v.v…

Ngoài ra, còn nhiều Giáp sát khác được

ghi rõ trong hai tư liệu là: Phù tang ngũ sơn

kí và Hòa Hán thiền sát thứ đệ.

(xt. Quảng Châu Khúc Giang).

GIÁP SƠN

…..

I. Giáp Sơn.

Núi ở về mạn đông nam cách huyện

Thạch môn Lễ châu, phủ Nhạc châu, tỉnh

Hồ nam chừng 17km.

Vào năm Hàm thông 11 (870) đời vua Ý

tông nhà Đường, đệ tử nối pháp của ngài

Thuyền tử Đức thành là thiền sư Thiện hội

đến đây, sáng lập Thiền viện, xiển dương

tông phong, vang tiếng một thời.

II. Giáp Sơn.

Núi ở về phía nam cách huyện Đơn đồ,

phủ Trấn giang, tỉnh Giang tô khoảng 2km.

Trong núi có chùa Trúc lâm, từng là đạo

tràng của ngài Thiện hội.

III. Giáp Sơn(805-881).

Hoa Túc

GIÁP SƠN

 

G

1990

Tức là thiền sư Thiện hội sống vào đời

Đường.

(xt. Thiện Hội).

GIÁP SƠN HUY KIẾM

………..

Giáp sơn vung gương.

Tiếng dùng trong Thiền tông.

Gươm bát nhã sắc bén, chặt đứt tất cả

chấp trước.

Thung dung lục tắc 68 (Đại 48, 269 hạ),

ghi: “Vị tăng hỏi ngài Giáp sơn:

– Khi phủi hết bụi mà thấy Phật thì thế nào?

– Phải vung gươm ngay, nếu không thì

giống như ông chài ngồi trong tổ chim”.

[X. Ngũ đăng hội nguyên Q.5].

GIÁP TRỤ ẤN MINH

Ấn tướng và Chân ngôn (thần chú) của

Mật giáo.

Khi hành giả khởi tâm đại bi thệ nguyện

hóa độ người khác thì kết ấn tướng và tụng

chân ngôn này, cũng như mặc áo giáp, đội

mũ sắt (giáp trụ) bền chắc đi vào cõi sinh tử

hàng phục ma quân làm lợi ích cho chúng

sinh. Lúc ấy phải kết tụng Giáp trụ ấn minh

để gia trì năm chỗ trên thân thể.

Ngoài ra sau khi tu pháp Kim cương giới

đã chứng được đạo quả, hành giả kết tụng

ấn minh này để thành tựu công đức hóa

tha. Ấn này giống với “Hoàn kim cương giáp

ấn” của pháp Thai tạng giới.

Khi kết ấn này, trước hết, chắp hai tay

để rỗng ở giữa, đặt ở trước ngực, hai ngón

trỏ áp vào lưng đốt trên cùng của hai ngón

giữa, hai ngón cái dựng đứng và để sát vào

bên cạnh hai ngón giữa. Ấn này cũng chính

là Đại tam cổ ấn, biểu thị nghĩa mặc Kim

cương giáp trụ “Tâm, Phật và chúng sinh

đều bình đẳng”.

Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) phạ

nhật ra ca phạ chế (vajra kavace, kim cương

giáp trụ) phạ nhật lí (vajri, kim cương) củ lô

(kuru, tác) phạ nhật ra phạ nhật lệ (vajra

vajre, kim cương cực kim cương) đà tông

(damam, thí ngã).

GIÁP TRỮ TƯỢNG

Cũng gọi Hiệp trữ tượng, Tắc tượng, Tức

tượng, Tất tượng, Trương quán tượng, Can

tất tượng.

Tượng được làm bằng đất (bùn), vải và

sơn. Tức là lấy vải gai đắp lên tượng mẫu

bằng đất, sau đó, sơn một lớp sơn mỏng cho

chắc, rồi trải thêm một lớp vải gai nữa, phết

sơn thêm cho dính chặt vào lớp vải trước,

cứ thế đắp thêm vải và phết thêm sơn, cho

đến khi đủ độ dày và cứng chắc, mới bỏ

khuôn đất ra, còn lại Giáp trữ tượng.

Ở Trung quốc từ xưa người ta đã dùng

vải hoặc rơm và sơn để làm mũ, kĩ thuật

này cũng đã được sử dụng để đắp tượng,

nhưng bắt đầu từ thời đại nào thì không

được rõ.

Pháp uyển tạp duyên nguyên thủy tập

mục lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển

12, có chép việc Tiếu quốc Nhị đới tạo Giáp

trữ tượng, cho nên biết loại tượng này đã

được lưu hành từ thời Lục triều.

Năm Khai hoàng thứ 3 (583) đời Tùy có

ngài Pháp khánh ở chùa Ngưng quán tại

Kinh đô, tạo tượng Thích ca giáp trữ, vừa

đắp xong cốt tượng, chưa kịp vào vải và sơn

thì đã tịch.

Điều Cù

tát đán na

(Vu điền)

trong Đại

đường tây

vực kí quyển

12 có chép

việc nước Vu

điền thỉnh

được tượng

GIÁP TRỮ TƯỢNG

Đầu Tượng La Hán kiểu Giáp Trữ đời Liêu

 

G

1991

Phật đứng loại giáp trữ từ nước Khuất chi

(Cưu tư) về.

Tại Nhật bản, loại Tắc tượng ở thời đại

Thiên bình và loại Can tất tượng ở thời cận

đại, tương đương với Giáp trữ tượng ở Trung

quốc.

[X. Tục cao tăng truyện Q.25; Lạc dương

già lam kí Q.4; Đại Tống tăng sử lược

Q.thượng; Quảng hoằng minh tập Q.16;

Phật tổ thống kỉ Q.38].

GIÁP TỰ

Cũng gọi Kê long giáp tự.

Chùa ở mé tây núi Kê long, quận Công

châu, tỉnh Trung thanh nam, Hàn quốc.

Tương truyền chùa do hòa thượng A

đạo của Cao cú li sáng lập vào năm 420

Tây lịch. Vào thời đại Tân la thống nhất

(669-917), chùa trở thành đại đạo tràng của

tông Hoa nghiêm. Vào những năm 1592

và 1597, khi Phong thần Tú cát, người Nhật

bản, hai lần tiến quân đánh chiếm nước

này thì chùa được dùng làm căn cứ địa

kháng chiến chống ngoại xâm của Tăng

binh. Về sau, dân chúng cả nước rất cảm

động và thường ca tụng nghĩa cử bỏ mình

cứu nước này.

GIÁP XA NHƯ SƯ TỬ TƯỚNG

Tướng hai gò má đầy đặn như gò má của

sư tử vương. Là một trong 32 tướng của Phật

và Chuyển luân Thánh vương.

(xt. Tam Thập Nhị Tướng).

GIỚI

Phạm:Zìla.Pàli:Sìla.

Dịch âm: Thi la.

Những điều răn cấm do đức Phật đặt ra

khiến các đệ tử xuất gia và tín đồ tại gia giữ

gìn để ngăn ngừa tội lỗi. Là một trong 3

học, một trong 6 ba la mật, một trong 10 ba

la mật.

Cứ theo luận Bồ đề tư lương quyển 1,

thì Giới có 10 nghĩa: Tập cận, bản tính,

thanh lương, an ổn, an tĩnh, tịch diệt, đoan

nghiêm, tịnh khiết, đầu thủ và tán thán.

Giới là nền tảng thực tiễn của đạo Phật,

cho nên, cùng với định và tuệ được gọi chung

là Tam học, cũng là một trong năm phần

pháp thân, gọi là Giới thân. Lại tùy theo

bản chất mà Giới được chia làm 2 loại là:

1. Tính giới, cũng gọi Cựu giới, Chủ giới,

Tính trọng giới. Giới này bản chất là tội ác

(tức tính tội), như bốn giới nặng: giết hại,

trộm cướp, dâm dục (tà dâm) và nói dối.

2. Già giới, cũng gọi Tân giới, Khách

giới, Tức thế cơ hiềm giới, Li ác giới, Li giới.

Giới này bản chất không phải là tội ác, không

nằm trong bốn giới nặng nói ở trên. Đức

Phật chế giới này để ngăn ngừa sự chê cười

của thế gian.

Theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết

hành sự sao quyển trung phần 1, thì Giới

được chia làm 4 là: Giới pháp, giới thể, giới

hạnh và giới tướng. Giới pháp là những phép

tắc do đức Phật chế định; Giới thể là thể

tính của giới, tức là cái không biểu hiện ra

bên ngoài, nhưng có công năng ngăn ngừa

tội ác; Giới hạnh là sự tu hành giữ giới; Giới

tướng là hình tướng giữ giới.

Luận Du già sư địa quyển 40 nêu ra Tam

tụ tịnh giới (cũng gọi Tam tụ giới, Tam tụ

thanh tịnh giới) là:

1. Nhiếp luật nghi giới(cũng gọi luật nghi

giới): Giữ gìn giới luật của Phật để ngăn ngừa

tội ác.

2. Nhiếp thiện pháp giới: Làm tất cả

các việc thiện.

3. Nhiếp chúng sinh giới(cũng gọi nhiêu

ích hữu tình giới): Giáo hóa làm lợi ích cho

chúng sinh.

Ma ha chỉ quán quyển 4 phần trên, nói

Giới có hai loại:

GIÁP TỰ

 

G

1992

1. Sự giới(cũng gọi Tùy tướng giới): Giới

có hình thức cụ thể, có khả năng dẫn đến

quả báo trong ba đường trời, người, a tu la.

2. Lí giới(cũng gọi Li tướng giới): Giới

không chấp vào hình tướng, mà an trụ trong

Tam quán Không Giả Trung.

Phật giáo Tiểu thừa đặt ra 5 giới, 8 giới,

10 giới(Thập thiện giới) cho người tại gia,

còn các giới Sa di, Sa di ni, Thức xoa ma na,

Tỉ khưu, Tỉ khưu ni dành cho hàng xuất

gia. Phật giáo Đại thừa chế định giới Bồ tát.

Giới Tiểu thừa(cũng gọi giới Thanh văn) cùng

với giới Đại thừa(cũng gọi giới Bồ tát), gọi

chung là Nhị giới.

Giới và Luật vốn khác nhau, nhưng người

đời sau thường dùng lẫn lộn. Thông thường,

Giới là những điều được nói trong tạng Luật

thuộc ba tạng, là một bộ phận của Luật;

còn Luật là những bộ sách giải thích rõ về

Giới và đặt ra những qui định xử phạt khi

phạm giới.

A. Nội dung giới Tiểu thừa.

Năm giới:

1- Không sát sinh. 2- Không trộm cướp.

3- Không gian dâm. 4- Không nói dối. 5-

Không uống rượu.

Tám giới:

Ngoài năm giới (trong đó, giới Không gian

dâm, ở đây là giới Không dâm dục) nói trên,

thêm vào ba giới nữa là: Không ngồi nằm

trên giường cao rộng sang trọng, Không xức

dầu thơm hoặc xem nghe múa hát, Không

ăn quá ngọ.

Năm giới và tám giới dành cho hàng

Ưu bà tắc và Ưu bà di, tức là tín đồ nam

nữ tại gia.

Mười giới:

1- Không sát sinh. 2- Không trộm cướp.

3- Không dâm dục. 4- Không nói dối. 5-

Không uống rượu. 6- Không xức dầu thơm

đeo tràng hoa. 7- Không xem nghe múa

hát. 8- Không ngồi nằm giường cao rộng.

9- Không ăn quá ngọ. 10- Không giữ tiền

bạc của báu.

Mười giới này dành cho Sa di và Sa di ni

xuất gia.

Sáu pháp giới(gọi tắt là Sáu pháp):

1. Không được đụng chạm đến thân

người đàn ông.

2. Không được lấy trộm tiền bạc của

người; nếu lấy từ bốn đồng tiền trở xuống

thì thiếu giới, có thể cho thụ lại. Nhưng nếu

lấy từ bốn đồng trở lên thì phải bị đuổi.

3. Không sát sinh, tức không được dứt

sự sống của chúng sinh.

4. Không nói láo dối.

5. Không ăn quá ngọ.

6. Không uống rượu.

Sáu giới này dành cho vị Sa di ni (Thức

xoa ma na) giữ gìn trong khoảng hai năm

trước khi thụ giới Cụ túc làm Tỉ khưu ni.

Giới Cụ túc(cũng gọi Cụ giới, Tiến cụ giới,

Cận viên giới, Đại giới).

Giới này dành cho các vị Tỉ khưu, Tỉ

khưu ni xuất gia thụ trì. Về số giới điều,

nội dung và nam nữ đều có khác. Theo

luật Tứ phần thì tỉ khưu 250 giới, tỉ khưu

ni 341 giới.

Hai chữ “Cụ túc” (Phạm: Upasaôpanna

hoặcUpasaôpadà) vốn có nghĩa ở gần

gũi bên chân (tòa ngồi) đức Thế tôn hoặc

tham gia Giáo đoàn, nhưng thông thường

được giải thích là “gần Niết bàn” theo dịch

ngữ Cận viên. Về sau lại cho rằng thụ giới

Tỉ khưu, giới Tỉ khưu ni là giới hoàn toàn

viên mãn, đối lại với năm giới, mười giới là

những giới chưa hoàn toàn đầy đủ. Đến

đây thì ý nghĩa của hai chữ Cụ túc rõ ràng

đã biến hóa.

B. Nội dung giới Đại thừa.

Kinh Phạm võng liệt kê 58 giới gồm 10

giới nặng và 48 giới nhẹ, gọi là Phạm võng

đại giới.

Mười giới nặng là: 1- Sát sinh. 2- Trộm

cướp. 3- Dâm dục. 4- Nói dối. 5- Mua bán

rượu. 6- Nói lỗi của bốn chúng (tức nói tội

GIỚI

 

G

1993

lỗi của Bồ tát tại gia, xuất gia và tỉ khưu, tỉ

khưu ni). 7- Khen mình chê người. 8- Bủn

xỉn không ưa bố thí tài pháp. 9- Sân hận

không chịu tha thứ lỗi lầm của người khác,

10. Phỉ báng Tam bảo.

Nếu Bồ tát tự mình vi phạm hoặc khuyến

khích người khác vi phạm mười giới này thì

cấu thành Phá môn tội, Truy phóng tội(tức

là tội Ba la di, tương đương với tội bị chặt đầu

theo luật pháp thế gian).

Còn 48 giới nhẹ bao gồm những giới như:

sơ suất đối với thầy, bạn, uống rượu, ăn

thịt, v.v… tương đối nhẹ, có thể sám hối là

được thanh tịnh.

Thuyết của tông Thiên thai cho rằng giới

có thể chia ra hai loại là Quyền giới và Thực

giới. Theo Pháp hoa huyền nghĩa quyển 4

phần dưới, thì giới Tiểu thừa(năm giới, tám

giới, mười giới, sáu pháp và giới Cụ túc) và giới

Đại thừa(luận Du già sư địa, kinh Bồ tát thiện

giới)đều là Quyền giới (thô giới) chung cho

cả Tam thừa, còn Phạm võng đại giới là Thực

giới (diệu giới) dành riêng cho hàng Bồ tát

ngoài ba cõi. Nhưng diệu giới này vẫn còn

là giới tương đối, đến khi “Khai tam hội nhất”

(đưa quyền giáo Tam thừa qui về thực giáo Nhất

thừa)thì Pháp hoa Viên giáo cho rằng tất cả

giới luật đều là diệu giới tuyệt đối.

Về vấn đề này Phật giáo Nhật bản giải

thích xa hơn. Căn cứ vào lập trường “Khai

hiển” của Pháp hoa, ngài Tối trừng của Nhật

bản cho rằng 10 giới nặng và 48 giới nhẹ

trong kinh Phạm võng là do đức Phật Lô xá

na tuyên nói, lấy lợi tha làm gốc, Giới thể

một khi được trao thì không bao giờ mất,

Giới cảnh là cõi pháp không bờ bến, chẳng

hạn cuộc trong ba nghìn thế giới, Giới tướng

là Tam tụ tịnh giới, Giới trì (giữ gìn giới),

Giới phạm (vi phạm giới) đều không có phép

tắc nhất định đều có thể Thông thụ và Biệt

thụ khác nhau.

Tông Chân ngôn nói giới Tam muội da

(cũng gọi Tam ma da giới, Tam giới), nghĩa

là giới bình đẳng. Tức đứng trên lập trường

lí “Tam tam bình đẳng” mà nói, thì tam mật

thân khẩu ý của Phật và của chúng sinh là

tuyệt đối bình đẳng. Giới chân ngôn bí mật

này lấy tâm bồ đề thanh tịnh sẵn có của

chúng sinh làm giới thể và lấy muôn đức

của vô lượng pháp giới làm hành tướng.

Kinh Đại nhật nói bốn giới nặng là:

Không được bỏ chính pháp, không được bỏ

tâm bồ đề, đối với tất cả pháp không được

bủn xỉn keo kiệt, không được làm tổn hại

tất cả chúng sinh. Ngoài ra, 10 giới sau đây

cũng được coi là 10 giới nặng: Không lui

tâm Bồ đề, không bỏ Tam bảo, không chê

bai Tam bảo, không sinh tâm ngờ vực, không

làm cho người khác lui tâm bồ đề, không

dạy người phát tâm Nhị thừa, không vội nói

chỗ sâu xa kín nhiệm của Đại thừa, không

khởi tà kiến, không nói mình đã được đạo

vô thượng, buông bỏ tất cả những việc vô

ích.

Thông thường cho rằng người giữ giới

có thể được sinh ở cõi trời, cõi người, nhưng

thực thì giữ giới là một trong sáu ba la mật

là phương tiện tu đạo chính yếu để đạt tới

Niết bàn. Và cho người phá giới, sau khi

chết, sẽ phải rơi vào ba đường ác. Như luật

Tứ phần quyển 59 nêu ra năm lỗi của sự

phá giới:

1. Tự làm hại mình.

2. Bị người trí chê cười.

3. Tiếng xấu đồn đi khắp nơi.

4. Lúc hấp hối sinh tâm ân hận.

5. Sau khi chết rơi vào đường ác.

[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.1, Q.30,

Q.44; kinh Văn thù vấn Q.thượng; phẩm

Thánh hạnh trong kinh Đại bát niết bàn

Q.11 (bản Bắc); kinh Bồ tát thiện giới Q.4;

kinh Đại bảo tích Q.17; kinh Hoa nghiêm

Q.53 (bản dịch mới); luận Đại tì bà sa Q.44,

Q.123; luận Câu xá Q.18; luận Đại trí độ

Q.13; Q.22; luận Du già sư địa Q.41; luận

Thành thực Q.9; Đại thừa nghĩa chương

GIỚI

 

G

1994

Q.10; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương

Q.3 phần cuối; Tứ phần luật hành sự sao tư

trì kí Q.thượng, Q.trung; Hoa nghiêm kinh

sớ sao huyền đàm Q.3].

GIỚI

..

Phạm:Dhàtu.

Dịch âm: Đà đô.

Bao gồm các nghĩa: Tầng lớp, căn cơ, yếu

tố, nền tảng, chủng tộc.

I. Giới.

Tiếng dùng để gọi các phạm trù phân

loại, như sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,

ý) tiếp xúc với sáu trần (sắc, thanh, hương,

vị, xúc, pháp) mà sinh ra sáu thức (thức mắt,

thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân, thức

ý) hợp lại gọi là 18 giới.

Đất, nước, lửa, gió, không, thức gọi là

sáu giới: Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới gọi

là ba giới. “Giới” này gần như nghĩa cảnh

giới. Tông Duy thức gọi chủng tử của tất

cả pháp là giới. “Giới” này có nghĩa là yếu

tố, nguyên nhân.

[X. kinh Tạp a hàm Q.12; thiên Nhân

duyên trong Tương ứng bộ; kinh Hoa

nghiêm (60 quyển) Q.58; Pháp uyển nghĩa

lâm chương Q.5 phần đầu].

II. Giới.

Ngữ căn (tiếng gốc) của động từ trong

chữ Phạm.

GIỚI BA

Dấu đốt hương (vết sẹo) còn lưu lại trên

thân thể của người thụ giới.

Trong giới đàn, người thụ giới Bồ tát,

sau khi đã chí thành sám hối, dùng đầu nén

hương đang cháy đốt một bộ phận nào đó

trên thân thể của mình để cúng dường chư

Phật, Bồ tát, cầu cho giới thể được thanh

tịnh. Bồ tát giới tại gia đốt ở cánh tay, Bồ tát

giới xuất gia đốt trên đỉnh đầu, cũng gọi là

“Hỏa thiêu Bồ tát đầu”(lửa đốt đầu Bồ tát).

Đốt giới ba vốn chẳng phải do đức Phật

dạy, cho nên ở Ấn độ nó không được thực

hành; nhưng khi Phật giáo truyền sang Trung

quốc mới có nghi thức này. Vì ở Trung quốc

giới tăng sĩ rất được vua chúa và dân chúng

tôn kính, để ngăn ngừa kẻ thế tục giả làm

tăng sĩ, nên triều đình nhà Đường ban sắc

lệnh cho chúng tăng, khi thụ giới, phải đốt

giới ba để phân biệt.

Ngoài ra, theo bài huyền đàm “Trung

quốc hòa thượng thụ giới thiêu hương ba

khảo chứng”(khảo chứng về sẹo đốt hương khi

thụ giới của chư tăng Trung quốc)nói, thì tương

truyền nguồn gốc của sự đốt hương trên đỉnh

đầu bắt đầu từ năm Chí nguyên 25 (1288)

đời vua Thế tổ nhà Nguyên, lúc đó, sa môn

Chí đức trụ trì chùa Thiên hi, mở giới đàn

truyền giới cho 7 chúng, có nghi thức đốt

hương trên đỉnh đầu để phát nguyện giữ giới

trọn đời.

GIỚI BA LA MẬT BỒ TÁT

Giới ba la mật, Phạm:Zìla-pàramità.

Dịch âm: Thi la ba la mật đa.

Dịch ý: Giới đáo bỉ ngạn(Giới đến bờ

bên kia).

Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 2 bên trái bồ

tát Hư không tạng giữa viện Hư không tạng

trên Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo.

Mật hiệu là Thi la

kim cương, hình tam

muội da là Bảo châu.

Một trong 10 Bồ tát

ba la mật.

Trong Mạn đồ la

hiện nay, hình tượng

của Ngài ngồi tréo

chân trên hoa sen,

thân mầu da người,

mặc áo Yết ma, bàn

tay phải dựng đứng,

GIỚI BA LA MẬT BỒ TÁT

Bồ Tát Giới Ba La Mật

Mạn Đồ La Thai Tạng Giới

 

G

1995

ngón trỏ, ngón giữa co lại, cầm cây gậy ngắn,

trên đầu gậy có ba hạt châu tỏa sáng, bàn tay

trái úp trên đầu gối, mắt nhìn xuống bên phải.

Ấn khế và công đức của Ngài được ghi

chép trong kinh Kim cương đính du già thiên

thủ thiên nhãn Quán tự tại bồ tát tu hành

nghi quĩ quyển hạ. Khi kết ấn của Ngài thì

hai tay hướng vào trong bắt tréo lại, hai ngón

cái dựng thẳng. Chân ngôn là: “Án (oô, qui

mệnh) thí la (zìla, giới) đà lí nê (dhàraịi)

bà nga phạ để (bhagavatì, Thế tôn) hồng

hác (hùô ha#, biểu thị nghĩa chủng tử

không ô nhiễm)”.

Kết ấn này và tụng ba biến chân ngôn

có thể diệt trừ nghiệp chủng phá giới trong

vô lượng kiếp, đạt được công đức của Tam

tụ tịnh giới: Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện

pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới. Đây

tức là Giới ba la mật viên mãn.

Ngoài ra, thường dùng giới này để trang

nghiêm ba nhiệp: thân, khẩu, ý thì người

phạm tội nặng cũng được thanh tịnh, về sau,

tùy nguyện mà được sinh về Tịnh độ của

chư Phật.

[X. Thanh long tự nghi quĩ Q.trung; Thai

tạng giới thất tập Q.trung; Bí tạng kí].

GIỚI BẠN TỰ

……..

Chỉ cho hai chữ (aô, ám) và (a#,

ác) của tự mẫu Tất đàm. Vì hai chữ này ở

khoảng giữa nguyên âm (ma đa) và phụ âm

(thể văn) nên gọi là Giới bạn (giới, ở giữa hai

bên; bạn, bên bờ, ven bờ). Chữ biểu thị

nghĩa chứng Bồ đề, chữ biểu thị nghĩa

nhập Niết bàn, còn hai cái chấm (:) thì biểu

thị nghĩa diệu quả Bồ đề và Niết bàn đã tận

cùng biên tế phiền não, sinh tử.

Ngoài ra, trong Tất đàm tam mật sao

quyển thượng phần trên, ngài Tịnh nghiêm

cho rằng hai chữ (llaô, lãm) và (kwa,

khất sái) là nghĩa Giới bạn.

[X. Tất đàm tự kí].

GIỚI BẢN

Phạm:Pràtimokwa.

Pàli:Pàtimokkha.

Dịch âm: Ba la đề mộc xoa.

Sách gom chép và xếp loại các giới điều

của tỉ khưu và tỉ khưu ni thụ trì, được rút ra

từ các bộ Quảng luật như luật Tứ phần, luật

Ngũ phần, v.v…

Trong tạng luậtPàli, thì nội dung của

kinh Phân biệt (Pàli:Sutta-vibhaíga) là

thuyết minh về các loại Giới bản, trong đó,

Giới bản của tỉ khưu liệt kê 227 điều, gồm:

– 4 pháp Ba la di (Pàli:Pàràjika).

– 13 pháp Tăng già bà thi sa (Pàli:

Saíghàdisesa).

– 2 pháp Bất định (Pàli:Aniyata).

– 30 pháp Ni tát kì ba dật đề (Pàli:

Nissaggiya-pàcittiya).

– 92 pháp Ba dật đề (Pàli:Pàcittiya).

– 4 pháp Ba la đề đề xá ni (Pàli:

Pàỉidesanìya).

– 75 pháp chúng học (Pàli:Sekhiya).

– 7 pháp Diệt tránh (Pàli:

Adhikaraịasamatha).

Giới bản của tỉ khưu ni liệt kê 311 điều,

gồm:

– 8 pháp Ba la di.

– 17 pháp Tăng già bà thi sa.

– 30 pháp Ni tát kì.

– 166 pháp Ba dật đề.

– 8 pháp Đề xá ni.

– 75 pháp Chúng học.

– 7 pháp Diệt tránh.

Ở Trung quốc, theo truyền thuyết, người

đầu tiên phiên dịch Giới bản là ngài Đàm

kha ca la, vào khoảng năm Gia bình (249-

254) đời Tào Ngụy, ngài đã dịch Tăng kì

giới tâm, tiếp theo là hai ngài Đàm ma trì và

Trúc phật niệm đã cùng dịch Thập tụng tỉ

khưu giới bản gồm 260 giới (hai quyển sách

trên đều đã thất lạc). Từ đó về sau, lần lượt

GIỚI BẢN

 

G

1996

có các ngài trải qua các thời đại:

– Đời Diêu Tần, ngài Cưu ma la thập

dịch Thập tụng tỉ khưu ba la đề mộc xoa

giới bản; ngài Phật đà da xá dịch Tứ phần

tăng giới bản, Tứ phần luật tỉ khưu giới bản,

Tứ phần luật tỉ khưu ni giới bản.

-Đời Lưu Tống, ngài Pháp dĩnh dịch

Thập tụng tỉ khưu ni ba la đề mộc xoa giới

bản; ngài Phật đà thập dịch Di sa tắc ngũ

phần giới bản.

– Đời Đông Tấn, ngài Phật đà bạt đà la

dịch Ma ha tăng kì luật đại tỉ khưu giới bản;

các ngài Pháp hiển và Giác hiền cùng dịch

Ma ha tăng kì tỉ khưu ni giới bản.

– Đời Lương thuộc Nam triều, ngài Minh

huy gom chép Ngũ phần tỉ khưu ni giới bản.

– Đời Đường, ngài Nghĩa tịnh dịch Thuyết

nhất thiết hữu bộ giới kinh; Căn bản thuyết

nhất thiết hữu bộ bật sô ni giới kinh.

– Đời Nguyên Ngụy, ngài Cù đàm bát

nhã lưu chi dịch Giải thoát giới kinh.

Gần đây, trong các kinh chép tay đào

được ở Đôn hoàng, có Thập tụng tỉ khưu

ni ba la đề mộc xoa giới bản được suy đoán

là do ngài Cưu ma la thập dịch. Tại

Turkewtan ở vùng Trung á, người ta cũng

tìm thấy bản cũ đã rách của Giới bản Hán

dịch. Rồi ông P. Pelliot người Pháp cũng

đã phát hiện Giới bản bằng tiếng Phạm,

nội dung rất giống với Thập tụng giới bản,

có thể đó là bản dịch khác của Thập tụng

giới bản Hán dịch.

Trong Cam châu nhĩ (Bka#-#gyur) của

Đại tạng kinh Tây tạng có bảnSo-so-tharpa#

i-mdo, tương đương với Tỉ khưu giới

bản, liệt kê 253 giới và bản Dge-sloị-ma#i

so-thar-gyi-mdo, tương đương với Tỉ khưu

ni giới bản, gồm có 364 giới.

Giữa các bộ phái Phật giáo Tiểu thừa, sự

truyền thừa Giới bản cũng có khác nhau,

như: Pháp tạng bộ truyền Tứ phần tỉ khưu,

tỉ khưu ni giới bản vàPàli giới bản, Hóa địa

bộ truyền Di sa tắc ngũ phần tỉ khưu, tỉ khưu

ni giới bản, Tát bà đa bộ truyền Thập tụng

tỉ khưu, tỉ khưu ni giới bản, Ca diếp di bộ

truyền Giải thoát giới kinh, Đại chúng bộ

truyền Ma ha tăng kì tỉ khưu, tỉ khưu ni giới

bản; Thuyết nhất thiết hữu bộ thì truyền

Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tỉ khưu,

tỉ khưu ni giới bản.

Giới bản được truyền ở Tây tạng hiện

nay là thuộc Thuyết nhất thiết hữu bộ. Ngoài

ra, trong giới Đại thừa, có Bồ tát giới bản

do ngài Đàm vô sấm dịch được rút ra từ

luận Bồ tát địa trì và Bồ tát giới bản do ngài

Huyền trang dịch được rút ra từ luận Du

già sư địa.

[X. kinh Cù mặc mục kiền liên trong

Trung a hàm Q.36; kinh Phạm võng Q.hạ;

Tứ phần giới sớ Q.thượng; Xuất tam tạng

kí tập Q.11; Khai nguyên thích giáo lục

Q.15; R. Hocrnle: Manuscript remains of

Buddhist Literature found in E. Turkestan,

vol. I].

GIỚI CẤM THỦ KIẾN

Giới cấm thủ, Phạm: Zìla-vrataparàmarza.

Cũng gọi là Giới thủ kiến, Giới đạo kiến.

Gọi đủ: Giới cấm đẳng thủ kiến.

Vọng kiến sai lầm khởi lên từ những

giới cấm phi lí, phi chính đạo. Là một trong

năm kiến, một trong 10 tùy miên, một

trong 4 thủ.

Như cho rằng bò, chó sau khi chết được

sinh lên cõi trời, bèn bắt chước hành vi của

bò, chó, ăn cỏ ăn phân, tu các hạnh chẳng

phải nhân của đạo giải thoát, mà lầm chấp

đó là nhân của đạo giải thoát.

[X. luận Câu xá Q.19; luận Thành duy

thức Q.6; luận Đại trí độ Q.22; luận Đại

thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1; luận Đại tì

bà sa Q.49; luận A tì đạt ma thuận chính

lí Q.47]. (xt. Thập Tùy Miên, Ngũ Kiến,

Tứ Thủ).

GIỚI CẤM THỦ KIẾN

 

G

1997

GIỚI CẤP THỪA HOÃN

Giới là những điều răn cấm do đức Phật

chế định; Thừa là các giáo pháp do đức Phật

tuyên nói. Cấp là vội gấp, Hoãn là chậm rãi.

Giới cấp nghĩa là siêng năng tinh tiến giữ

giới, Thừa hoãn nghĩa là biếng nhác không

thích nghe pháp. Là một trong Giới thừa

tứ cú.

Hạng căn cơ này tuy được sinh ở cõi

người, cõi trời nhưng vì đam mê thú vui

cõi người, cõi trời, nên không thích nghe

pháp.

(xt. Giới Thừa Tứ Cú).

GIỚI CHÂU

I. Giới Châu.

Giới luật ví như viên ngọc minh châu

trong sáng, không tì vết, có thể làm đẹp thân

người, cho nên đệ tử Phật phải siêng năng

tinh tiến tu tịnh giới, như gìn giữ ngọc minh

châu trong mình.

Đường đại tông văn: “Giới châu cầm ở

tay, gương sáng ở trong lòng”.

Kinh Phạm võng (Đại 24, 1104 thượng),

nói: “Giới như vầng nhật nguyệt, cũng như

ngọc anh lạc”.

II. Giới Châu(985-1077).

Vị tăng ở đời Tống, họ Hoàng, tự Diệu

chi.

Sư siêng học từ thủa nhỏ, thờ ngài Pháp

tính Tử quang làm thầy, thường tập giảng

kinh. Sau khi xuống tóc, sư thích tu thiện

căn, xem nhiều kinh sách, giỏi văn chương,

người thời bấy giờ tôn xưng sư là “Mặc thư”

(Sách không lời).

Ngoài ra, sư còn học Thiền với thiền sư

Pháp hải Hoài yếu.

Sư có tác phẩm: Tịnh độ vãng sinh truyện

và Bi kí truyện tự.

[X. Thích môn chính thống Q.8].

GIỚI DANH

Cũng gọi là Pháp danh.

Tên do vị Giới sư đặt cho người tín đồ

khi thụ giới Tam qui để trở thành đệ tử

Phật.

(xt. Pháp Danh).

GIỚI ĐÀN

Nơi cử hành nghi thức thụ giới và thuyết

giới. Đàn là cái nền đất được đắp hơi cao

hơn mặt đất trong giới trường.

Giới trường vốn không cần xây cất nhà

cửa, chỉ cần kết giới làm dấu trên bất cứ chỗ

đất trống nào là được; nhưng để đề phòng

mưa gió, từ xưa đã thực hành cả hai nghi

thức thụ giới trong nhà và kết giới thụ giới

ngoài chỗ đất trống. Ấn độ thời xưa, lúc ban

đầu, thường tác pháp ngoài trời, chứ không

lập đàn riêng.

Cứ theo Thích thị yếu lãm quyển thượng

chép, thì bồ tát Lâu chí xin đức Phật cho

phép làm một giới đàn để truyền giới cho

các tỉ khưu, đức Phật hứa khả, do đó, một

Giới đàn được dựng lên ở phía đông nam

ngoại viện tinh xá Kì viên. Về hình thức

giới đàn, trong Đại đường tây vực cầu pháp

cao tăng truyện quyển thượng, ngài Nghĩa

tịnh miêu tả giới đàn ở chùa Na lan đà tại

Trung Ấn độ như sau: “Vuông vức mỗi bề

hơn một trượng; chung quanh giới đàn xây

tường gạch, cao chừng hai thước, chỗ ngồi

trong tường cao khoảng năm tấc”.

Ở Trung quốc, tương truyền Giới đàn

đầu tiên là giới đàn do ngài Đàm kha ca la

xây dựng ở Lạc dương vào khoảng các năm

Gia bình, Chính nguyên (249-256) đời Tào

Ngụy. Từ đời Tấn, Tống về sau, ở miền Nam

lập rất nhiều giới đàn, như: Giới đàn ở chùa

Ngõa quan tại Dương đô (Nam kinh) do ngài

Pháp hộ lập vào đời Đông Tấn, các giới đàn

GIỚI ĐÀN

 

G

1998

ở Thạch thành, tỉnh Sơn tây và ở Phần

dương, tỉnh Chiết giang, do ngài Chi đạo

lâm thiết lập, v.v… tất cả có tới hơn 300 giới

đàn, nhưng hình thức của các giới đàn ấy

như thế nào, thì ngày nay không thể khảo

cứu được.

Đến năm Càn phong thứ 2 (667) đời

Đường, luật sư Đạo tuyên thiết lập Giới đàn

tại chùa Tịnh nghiệp ở ngoại ô thành phố

Trường an, với chiều cao 7 thước 7 tấc (Tàu)

gồm 3 tầng: tầng dưới rộng 2 trượng 9 thước

8 tấc, cao 3 thước, tầng giữa rộng 2 trượng 3

thước, cao 4 thước 5 tấc, tầng trên vuông

vức mỗi bề 7 thước, cao 2 tấc. Chung quanh

mỗi tầng đều có khắc những hình sư tử thần

vương. Đồng thời, ngài Đạo tuyên soạn “Giới

đàn đồ kinh”, trong đó ngài trình bày rất rõ

ràng, chi tiết về nguồn gốc, tên gọi và hình

dáng giới đàn, từ đó giới đàn mới có hình

thức nhất định. Và cũng từ đó, trào lưu kiến

lập giới đàn thịnh hành trên khắp nước, kể

cả công và tư.

Niên hiệu Vĩnh thái năm đầu (765), vua

Đường Đại tông ban lệnh kiến lập giới đàn

Phương đẳng ở chùa Đại hưng thiện, đồng

thời, sắc lệnh cho tăng ni trong kinh thành

mỗi bên đều thỉnh cử 10 vị Đại đức lâm

đàn. Đây là lần đầu tiên Đại đức lâm đàn

được thiết lập, tức là “Tam sư thất chứng” ở

đời sau. Giới đàn Phương đẳng là giới đàn

Đại thừa, đàn pháp tuy y theo các bộ luật,

nhưng người thụ giới phải phát tâm bồ đề

rộng lớn, đó là điểm đặc biệt khác với giới

đàn Tiểu thừa.

Năm 754, ngài Giám chân từ Trung

quốc vượt biển sang Nhật bản, ít lâu sau,

ngài xây cất giới đàn ở trước điện Đại Phật

của chùa Đông đại: Đây là giới đàn đầu

tiên tại Nhật bản. Kiểu mẫu giới đàn này

được căn cứ theo bộ “Giới Đàn Đồ Kinh”

của ngài Đạo tuyên.

[X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí

Q.thượng phần 2 tiết 1; Phật tổ thống kỉ

Q.36, Q.39; Phật tổ lịch đại thông tải Q.18;

Đại tống tăng sử lược Q.hạ; Thích thị kê

cổ lược Q.3, Q.4; Đạo tuyên luật sư cảm

thông lục].

GIỚI ĐÀN ĐƯỜNG

Cũng gọi là Giới đường.

Tòa nhà bên trong có thiết lập Giới đàn

để cử hành nghi thức thụ giới tại Nhật bản.

Ở Trung quốc không có loại nhà này, mà

chỉ kiến lập giới đàn thôi.

GIỚI ĐÀN THẠCH

Cũng gọi Kết giới thạch.

Tấm bia đá dựng

ở trước cửa chùa viện

của Luật tông hoặc

Thiền tông. Thông

thường trên bia có

khắc dòng chữ: “Bất

hứa huân tửu nhập

sơn môn” (Cấm mang

rượu, thịt vào chùa).

Không rõ nguồn gốc, nhưng theo Hoàng bá

thanh qui thì tấm bia Giới đàn này cao 7

thước (Tàu) rộng 1 thước 2 tấc.

(xt. Kết Giới Thạch).

GIỚI ĐÀN VIÊN

Vào năm 754, sau khi từ Trung quốc đến

Nhật bản, ngài Giám chân trụ ở chùa Đông

đại tại Nại lương (Nara); ít lâu sau, ngài kiến

lập Giới đàn ở trước điện Đại Phật để truyền

trao giới Bồ tát cho 400 người từ Thiên hoàng

Thánh vũ trở xuống: Đó là nguồn gốc của

sự thụ giới tại Nhật bản. Không bao lâu,

giới đàn này được dời sang phía tây điện Đại

Phật và được xây cất thành Viện giới đàn

đầu tiên ở nước này. Về sau, Viện này bị

thiêu hủy. Giới đàn hiện nay do ngài Huệ

GIỚI ĐÀN VIÊN

Tấm Bia Đá

Dựng ngoài cửa các chùa

 

G

1999

quang ở chùa Linh vân tại Giang hộ kiến

trúc vào năm 1733, thờ tượng Tứ thiên

vương của thời Bình an.

GIỚI ĐAO

Phạm:Zastraka.Pàli:Satthaka.

Cũng gọi Đao tử.

Con dao nhỏ hình bán nguyệt dùng để

cắt móng tay, cạo tóc hoặc cắt vải để may vá

quần áo. Là một trong 18 vật thường dùng

của tỉ khưu.

Bởi vì, đức Phật cấm không được chặt,

đốn tất cả cỏ cây, cho nên con dao mà vị tỉ

khưu dùng được gọi là Giới đao.

Đại tống tăng sử lược quyển thượng nói,

Giới đao là đạo cụ, tượng trưng đoạn trừ

tất cả điều ác. Bởi thế, ngoài giá trị thực

dụng ra, Giới đao còn biểu thị ý nghĩa về

mặt tinh thần.

Cứ theo luật Thập tụng quyển 37 và

Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 3, thì tỉ khưu

được dùng con dao hình bán nguyệt để cắt

may; loại lớn, dài 6 ngón tay, loại nhỏ, dài

4 ngón tay, loại vừa, dài từ khoảng 4 đến 6

ngón tay. Hình dáng giống như cánh chim

hoặc cánh gà, nhưng không được dùng dao

nhọn.

Ngoài ra, theo Tạp kiền độ trong luật

Tứ phần quyển 51, đức Phật cho phép tỉ

khưu, được giữ dao cạo tóc và để trong bao

dao, còn dao cắt móng tay thì đựng trong

cái ống.

Gần đây, ở Bzklik của Thổ lỗ phồn tại

vùng Trung á, người ta đã phát hiện bức

bích họa thời xưa, trong đó có vẽ con dao

cạo tóc hình bán nguyệt. Do đó mà được

biết hình dáng dao cạo tóc và dao cắt may

giống nhau. Hiện nay tại Ấn độ người ta

vẫn còn sử dụng dao cạo tóc hình bán nguyệt.

[X. phẩm Kệ tụng trong kinh Đại thừa

nhập lăng già Q.6; kinh Đại bảo tích Q.56;

luật Ngũ phần Q.26; luật Thập tụng Q.39;

Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.11; Tứ phần luật

san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ phần

1; Thích thị yếu lãm Q.trung; Tổ đình sự

uyển Q.8].

GIỚI ĐẠO

…..

Ranh giới giữa Hội mạn đồ la này với

Hội mạn đồ la khác trong Mật giáo. Có các

loại như sau:

1. Tam cổ giới đạo: Giới đạo đặt chày ba

chĩa.

2. Nhất cổ giới đạo: Giới đạo đặt chày

một chĩa.

3. Ngũ sắc giới đạo: Giới đạo vẽ năm mầu

trắng, đỏ, vàng, xanh và đen.

4. Tam sắc giới đạo: Giới đạo vẽ ba mầu

trắng, đỏ, vàng.

5. Nhất sắc giới đạo: Giới đạo chỉ có

thuần một mầu trắng.

[X. Đại nhật kinh sớ Q.6; Từ thị bồ tát

nghi quĩ Q.hạ].

GIỚI ĐẠO THÂN PHƯỢC

Phạm: Zìla-vrata-paràmarza-kàyagrantha.

Pàli: Sìlabbata-paràmàsa-kàyagantha.

Cũng gọi Giới thủ thân phược, Giới thủ

thân hệ.

GIỚI ĐẠO THÂN PHƯỢC

Viện Giới Đàn chùa Đông Đại

 

G

2000

Mê chấp tà giới của ngoại đạo, khởi lên

hoặc nghiệp trói buộc thân mình, không

được giải thoát. Là một trong Tứ phược.

Vì các tà giới ấy chẳng phải là giới mà

cưỡng đặt tên giới, cho nên gọi Giới đạo(ăn

trộm giới), vả lại có nghĩa cố chấp chặt lấy

nên gọi là Giới thủ.

[X. luận Tì bà sa Q.2; Hoa nghiêm kinh

Khổng mục chương Q.3]. (xt. Tứ Phược).

GIỚI ĐIÊP

Giấy chứng nhận cấp phát cho tăng ni

sau khi thụ giới.

Cứ theo Thích thị kê cổ lược quyển 3

chép, thì vào năm Đại trung thứ 10 (856),

vua Đường Đại tông bổ nhiệm pháp sư Biện

chương làm bậc Thủ tọa của ba giáo (Đạo,

Phật, Nho), thừa lệnh cấp phát giới điệp cho

tăng ni thụ giới. Đây là sự kiện mở đầu việc

cấp giới điệp chính thức cho tăng ni thụ giới

tại Trung quốc. Trước đó, vào năm Khai

nguyên 17 (729), vua Huyền tông ra lệnh

cho tăng ni trong nước cứ ba năm đăng kí

một lần. Năm Thiên bảo thứ 6 (747), vua

lại ban chiếu cho tất cả tăng ni trong nước

đều phải lệ thuộc vào Lưỡng nhai công đức

sứ và do Thượng thủ tỉnh Từ bộ cấp giấy

chứng minh, gọi là Từ bộ điệp.

Vào thời Đường, Tống, khi tăng ni xuất

gia phải lãnh độ điệp(giấy chứng nhận xuất

gia), đến khi thụ giới phải xuất trình độ điệp

mới được cứu xét cho thụ và được cấp Giới

điệp. Cả Độ điệp và Giới điệp đều do quan

chức nhà nước ban phát. Khoảng năm Hồng

vũ đến năm Vĩnh lạc (1368-1424) đời Minh,

nhà vua ba lần ra lệnh cấp phát bản sao giới

điệp cho tăng ni để mang theo trong mình,

phàm khi đi qua cửa ải hoặc những nơi hiểm

yếu, tăng ni phải xuất trình giấy ấy mới được

cho qua.

Đến đời Thanh, bắt đầu từ năm Ung

chính, chế độ Độ điệp được bãi bỏ, tăng ni

xuất gia không hạn chế nữa, chùa viện các

nơi được tự do truyền giới và cấp phát Giới

điệp. Từ thời Dân quốc (1911) trở đi, cũng

chỉ còn chế độ Giới điệp và do Hội Phật

giáo Trung quốc cấp phát.

Tại Nhật bản, từ năm Thiên bình thắng

bảo (749-756) trở về sau mới bắt đầu cấp

phát giới điệp cho người thụ giới và có chữ

kí của Tam sư thất chứng.

[X. Kinh luật giới tướng bố tát quĩ nghi;

điều Sa di đắc độ, chương Đại chúng trong

Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; Đại tống

tăng sử lược Q.trung; Thích thị yếu lãm

Q.thượng; Thích thị kê cổ lược Q.4; Ngụy

thư Thích lão chí thứ 20]. (xt. Độ Điệp).

GIỚI ĐỊNH TUÊ

Cũng gọi Tam học, Tam vô lậu học.

Giới luật, Thiền định, Trí tuệ.

Cứ theo Phiên dịch danh nghĩa tập quyển

4, thì Giới là ngăn ngừa những điều sai quấy,

chặn đứng các việc xấu ác; Định là dứt tư

lự, lắng các duyên; Tuệ là phá ác, chứng chân.

Tu học ba pháp này có thể chứng được

Thánh quả vô lậu.

1. Giới học: Tiểu thừa có 5 giới, 8 giới,

10 giới, 250 giới; Đại thừa có tam tụ tịnh

giới, 10 giới nặng, 48 giới nhẹ.

2. Định học: Tiểu thừa có Tứ thiền định,

Tứ vô sắc định, Cửu tưởng, Bát bối xả, v.v…

Đại thừa còn thêm Cửu chủng đại thiền,

Bách bát tam muội, Bách nhị thập tam

muội…

3. Tuệ học: Tiểu thừa có quán Tứ đế,

Thập nhị nhân duyên; Đại thừa có quán

Chân như, Thực tướng.

Ngoài ra, trong các kinh luận, hai chữ

“Tăng thượng” nghĩa là thù thắng, thường

được đặt thêm vào trước giới, định, tuệ, như:

Tăng thượng giới (Phạm: Adhizìla), Tăng

thượng tâm (Phạm:Adhicitta, tức Định học)

và Tăng thượng tuệ (Phạm:Adhiprajĩà).

GIỚI ĐỊNH TUÊ

 

G

2001

[X. kinh A hàm Q.29; luận Du già sư địa

Q.28; luận Đại tì bà sa Q.1; Đại thừa nghĩa

chương Q.10; Đại tạng pháp số Q.9]. (xt.

Tam Học).

GIỚI ĐỘ

Vị tăng thuộc Luật tông ở đời Nam Tống,

tự Chuyết am.

Sư xuất gia ở chùa Thê tâm, theo ngài

Nguyên chiếu học luật Tứ phần. Cuối đời,

sư ở chùa Cực lạc tại Dư diêu, dốc lòng tu

tịnh nghiệp, phát nguyện vãng sinh.

Một hôm, sư lâm bệnh, viết kệ di chúc,

từ biệt mọi người bảo đại chúng tụng kinh

Quán vô lượng thọ, lúc tụng đến chỗ Pháp

thân quán, sư lớn tiếng niệm Phật và ngồi

kết già thị tịch. Những sự tích khác về sư

không được rõ.

Sư để lại các tác phẩm: Quán kinh sớ

chính quán kí 3 quyển, A di đà kinh sớ văn

trì kí 3 quyển, Quán kinh phù tân luận 1

quyển.

[X. Phật tổ thống kỉ Q.28; Tịnh độ thánh

hiền lục Q.4].

GIỚI ĐỨC (1909-?)

Vị tăng Trung quốc thời hiện đại, người

Giang đô, tỉnh Giang tô, họ Phùng, hiệu

Thiên thành.

Năm Dân quốc 12 (1923), sư y vào hai

vị Hòa thượng là Trí văn và Lãng văn xuất

gia ở chùa Phúc thiện tại Thai bá thuộc

Dương châu. Mùa xuân năm Dân quốc 15

(1926), sư thụ giới Cụ túc ở núi Bảo hoa tại

Nam kinh.

Sư lần lượt tốt nghiệp Học viện Pháp

giới tại Thường thục, viện Tăng học ở Hàng

châu, viện Phật học Mân nam ở Hạ môn.

Sư từng giữ các chức vụ Trợ giáo viện Phật

học Mân nam, Giám viện chùa Thiên ninh

ở Hàng châu.

Năm Dân quốc 38 (1949), sư được hai

ngài Đại tỉnh và Từ hàng giới thiệu sang Đài

loan tùy duyên thuyết pháp. Sau, sư thay

thế pháp sư Chứng liên trù hoạch việc xây

dựng tinh xá Trúc lâm, rồi lại sáng lập chùa

Pháp vân ở Đài bắc, tiếp nhận chùa Diệu

pháp ở Tân điếm.

Sư nghiên cứu sâu rộng Pháp tướng duy

thức học và luận lí Nhân minh, đặc biệt

thôngthạo các nghi thức tán tụng của Phật

giáo. Sư rất tinh tường về thanh qui tùng

lâm và pháp tắc truyền giới của Bảo hoa sơn,

nhờ thế sư được nổi tiếng trong giáo giới.

Sư có các tác phẩm: Thường châu Thiên

ninh tự xướng tụng, Nam kinh Bảo hoa sơn

đại bản diệm khẩu.

Ngoài ra, sư còn soạn các bài hoằng pháp

đăng rải rác trên các đặc san Phật giáo.

GIỚI HẢI

Ví dụ giới luật thanh tịnh như nước biển

lớn.

Ma ha chỉ quán quyển 2 phần dưới (Đại

46, 19 trung), nói: “Xác chết trong biển giới,

phải theo luật trục xuất”. Nghĩa là biển cả

không dung chứa xác chết, bị sóng gió đưa

vào bờ. Tỉ khưu phạm bốn tội nặng(sát sinh,

trộm cướp, dâm dục, nói dối) cũng vậy, bị đuổi

ra khỏi giáo đoàn.

GIỚI HẠNH

Hạnh giữ giới. Nghĩa là đối với giới luật

do đức Phật chế định, người đã thụ trì thì

phải giữ gìn nghiêm túc, khiến cho ba nghiệp

thân, khẩu, ý được thanh tịnh. Là một trong

Giới tứ biệt của Luật tông Nam sơn.

Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành

sự sao quyển trung phần 1 (Đại 40, 50 thượng),

nói: “Giới hạnh là phương tiện tu hành, thuận

theo bản tính mà thụ trì giới thể”.

(xt. Giới Tứ Biệt).

GIỚI HẠNH

 

G

2002

GIỚI HÊ

…..

Giới, chỉ cho Dục giới, Sắc giới, Vô sắc

giới; Hệ là liên hệ, liên quan, trói buộc.

Nghĩa là bị phiền não trói buộc trong Tam

giới (ba cõi).

Theo Tiểu thừa giáo, thì luận Đại tì bà

sa quyển 52 (Đại 27, 271 hạ), nói: “Bị trói

buộc ở cõi Dục, gọi là Dục giới hệ; ở cõi Sắc

gọi là Sắc giới hệ; ở cõi Vô sắc gọi là Vô sắc

giới hệ. Cũng như trâu ngựa bị buộc ở cọc

thì gọi là “Trụ hệ”.

Cũng luận đã dẫn quyển 50 cho rằng,

Giới hệ có thể chia ra 98 tùy miên, tức là:

Dục giới hệ có 36 tùy miên, Sắc và Vô sắc

giới hệ mỗi cõi đều có 31 tùy miên.

Còn luận Câu xá quyển 2 thì cho rằng,

Dục giới hệ có đủ cả 18 giới, Sắc giới hệ chỉ

có 14 giới, vì trừ ra hai cảnh hương, vị và

hai thức tị, thiệt. Vô sắc giới hệ thì chỉ có ba

giới là ý căn, pháp cảnh và ý thức.

Theo Đại thừa giáo, thì tông Duy thức

cho rằng, những pháp trói buộc trong ba

cõi chín địa là những phiền não câu sinh

tương ứng với thức thứ 6. Còn phân biệt

giới hệ của các thức, thì tị thức và thiệt thức

chỉ còn ở cõi Dục, chứ không còn ở cõi Sắc

và cõi Vô sắc; nhãn thức, nhĩ thức, thân

thức chỉ có ở Sơ thiền, còn Nhị thiền trở lên

thì có thức thứ 6, thứ 7 và thứ 8. Vì ở cõi

Vô sắc không có sắc pháp, nên trong ba loại

cảnh, thì thức thứ 8 chỉ duyên theo chủng

tử mà thôi.

[X. luận Hiển dương thánh giáo Q.18;

luận Thành duy thức Q.4; Bách pháp vấn

đáp sao Q.4; Lược thuật pháp tướng nghĩa

Q.thượng].

GIỚI HIỀN

Phạm: Zìlabhadra.

Dịch âm: Thi la bạt đà la.

Vị luận sư người Ấn độ sống ở khoảng

thế kỉ VI-VII Tây lịch, thuộc phái Du già

của Phật giáo Đại thừa.

Ngài thuộc chủng tộc Bà la môn, dòng

dõi nhà vua nước Tam ma đán tra (Phạm:

Samataỉa) đông Ấn độ. Thủa nhỏ ngài rất

ham học, đi khắp các nơi tìm cầu các bậc

minh triết. Ngài đến chùa Na lan đà, gặp

lúc bồ tát Hộ pháp đang giảng đạo, ngài nghe

pháp được tỏ ngộ, nên xin xuất gia. Năm 30

tuổi, ngài dùng lí luận khuất phục một phái

ngoại đạo lớn ở nam Ấn độ, được vua khen

thưởng và xây cất chùa ban cho sư.

Ngài trụ trì chùa Na lan đà rất lâu, hoằng

truyền giáo nghĩa Duy thức. Ngài căn cứ theo

kinh Giải thâm mật và luận Du già sư địa,

chia Phật giáo ra làm ba thời: Hữu, Không,

Trung và chủ trương thuyết Ngũ chủng tính.

Khi Tam tạng Huyền trang đến Ấn độ,

ngài Giới hiền đã hơn 100 tuổi, là một vị

Trưởng lão của chùa Na lan đà. Ngài Huyền

trang thờ Trưởng lão làm thầy và được ngài

truyền pháp.

Lúc bấy giờ đại chúng rất tôn kính ngài,

không dám gọi thẳng tên mà gọi bằng pháp

hiệu “Chính Pháp Tạng”.

[X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1;

Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng;

Đại đường tây vực kí Q.8, Q.10; Đại từ ân

tự tam tạng pháp sư truyện Q.3, Q.7].

GIỚI HÒA THƯỢNG

Cũng gọi Đắc giới hòa thượng, Giới sư.

Hòa thượng truyền giới. Trong Giới đàn,

vị này đứng đầu Tam sư, Thất chứng.

Cứ theo luật Tứ phần, thì Giới hòa

thượng phải do vị tỉ khưu từ 10 hạ trở lên

đảm nhận. Nhưng theo giới Đại thừa thì

từ tôn tượng Phật, Bồ tát (Thập địa) cho

đến phàm tăng có đầy đủ năm đức đều có

thể làm Giới hòa thượng. Năm đức ấy là:

Giữ vững tịnh giới, đủ 10 tuổi hạ, thông

GIỚI HÒA THƯỢNG

 

G

2003

hiểu tạng luật, thông đạt thiền tư và trí tuệ

sâu rộng.

Tại Nhật bản, Giới sư còn được gọi là

Lâm đàn hòa thượng, Đăng đàn giới sư.

Ngoài ra, giới Đại thừa viên đốn do tông

Thiên thai Nhật bản trao truyền, có thể

không cần đến Tam sư, Thất chứng, mà

hướng vào tượng đức Thích ca làm Giới hòa

thượng và chỉ thỉnh một vị sư gọi là Truyền

giới sư.

[X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết

hành sự sao Q.thượng phần 3; Tứ phần luật

hành sự sao tư trì kí Q.thượng phần 3 tiết 1;

Bồ tát giới nghĩa sớ Q.thượng]. (xt. Tam Sư

Thất Chứng, Thụ Giới, Hòa Thượng).

GIỚI HOÀN

Vị tăng ở đời Tống, người huyện Thiệu

hưng, tỉnh Chiết giang, trụ trì chùa Khai

nguyên ở Ôn lăng, nên người thời bấy giờ

gọi sư là đại sư Ôn lăng.

Sư nghiên cứu yếu chỉ Pháp hoa của tông

Thiên thai và Hoa nghiêm của ngài Hiền

thủ, rồi thuyết giảng để hoằng dương giáo

nghĩa của hai tông này.

Sư có tác phẩm: Diệu pháp liên hoa kinh

giải 20 quyển.

GIỚI HƯƠNG

Đem mùi thơm tỏa ngát khắp mười

phương để ví dụ với danh đức của người trì

giới lan truyền xa rộng, dù thuận gió hay

ngược gió đều biết; chứ không như mùi thơm

của chiên đàn, trầm thủy hoặc các hoa lá

khác, chỉ thuận gió mới biết, còn ngược gió

thì không hay.

Kinh Giới hương (Đại 2, 508 trung), nói:

“Các mùi hoa trái trong thế gian,

Chiên đàn, long, xạ và trầm thủy;

Tất cả hương ấy không tỏa khắp,

Chỉ có giới hương là lan tràn”.

Giới hương này không ham muốn, không

ô nhiễm, trí tuệ giải thoát cùng tột, lan tỏa

khắp nơi mà ma chẳng biết được, cho nên

là hương tối diệu tối thắng.

[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.13; kinh

Quán Phật Q.3].

GIỚI KHÍ

Cũng gọi Giới cơ, Giới căn, Giới căn cơ.

Khí nghĩa là căn cơ. Giới khí chỉ cho căn

cơ có khả năng lãnh thụ giới luật.

Tùy theo các loại giới luật khác nhau mà

phạm vi qui định giới khí cũng bất đồng.

1. Cứ theo kinh Phạm võng bồ tát giới

quyển 10, thì bất luận là quốc vương, vương

tử, bách quan, tể tướng, tỉ khưu, tỉ khưu ni,

18 Phạm thiên, thiên tử ở 6 tầng trời cõi

Dục, thứ dân, hoàng môn(nửa nam nửa nữ),

dâm nam, dâm nữ, nô tì, bát bộ, quỉ thần,

kim cương thần, cho đến những người biến

hóa v.v… hễ hiểu rõ lời nói của pháp sư thì

đều được thụ giới. Nhưng nếu những người

phạm tội Thất già (Thất nghịch), như gây

thương tích cho thân Phật, giết cha, giết mẹ,

giết Hòa thượng, giết A xà lê, phá tăng yết

ma chuyển pháp luân, giết Thánh nhân v.v…

thì không được thụ giới.

2. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm

chương quyển 3 phần cuối trích dẫn luận

Du già sư địa quyển 53 nói rằng: Có 6

trường hợp không được thụ giới Bật sô (tỉ

khưu), Bật sô ni (tỉ khưu ni), Chính học

nữ (thức xoa ma na ni), Sa di, Sa di ni như

sau đây:

a. Ý nhạo tổn hại: Chỉ cho người bị kẻ

khác hoặc bị cuộc sống bức bách.

b. Y chỉ tổn hại: Như người bị các chứng

bệnh ung thư, phù thũng, cùi (hủi), điên

cuồng, chung đường đại tiểu tiện.

c. Nam hình tổn hại: Chỉ cho người

không có nam căn (phiến sỉ), nam căn không

hoàn chỉnh (bán trạch ca).

GIỚI KHÍ

 

G

2004

d. Bạch pháp tổn hại: Như người tạo

nghiệp vô gián, ô nhiễm tỉ khưu ni… hoàn

toàn không biết hổ thẹn mà bạch pháp (pháp

lành) lại yếu ớt, mỏng manh.

e. Hệ thuộc ư tha(lệ thuộc người khác):

Như người bị chủ nợ ràng buộc, làm đầy tớ

cho người, không được cha mẹ cho phép.

g. Tùy hộ tha tâm(giữ gìn tâm thiện của

người khác): Như người biến hóa thân hình,

sau khi thụ giới, khôi phục lại thân hình cũ,

bị người khác trông thấy, ắt làm cho người

ta sinh tâm ghét tỉ khưu. Vì tránh sự khinh

ghét của người đời đối với các tỉ khưu nên

không cho phép những người biến hóa thân

hình này được thụ giới.

Ngoài ra, theo luật nghi của Cận sự nam,

thì những người rơi vào trường hợp ý nhạo

tổn hại và nam hình tổn hại, thì không được

thụ giới. Còn theo luật nghi Cận trụ thì chỉ

những người rơi vào trường hợp ý nhạo tổn

hại là không được thụ giới.

3. Theo Tứ phần luật san phồn bổ

khuyết hành sự sao quyển thượng, thì

những người bị 13 nạn sau đây, không được

thụ giới Cụ túc: Phạm biên tội, phạm tỉ

khưu ni, tặc tâm, phá nội ngoại đạo, bán

nam bán nữ, giết cha, giết mẹ, giết A la

hán, phá tăng pháp luân, làm cho thân Phật

chảy máu, phi nhân, súc sanh, hai hình.

Ngoài ra, những người chưa đủ 20 tuổi,

không đủ ba áo, chưa được cha mẹ cho

phép, người mắc nợ, người làm quan, người

bị bệnh cùi, điên cuồng v.v… cũng không

được thụ giới Cụ túc.

4. Theo luận Câu xáquyển 15, thì người

và các vị trời trong sáu tầng trời cõi Dục đều

được thụ giới, ngoại trừ những người phiến

sỉ, bán trạch ca và hai hình. Ngoài ra, người

ở châu Bắc câu lô cũng không được thụ giới

này, vì cuộc sống của người ở châu ấy rất

sung sướng, đầy lạc thú, không gây các nghiệp

thiện ác, nên giới đối với họ cũng không có

tác dụng.

GIỚI KHUYẾN

…. .

Danh từ gọi chung Giới môn và Khuyến

môn.

Giáo nghĩa của Phật giáo không ngoài

hai môn này. Giới là không làm các việc ác;

Khuyến là làm tất cả điều thiện.

[X. Bách luận sớ quyển thượng phần giữa,

Trung quán luận sớ Q.1].

GIỚI LẠP

Cũng gọi Pháp lạp, Hạ lạp, Tọa lạp.

Số tuổi của chư tăng tính từ khi thụ giới

Cụ túc trở về sau.

Cứ theo Thích thị yếu lãm quyển hạ, thì

tỉ khưu lấy ngày cuối cùng của Hạ an cư

(ngày rằm tháng 7) làm ngày nhận tuổi, từ

đây mới có được tuổi pháp (pháp tuế). Ngày

16 là ngày đầu tiên thêm một tuổi mới. Thứ

bậc của chúng tăng được căn cứ vào số giới

lạp mà qui định.

Có thuyết cho rằng Pháp lạp (tuổi pháp)

là chỉ cho số năm từ khi cạo tóc trở về sau,

còn Giới lạp (tuổi hạ) là số năm từ khi thụ

giới Cụ túc trở về sau. Ngoài ra, năm sinh

và tuổi hạ của chư tăng gọi chung là Niên

giới.

[X. kinh Tăng nhất a hàm Q,24; Sắc tu

Bách trượng thanh qui Q.7; Bạ khoán môn

trong Thiền lâm trượng khí tiên]. (xt. Pháp

Lạp).

GIỚI LẠP BÀI

Cũng gọi Giới bài.

Tấm thẻ ghi giới lạp (tuổi hạ) của chư

tăng để định thứ bậc.

Trong Thiền lâm, hàng năm ghi chép giới

lạp của chúng tăng để công bố vào sau giờ

ngọ ngày 14 tháng 7. Đường tư bài để ở gian

trên của Tăng đường, Thị tư bài để ở gian

GIỚI LẠP BÀI

 

G

2005

dưới của Pháp đường, Chúng liêu bài thì để

trong liêu.

[X. Giới lạp bài trong Sắc tu Bách trượng

thanh qui Q.7; Đồ bài môn trong Thiền lâm

tượng khí tiên; điều Duy na trong Thiền uyển

thanh qui Q.3].

GIỚI LẠP BỘ

Cũng gọi Tăng tịch bộ.

Cuốn sổ ghi Giới lạp (tuổi hạ) của chúng

tăng.

Điều Tạ quải đáp trong Sắc tu Bách

trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1141 hạ),

nói: “Trước hết, Thị giả lấy Giới lạp bộ của

Duy na, xem xét tuổi hạ của các vị tăng mới

đến, người cao tuổi nhất là Tham đầu”.

[X. Bộ khoán môn trong Thiền lâm tượng

khí tiên].

GIỚI LUẬN

Pàli:Dhàtu-kàthà (-ppakaraịa).

Dịch âm: Đà đâu ca tha.

Một trong 7 bộ luận thuộc tạng LuậnPàli.

Nội dung nói rõ về mối quan hệ nhiếp

hay không nhiếp, tương ứng hay không

tương ứng giữa các pháp uẩn, xứ, giới. Vấn

đề này cũng được bàn đến trong luận Phẩm

loại túc quyển 3, quyển 8, 9, 10, 18 và luận

A tì đàm quyển 2, 6, 7, 12, v.v… thuộc tạng

Luận Hán dịch. Đồng thời, những điểm được

trình bày trong phẩm thứ 6 của luận này rất

giống với vấn đề tương ứng hay không tương

ứng giữa tâm, tâm sở và uẩn, xứ, giới nói

trong luận Giới thân túc.

Về các sách chú sớ luận này, trọng yếu

hơn cả thì có: Bản luận chú (Pàli:

Dhàtukathàppakaraịa-aỉỉhakathà) do

ngài Phật âm soạn vàTatiya-paramatthappakàsinì)

của luận sư A nan đà (được thu

vào thiên thứ 3 trong A tì đạt ma căn bản

mạt chú).

Năm 1892, ông Khố nội lạp đặc nạp (E.

Gooneratne) hiệu đính luận này và bản chú

sớ của ngài Phật âm, rồi xuất bản. Ngoài ra,

luận này còn có bản dịch chữ Nhật được

đưa vào Nam truyền Đại tạng kinh.

[X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Nam

phương thượng tọa bộ luận thư giải thuyết].

GIỚI LUẬT

Những giới pháp qui luật để ngăn ngừa

những điều sai quấy, tà ác của đệ tử Phật.

Cứ theo Cao tăng truyện quyển 1 ghi

chép, thì ngài Đàm kha ca la dịch Tăng kì

giới tâm đồ và thỉnh các vị tăng Ấn độ làm

pháp yết ma truyền giới: Đây là lần đầu tiên

giới luật được thực hành tại Trung quốc.

Vào đời Đường, ngài Giám chân sang

Nhật bản, thiết lập giới đàn thụ giới ở chùa

Đông đại, đồng thời, xây dựng chùa Đường

chiêu đề để hoằng dương giới luật: Đó là

lần đầu tiên giới luật được lưu truyền tại

Nhật bản.

Trong các kinh điển Phật giáo ỏ Trung

quốc và Nhật bản danh từ “Giới luật” được

sử dụng rất rộng rãi, nhưng trong kinh, luật,

luận ở Ấn độ, vì thiếu cứ liệu, nên không

thấy định nghĩa của danh từ này.

Kinh Chủng đức trong Trường a hàm

quyển 15 (Đại 1, 96 hạ) nói: “Bỏ gia tài sự

nghiệp, từ biệt thân tộc, mặc ba áo pháp,

cởi bỏ đồ trang sức tốt đẹp, đọc tụng giới

luật Cụ túc của tỉ khưu”.

Trong đoạn dẫn chứng trên đây, đối

chiếu vớiSoịadaịđa sutta của Trường bộ

Nam truyền, thì chữ tương đương với nguyên

ngữ “Giới luật” là Pàtimokkhasaôvara,

tức là chữPràtimokwasaôvaracủa tiếng

Phạm. Chữ Pràtimokwasaôvara thông

thường được dịch là: Ba la đề mộc xoa luật

nghi, hoặc Biệt giải thoát luật nghi. Trường

hợp Ba la đề mộc xoa được dịch là Giới luật,

cũng thấy trong kinh Tạp a hàm quyển 25.

GIỚI LUẬT

 

G

2006

Luận Phân biệt công đức quyển 1 (Đại

25, 32 thượng), nói: “Tạng giới luật này

cũng như thế, sa di và tín đồ tại gia không

được nghe, nên gọi là tạng Luật”. Trong đó,

nguyên ngữ của tạng Giới luật làVinayapiỉaka,

nhưng Vinaya thường chỉ được

dịch là Luật.

Qua những dẫn chứng trên, ta thấy

nguyên ngữ của Giới luật không nhất định.

Thông thường, nguyên ngữ của Giới làZìla,

hoặcSìla.

Ngoài ra,Zikwà, Sikkhà(dịch là Học),

cũng được dịch là Giới. Lại nữa, chữ

Zikwàpada(dịch là Học xứ), cũng được dịch

là Giới, chẳng hạn như nguyên ngữ của 250

giới làZikwàpada.

Còn các chữPràtimokwa, Pàtimokkha

(dịch âm: Ba la đề mộc xoa) được dịch là

Giới bản, Giới kinh, Upasaôpadà được

dịch là Giới cụ túc, vì thế mà biết nguyên

ngữ của chữ Giới rất phức tạp. Về nguyên

ngữ của Luật thì ngoại trừ trường hợp đặc

biệt, còn phần lớn làVinaya. Do đó, nguyên

ngữ của Giới và Luật có thể được xem là

ZìlavàVinaya. Song danh từ Zìla vinaya

không tìm thấy trong ba tạng kinhPàli, mà

trong các bộ luận Tiểu thừa và kinh luận

Đại thừa Hán dịch cũng đều không thấy,

cho nên việc định nghĩa chữ Giới luật thật

là khó khăn.

Nói một cách khái quát, thì Giới là tự

phát tâm giữ qui luật; còn Luật thì bao hàm

các phép tắc luật lệ khác. Bởi vì, Giáo đoàn

Phật giáo cần phải duy trì trật tự, do đó,

phải có những pháp qui để xử phạt những

ai vi phạm, tất cả pháp qui ấy gọi là Luật.

Tóm lại, phạm vi của Giới hạn hẹp, còn

Luật thì bao hàm tất cả Luật nghi. Nói theo

nghĩa rộng thì Giới luật bao gồm cả Giới và

Luật nghi.

[X. Tứ phần giới sớ Q.1 phần trên; Đại

thừa nghĩa chương Q.1; Tứ phần luật hành

sự sao tư trì kí Q.thượng phần 1 tiết 1; Nguyên

thủy Phật giáo thánh điển chi tập thành

chương 3, 4 (Ấn thuận)]. (xt. Giới, Luật).

GIỚI LUẬT BẢN LUẬN

Do ngài Công đức quang người Ấn độ

soạn, chủ yếu bàn về giới luật của chúng tăng.

Nội dung chia làm 17 việc, 3 khoa, trình

bày về việc đắc giới, trì giới và phạm giới,

sau đó trở lại thanh tịnh.

Đây là bộ luận mà chư tăng phái Cách

lỗ của Phật giáo Tây tạng tu học.

GIỚI LUẬT TẠNG

Cũng gọi Luật tạng.

Chỉ cho những kinh sách ghi chép về

giới luật. Một trong Tam tạng, một trong

Bát tạng.

(xt. Bát Tạng, Tam Tạng).

GIỚI LUY

Đối lại với Giới phì.

Cũng gọi Học luy.

Sức tác dụng của giới thể suy kém yếu ớt.

Các tỉ khưu nương vào tác pháp yết ma

mà được giới, phải cố gắng giữ gìn, không

một giây phút lơ là. Nếu phạm giới nhiều

lần thì lực dụng của giới thể suy giảm, gọi là

Giới luy. Trái lại, sau khi được giới thể, tinh

tiến tu hành, ngăn ngừa tội lỗi, thì trong vị

lai sẽ sinh quả thiện, gọi là Giới phì (giới

khỏe mạnh).

GIỚI MẠCH

Hệ thống truyền thừa giới pháp. Khởi

đầu từ đức Phật Thích ca, rồi lần lượt nối

tiếp cho đến các vị Giới sư và người thụ giới

hiện nay, gọi là Giới mạch. Sự truyền thừa

của mỗi tông phái Đại thừa và Tiểu thừa

đều khác nhau.

GIỚI MẠCH

 

G

2007

Cứ theo luật Ma ha tăng kì quyển 32,

thì từ đức Phật Thích ca truyền xuống gồm

27 vị, từ ngài Ưu ba li, Đà sa bà la cho đến

ngài Đạo lực.

Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển

2, thì gồm 24 vị, từ ngài Ưu ba li, Đà tả câu,

Tu na câu cho đến ngài Tư bà.

Xuất tam tạng kí tập quyển 12 dẫn dụng

Tát bà đa bộ kí mục lục, thì nêu 53 vị Tổ sư,

từ các ngài Ca diếp, A nan cho đến ngài Đạt

ma đa la.

Còn tông Tứ phần luật thì tôn ngài

Đàm vô đức là Sơ tổ; khi giới luật được

truyền vào Trung quốc thì ngài Đàm ma

ca la là Nhị tổ, rồi lần lượt truyền đến các

ngài Pháp thông, Đạo tuyên v.v… gồm 9 vị

Tổ sư. Từ ngài Đạo tuyên đến ngài Nguyên

chiếu đời Tống là 15 vị Tổ sư của Luật tông

Nam sơn.

Tại Nhật bản, ngài Giám chân được tôn

làm Sơ tổ của Luật tông, đến các ngài Pháp

tải, Chân cảnh, v.v… lần lượt truyền nối cho

đến ngày nay.

GIỚI MÔN VÃNG SINH

Nhờ công đức giữ giới mà được sinh về

Tịnh độ cực lạc.

Giới là nguồn gốc của chư Phật, là nền

tảng của đạo Bồ tát, nếu người dốc chí cầu

vãng sinh thì phải thụ trì đầy đủ các giới

như 5 giới, 8 giới, 10 giới, giới Cụ túc, giới

Bồ tát v.v… gọi là Giới môn vãng sinh.

GIỚI NGHI

Nghi thức tác pháp khi truyền giới.

Giới nghi của Tiểu thừa và của Đại thừa

không giống nhau.

1. Giới nghi của Tiểu thừa: Cứ theo Di

sa tắc yết ma bản, thì lúc thụ giới có chín

pháp: Thỉnh Hòa thượng, sắp đặt giới tử,

sai giáo sư, giáo sư kiểm tra, gọi nhập chúng,

chỉ dạy cách xin giới, Giới sư hỏi bạch, Yết

ma sư hỏi, chính thức trao giới.

2. Giới nghi của Đại thừa: Cứ theo Thụ

bồ tát giới nghi của ngài Trạm nhiên đời

Đường, thì khi truyền giới có 12 tác pháp là:

Khai đạo, tam qui, thỉnh sư, sám hối, phát

tâm, vấn nạn, truyền giới, chứng minh, hiện

tướng, thuyết tướng, quảng nguyện và

khuyến trì.

Ở Trung quốc, từ xưa đến nay, khi truyền

giới, phần nhiều đều dùng 12 tác pháp này.

Ngoài ra, các ngài Tuệ tư đời Trần, Tuệ

chiểu, Trừng chiếu đời Đường, Diên thọ,

Tuân thức, Nguyên chiếu đời Tống và ngài

Trí húc đời Minh, đều có soạn Thụ bồ tát

giới nghi.

Tại Nhật bản, có Giới nghi của ngài Tối

trừng và ngài Nguyên không biên soạn. Tông

Tịnh độ dùng Giới nghi của ngài Trạm nhiên

ở Trung quốc, gọi là Giới nghi cũ, còn Giới

nghi của ngài Nguyên không thì gọi là Giới

nghi mới. Giới nghi truyền Tam muội da

giới của tông Chân ngôn có khác với nghi

thức thụ giới phổ thông, nghĩa là chỉ trình

bày cách thức gia hạnh trước khi vào đàn

Quán đính.

[X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết

hành sự sao Q.thượng phần 3; Tứ phần luật

san bổ tùy cơ yết ma Q.thượng; Bồ tát giới

nghĩa sớ Q.thượng; Phạm võng bồ tát giới

kinh nghĩa sớ phát ẩn; Thụ bồ tát giới nghi

yếu giải].

GIỚI NGHI

…..

Biển cả Phật pháp chỉ có người tin mới

vào được, cho nên các bậc cổ đức thường

răn dạy chớ nên nghi ngờ, gọi là Giới nghi.

Cứ theo kinh Hoa nghiêm (80 quyển)

quyển 60 nói, thì đức Như lai có thể đoạn

trừ tất cả sự nghi ngờ của chúng sinh, tùy

theo điều ưa thích, đều ban cho đầy đủ khiến

họ sinh lòng tin.

GIỚI NGHI

 

G

2008

GIỚI NGOẠI

…..

Đối lại với Giới nội.

Chỉ cho các Tịnh độ của chư Phật và Bồ

tát ở ngoài ba cõi Dục, Sắc và Vô sắc.

Phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa quyển

2 (Đại 9, 13 hạ), nói: “Nhờ pháp môn Phật

dạy, ra khỏi khổ ba cõi, hết sợ đường nguy

hiểm, được Niết bàn yên vui”.

[X. luận Đại trí độ Q.93].

GIỚI NGOẠI ĐỘ

……..

Quốc độ ở ngoài ba cõi, là nơi chúng

sinh đã dứt hết phiền não hoặc nghiệp được

sinh tới. Tiểu thừa không nói đến quốc độ

này, nhưng Đại thừa thì đề cập đến rất

nhiều.

Kinh Phật địa(Đại 16, 720 trung) nói:

“Vô lượng cõi nước trang nghiêm vi diệu,

rộng lớn không bờ mé, khó tính toán, suy

lường, vượt ra ngoài chỗ sở hành của ba cõi,

hơn cả chỗ phát khởi thiện căn của thế gian,

tự tại tuyệt đối, tịnh thức là tướng, là chỗ

hội họp của chư Phật, chỗ vân tập của các vị

Đại bồ tát”.

Luận Đại trí độquyển 93 (Đại 25, 714

thượng), nói: “Khi được quả A la hán thì

nhân duyên các lậu đã hết, chẳng còn sinh

trong ba cõi, mà sinh trong các quốc độ

thanh tịnh của chư Phật ở ngoài ba cõi, nghe

kinh Pháp hoa, đầy đủ Phật đạo”.

Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch

đời Lương) quyển 15 (Đại 31, 263 trung),

ghi: “Luận nói: Vượt khỏi hành xứ của ba

cõi. Giải thích: Tập đế trong ba cõi là hành,

Khổ đế trong ba cõi là xứ, Tịnh độ không

thuộc về khổ, tập trong ba cõi, cho nên nói

là vượt khỏi hành xứ của ba cõi”. Trên đây

đều chỉ cho Tịnh độ của giới ngoại.

Nhưng, kinh Nhân vương bát nhã

quyển thượng lại nói (Đại 8, 826 hạ): “Tất

cả phiền não, quả báo của chúng sinh không

ngoài ba cõi; Ứng, Hóa, Pháp thân của chư

Phật cũng không ngoài ba cõi. Cho nên,

không có quốc độ nào ngoài ba cõi. Ngoài

ba cõi có quốc độ là thuyết trong kinh Đại

hữu của ngoại đạo, chứ không phải do bảy

đức Phật nói”.

Nhân vương bát nhã kinh sớ quyển

4 của ngài Trí khải và Nhân vương bát nhã

kinh sớ thần bảo kí quyển 3 của Bá đình

đều căn cứ vào “Có, Không” mà bàn như

sau: Chủ trương ngoài ba cõi không có

chúng sinh nghĩa là không có chúng sinh

chịu phần đoạn sinh tử, chủ trương ngoài

ba cõi có chúng sinh nghĩa là có chúng

sinh chịu biến dịch sinh tử, do đó không

hề trái nhau. Nếu dứt khoát cho rằng

ngoài ba cõiCó chúng sinh, thì đó là kiến

giải của ngoại đạo; còn nếu cho làKhông

thì có khác gì kiến chấp của Nhị thừa.

Nếu theo chỗ thấy của Bồ tát thì là chẳng

có chẳng không.

[X. luận Đại trí độ Q.38; Pháp hoa huyền

nghĩa Q.6, Q.7; chương Phật độ trong Pháp

uyển nghĩa lâm chương].

GIỚI NGOẠI GIÁO

Đối lại với Giới nội giáo.

Chỉ cho Biệt giáo và Viên giáo trong Tứ

giáo do tông Thiên thai lập ra. Bồ tát pháp

thân của hai giáo này đã dứt hết Kiến hoặc

và Tư hoặc, ra khỏi ba cõi, chịu biến dịch

sinh tử ở Tịnh độ giới ngoại, đoạn hết vô

minh mà thành Phật, nhưng không cho việc

giải thoát khỏi ba cõi là cứu cánh.

Giới ngoại giáo có 2 loại: Giới ngoại sự

giáo và Giới ngoại lí giáo. Trong đó, Giới

ngoại sự giáo chỉ cho Biệt giáo, Giới ngoại lí

giáo chỉ cho Viên giáo.

[X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú

Q.hạ]. (xt. Giới Ngoại Sự Giáo, Giới Ngoại

Lí Giáo).

GIỚI NGOẠI GIÁO

 

G

2009

GIỚI NGOẠI HOẶC

……..

Trần sa hoặc và Vô minh hoặc trong Tam

hoặc do tông Thiên thai lập ra. Giới, chỉ

cho ba cõi Dục, Sắc và Vô sắc.

Trần sa hoặc: Mê lầm các pháp nhiều

như cát bụi ở trong và ngoài ba cõi mà

chướng ngại sự trí, có thể dùng Giả quán để

đối trị, khiến chứng được Đạo chủng trí,

thành tựu đức giải thoát.

Vô minh hoặc: Mê lí Trung đạo đệ nhất

nghĩa đế mà chướng ngại lí trí, là hoặc thuộc

ngoài ba cõi. Hoặc này chỉ có hàng Bồ tát

là có thể dứt trừ, nên cũng gọi là Biệt hoặc,

có thể dùng Trung quán đối trị để chứng

được Nhất thiết chủng trí, thành tựu đức

pháp thân.

[X. luận Đại trí độ Q.27; Ma ha chỉ quán

Q.4 thượng; Pháp hoa huyền nghĩa thích

tiêm Q.3]. (xt. Tam Hoặc).

GIỚI NGOẠI LÍ GIÁO

Chỉ cho Viên giáo trong Tứ giáo hóa

pháp do tông Thiên thai lập ra. Bồ tát thuộc

Viên giáo này ít mê lí, cho nên không cần

mượn phương tiện về mặt sự, mà bàn thẳng

vào diệu lí Trung đạo thực tướng viên dung

vô ngại của tất cả các pháp.

Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3 phần trên

(Đại 33, 710 hạ), nói: “Đức Phật và Bồ tát

Viên giáo đều quán xét Lí của 12 nhân duyên

ở ngoài ba cõi”.

(xt. Ngũ Thời Bát Giáo).

GIỚI NGOẠI SỰ GIÁO

Chỉ cho Biệt giáo trong Tứ giáo hóa pháp

do tông Thiên thai lập ra. Bồ tát thuộc giáo

này mê lí Trung đạo nặng nề, cho nên phải

dùng vô lượng sự pháp làm phương tiện để

khiến cho Bồ tát tỏ ngộ được lí.

Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3 phần trên

(Đại 33, 710 hạ), nói: “Đức Phật và Bồ tát

Biệt giáo đều biết về Sự của 12 nhân duyên

ở ngoài ba cõi”.

(xt. Ngũ Thời Bát Giáo).

GIỚI NGUYÊN

Nguồn gốc của giới pháp, tức chỉ cho

đức tin.

Bởi vì giới pháp là đức tin sinh ra từ tâm

tính sẵn có của chúng sinh, đức tin ấy đứng

đầu mọi hành vi, là căn bản của muôn đức,

nên nói lòng tin là nguồn gốc của giới pháp.

Trong hội truyền giới, vị Bản sư từ đó

các giới tử được giới gọi là Giới nguyên sư.

GIỚI NHẬT VƯƠNG

Phạm:Zìlàditya.

Dịch âm: Thi la a dật đa.

Quốc vương kiêm kịch tác gia, thi nhân

nước Yết nhã cúc xà thuộc trung Ấn độ sống

vào khoảng thế kỉ thứ VII Tây lịch.

Nguyên tên vua là Harwa-vardhana

(dịch âm: Hạt lợi sa phạt đàn na, dịch ý là

Hỉ tăng, Gia tăng), gọi tắt:Harwa(dịch âm:

Cáp tát, Cáp nhĩ sa). Biệt danh là

Harwadeva, Zrìharwa, thuộc chủng tính

Phệ xá, con thứ của vua Quang tăng (Phạm:

Prabhàkara-vardhana, dịch âm: Ba la yết

na phạt đàn na, ở ngôi vào khoảng năm 580

tây lịch), nối ngôi anh là Vương tăng (Phạm:

Ràja-vardhana, dịch âm: Hạt ra xà phạt

đàn na, trị vì vào khoảng năm 605).

Vua Giới nhật qui y Phật giáo, hết lòng

bảo hộ và hoằng dương chính pháp. Ngài

cho xây dựng hàng nghìn ngôi tháp và tinh

xá ở khắp các thôn làng thành ấp trên

toàn cõi Ấn độ (Ngũ thiên trúc). Đồng

thời, vua ra lệnh dự trữ các thức ăn uống,

thuốc thang để ban cho những người

nghèo khổ, tật bệnh.

GIỚI NHẬT VƯƠNG

 

G

2010

Mỗi năm một lần, vua tổ chức cúng

dường tứ sự(y phục, thức ăn uống, thuốc thang,

đồ nằm ngồi, hoặc phòng xá) cho các vị sa môn

khắp cả nước trong 21 ngày. Lại mỗi 5 năm

một lần vua cử hành Đại hội Vô già. Trong

thời gian ngài Huyền trang đi thăm các xứ

Ấn độ(Ngũ thiên trúc) trước khi trở về Trung

quốc, vua Giới nhật triệu tập Đại hội Vô già

ở thành Khúc nữ, thỉnh ngài Huyền trang

thuyết giảng giáo nghĩa Đại thừa. Đến tham

dự Đại hội lần này, có các vua của 18 nước,

hơn 3.000 chư tăng thuộc Tiểu thừa, Đại

thừa và ngoại đạo, Bà la môn.

Nhà vua hết sức đề cao học thuật văn

hóa và sáng tác rất nhiều, trong đó, có ba vở

Hí khúc nổi tiếng mang đậm màu sắc Phật

giáo. Đó là: Lạp tháp nạp ngõa lợi (Phạm:

Rat-nàvalì,viên ngọc báu trang sức ở ngực),

Thanh dung phụ nhân (Phạm: Priyadarzikà,

dáng dấp người đàn bà), Nạp gia nan đà (Phạm:

Nàgànanda,niềm vui của rồng chúa). Vở Nạp

gia nan đà được coi là một kiệt tác trong

những hí khúc Phật giáo bằng chữ Phạm.

Không biết vua Giới nhật mất năm nào.

Cứ theo Đường thư tây vực liệt truyện quyển

146 phần trên chép, thì vào năm Trinh quán

22 (648), vua Đường Thái tông sai sứ là

Vương huyền sách qua Thổ phồn rồi sang

Ấn độ. Khi Vương huyền sách đến Ấn độ

thì vua Giới nhật đã mất, Đại thần A la na

thuận (Phạm:Arjuna) tự lập làm vua. Suy

đó có thể đoán biết vua Giới nhật mất vào

khoảng năm 647.

Nhờ vua dùng đức để cai trị dân, nên

trong 30 năm ở ngôi, đất nước không có

chiến tranh, văn trị vũ công đều hưng thịnh,

quốc gia thái bình, nhân dân an lạc.

Trong lịch sử Ấn độ có nhiều vị vua được

gọi là Giới nhật, nhưng chỉ có vị vua này và

Giới nhật vương của nước Ma lạp bà là nổi

tiếng hơn cả.

[X. Đại đường tây vực kí Q.5; Nam hải

kí qui nội pháp truyện Q.4; Đại từ ân tự

tam tạng pháp sư truyện Q.4; Q.5; Ấn độ

Phật giáo sử (Đa la na tha)].

GIỚI NHĨ

…..

Chỉ cho tâm niệm trong một sát na hiện

tiền.

Giới là nhỏ nhiệm, yếu ớt; Nhĩ là trợ từ.

Tông Thiên thai chuyên dùng thuật ngữ

này để hình dung những cái rất nhỏ nhiệm.

Như: “Giới nhĩ chi nhất niệm” (một niệm

nhỏ nhiệm), “Nhất niệm giới nhĩ chi khởi

tâm”(khởi tâm một niệm nhỏ nhiệm), v.v…

Ma ha chỉ quán quyển 5 phần trên (Đại

46, 54 thượng), nói: “Ba nghìn này ở trong

một tâm niệm, nếu vô tâm thì thôi, còn nếu

khởi lên một niệm nhỏ nhiệm (giới nhĩ) thì

liền đủ cả ba nghìn”.

[X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng

quyết Q.5 phần 3; Pháp hoa huyền nghĩa

thích tiêm Q.2 phần trên].

GIỚI NỘI

…..

Đối lại với Giới ngoại.

Ở trong phạm vi của ba cõi: Dục, Sắc,

Vô sắc, gọi là Giới nội, vượt ra ngoài ba cõi

gọi là Giới ngoại.

Tông Thiên thai chia Tịnh độ làm bốn

loại: Phàm thánh đồng cư độ. Phương tiện

hữu dư độ, Thực báo vô chướng ngại độ và

Thường tịch quang độ, trong đó, Phàm thánh

đồng cư độ thuộc Giới nội, còn ba quốc độ

kia thuộc Giới ngoại.

Đối với Luật tông thì ở trong khu vực

kết giới để tu đạo là Giới nội, ở ngoài khu

vực gọi là Giới ngoại.

(xt. Sinh Tử, Kết Giới).

GIỚI NỘI GIÁO

Đối lại với Giới ngoại giáo.

Chỉ cho Tạng giáo và Thông giáo

GIỚI NỘI GIÁO

 

G

2011

trong Tứ giáo hóa pháp do tông Thiên thai

lập ra.

Giáo pháp này giúp người tu hành đoạn

trừ Kiến hoặc, Tư hoặc để giải thoát sinh

tử, ra khỏi ba cõi mà vào Niết bàn. Giới

nội giáo được chia làm hai loại: Giới nội sự

giáo và Giớinộilí giáo. Giới nội sự giáo chỉ

cho Tạng giáo, Giới nội lí giáo chỉ cho

Thông giáo.

[X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ].

(xt. Giới Nội Sự Giáo, Giới Nội Lí Giáo).

GIỚI NỘI HOẶC

……..

Chỉ cho Kiến hoặc, Tư hoặc trong ba

hoặc do tông Thiên thai lập ra.

Kiến hoặc là đem những kiến giải phân

biệt sai lầm để suy lường đạo lí trong ba

đời. Đến giai vị Kiến đạo mới đoạn trừ được

hoặc này.

Tư hoặc (Tu hoặc) là những phiền não

mê chấp các sự cảnh trong thế gian. Đến

giai vị Tu đạo mới đoạn trừ được hoặc này.

Kiến, Tư hoặc đều là mê sự mê lí ở giới

nội mà phải chịu sinh tử trong ba cõi, nên

gọi là Giới nội hoặc.

(xt. Tam Hoặc).

GIỚI NỘI LÍ GIÁO

Chỉ cho Thông giáo trong Tứ giáo hóa

pháp do tông Thiên thai lập ra.

Giáo nghĩa này bàn về lí nhân duyên tức

không, ít nói về sự tướng hơn Tạng giáo,

nhưng xét về sự lí cùng tột thì đạt đến lí

“sinh tức vô sinh”, “không tức bất không”,

cho nên gọi là Giới nội lí giáo.

GIỚI NỘI SỰ GIÁO

Chỉ cho Tạng giáo trong Tứ giáo hóa

pháp do tông Thiên thai lập ra.

Giáo nghĩa này đặt nặng về sự tướng sai

biệt của các pháp Sắc và Tâm, là pháp môn

chuyên nghiên cứu về 5 uẩn, 12 xứ và 18

giới để thấy rõ lí “Không”. Nhưng lí “Không”

này mới chỉ là “đãn không”, chưa được cùng

tột, nên gọi Giới nội sự giáo.

[X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm

Q.10; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ].

(xt. Ngũ Thời Bát Giáo).

GIỚI PHÁP

Chỉ chung những giới luật do đức Phật

chế định, như 5 giới, 8 giới, 10 giới, giới Cụ

túc, 3 tụ tịnh giới, 10 giới nặng, 48 giới nhẹ…

Một trong Giới Tứ biệt.

Giới là nguồn gốc của đạo giải thoát, nhờ

giữ giới thanh tịnh mà phát sinh trí tuệ vô

lậu, ra khỏi được biển sinh tử khổ não.

[X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết

hành sự sao Q.trung phần 1]. (xt. Giới Tứ

Biệt).

GIỚI PHẠT

…..

Sự trừng phạt nghiêm trọng đối với chư

tăng phạm tội.

Đại tống tăng sử lược quyển thượng (Đại

54, 240 trung), nói: “Nếu có người phạm

lỗi, vị chủ sự dùng gậy đánh hoặc đốt áo bát

của họ, gọi là Giới phạt”.

[X. môn Tội trách trong Thiền lâm tượng

khí tiên].

GIỚI PHẨM

…..

Phẩm thứ 1 trong 9 phẩm của bộ luận

Câu xá.

Giới nghĩa là tính; Phẩm ở đây dùng để

nói rõ về thể tính của các pháp.

Câu xá luận quang kí quyển 1 (Đại 41, 1

hạ), nói: “Giới nghĩa là tính, tính gọi là thể.

Phẩm này nói về thể tính của các pháp, cho

nên gọi là Giới phẩm”.

GIỚI PHẨM

 

G

2012

GIỚI PHÌ

Giới thể vô tác phát sinh do giữ gìn

Thánh pháp.

Vì lực dụng của giới này luôn luôn tăng

trưởng, công năng ngăn ngừa tội lỗi rất

mạnh, có thể sinh ra quả thiện trong đời vị

lai, cho nên gọi là Giới phì.

[X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết

hành sự sao Q.thượng phần 1; Đại thừa

nghĩa chương Q.10]. (xt. Giới Luy).

GIỚI QUANG MINH

Cũng gọi Giới quang. Ánh sáng của giới.

Từ ngữ dùng để biểu thị đức tướng của

người thụ giới hoặc hình dung công đức của

người giữ giới.

Chư Phật ra đời đều nối nhau truyền tụng

giới văn, tất cả Bồ tát sơ phát tâm cho đến Bồ

tát Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng,

cũng đều như vậy, cho nên chẳng riêng gì

đức Phật mà hễ tăng ni nào huân tập được

giới đức thì trong miệng đều phóng ra giới

quang này. Nhưng giới quang này chẳng phải

xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, chẳng phải sắc,

chẳng phải tâm, chẳng phải có chẳng phải

không, cũng chẳng phải là pháp nhân quả,

mà chỉ là giả lập trên tư tưởng, là nguồn gốc

của chư Phật, là căn bản của đạo Bồ tát.

[X. kinh Phạm võng Q.hạ].

GIỚI SÁT NIÊM PHẬT

Cấm giết hại, tu niệm Phật. Là nghi thức

tu hành được đặc biệt nhấn mạnh tại Trung

quốc từ cuối đời Tống trở về sau.

Không giết hại là giới thứ nhất trong 5

giới, 10 giới, 250 giới, là giới điều bị cấm

ngặt trong Phật giáo.

Vào các thời Tề, Lương thuộc Nam Bắc

triều, căn cứ vào câu “không nên ăn thịt”

trong kinh Lăng già bạt đa la bảo quyển 4

mà những người học Phật không ăn thịt cá.

Vào các thời Tùy, Đường, giới Phật giáo

y cứ vào phẩm Lưu thủy trưởng giả tử trong

kinh Phạm võng và kinh Kim quang minh

quyển 4 mà tổ chức pháp hội “Giới sát phóng

sinh”.

Vào cuối đời Tống, các ngài Chân yết

Thanh liễu, Vương nhật hưu, v.v… căn cứ

vào câu “Từ tâm bất sát, tu thập thiện nghiệp

(lòng thương chẳng giết, tu mười nghiệp lành),

mà chủ trương người tu niệm Phật phải thụ

trì giới không giết hại.

Theo Long thư tăng quảng tịnh độ văn

quyển 4 của Vương nhật hưu, thì giới không

giết hại này là đại thiện, giết hại là đại ác.

Nếu chỉ giữ được một giới không giết hại

này mà tu Tịnh độ, thì cũng không đến nỗi

sinh ở hạ phẩm. Cho nên biết không giết

hại, không ăn thịt là đại thiện. Nếu người vì

bệnh tật mà ăn ba món tịnh nhục, thì khi

ăn, phải niệm 49 biến “Na mô Tây phương

cực lạc tam thập lục vạn ức nhất thập nhất

vạn cửu thiên ngũ bách đồng danh đồng

hiệu A di đà Phật” để cầu cho những chúng

sinh ấy sinh về Cực lạc.

Chủ trương này, từ đời Minh trở đi là

phép tắc tu hành của giới cư sĩ Phật tử. Trong

Qui nguyên trực chỉ tập quyển thượng có

nêu những bài Giới sát văn của ngài Chân

yết, Giới sát phóng sinh văn của ngài Vân

thê Châu hoành, Tịnh từ yếu ngữ của ngài

Nguyên hiền, v.v… đều là nhấn mạnh hạnh

tu niệm Phật song song với từ bi giới sát và

phóng sinh.

[X. Long thư tăng quảng tịnh độ văn Q.6;

Qui nguyên trực chỉ tập Q.hạ; Trung quốc

tịnh độ giáo lí sử (Vọng nguyệt tín hanh)].

GIỚI TẠNG

I. Giới Tạng.

Trong một giới hàm chứa tất cả chân lí.

GIỚI TẠNG

 

G

2013

Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1004

thượng), nói:

“Lắng nghe ta đang tụng

Ba la đề mộc xoa

Giới tạng trong Phật pháp

Đại chúng lòng tin chắc”.

II. Giới Tạng.

Chỉ cho tất cả các loại kinh điển nói về

giới luật.

III. Giới Tạng.

Chỉ cho Phật tâm, Phật tính xưa nay vốn

chứa sẵn trong giới pháp.

GIỚI THÂN

Phạm: Zìla-skandha.

Cũng gọi Giới chúng, Giới uẩn, Giới phẩm.

Chỉ cho hai nghiệp thân và khẩu vô lậu.

Một trong năm phần pháp thân.

Tức là thân giới pháp của Như lai đã xa

lìa tất cả sự sai quấy, xấu ác của ba nghiệp

thân, khẩu, ý.

(xt. Ngũ Phần Pháp Thân).

GIỚI THỂ

Thể tính của giới.

Dịch cũ là Vô tác; dịch mới là Vô biểu.

Chỉ cho công năng ngăn ngừa điều sai

quấy, xấu ác phát sinh trong tâm hành giả

sau khi thụ giới. Cũng tức là ý chí vâng giữ

và niềm tin đối với giới pháp.

Giới thể tuy do tác dụng lễ bái, cầu xin

mà sinh khởi, nhưng sau khi đã phát sinh

thì không cần tạo tác mà thường hằng tương

tục, nên gọi Vô tác, vì tướng của nó không

hiển hiện ra ngoài, nên gọi là Vô biểu.

(xt. Giới Thể Tam Chủng, Vô Tác Giới).

GIỚI THỂ TAM CHỦNG

Ba thuyết khác nhau về Giới thể.

1. Giới thể là sắc pháp: Thuyết nhất

thiết hữu bộ cho rằng giới thể là thực sắc vô

kiến vô đối, nương vào bốn đại(đất, nước,

lửa, gió) mà sinh ra, thuộc về Sắc uẩn, gọi là

Vô biểu nghiệp hoặc Vô biểu sắc. Luận Câu

xá quyển 13 (Đại 29, 70 thượng), chép: “Luận

sư Tì bà sa nói có vật thực, gọi là Vô biểu

sắc, đó là chỗ y cứ của ta”.

2. Giới thể là tâm pháp: Kinh bộ và

tông Duy thức chủ trương lúc thụ giới có

phát động Tư tâm sở, do chủng tử của tâm

sở này nối nhau mà sinh ra công năng ngăn

ngừa điều sai trái, xấu ác, bởi thế, giới thể

tuy nương vào biểu sắc lúc thụ giới, nên được

gán cho cái tên là sắc, nhưng thực ra thì nó

là tâm pháp. Như luận Thành duy thức

quyển 1 (Đại 31, 4 hạ), nói: “Biểu đã không

thực, thì Vô biểu há có thực sao? Tuy nhiên

dựa theo phần hạn thiện ác củaTư tâm sở

mà giả lập Vô biểu thì lí cũng không trái.

Nghĩa là Vô biểu này có thể dựa vào sự tăng

trưởng của chủng tử Tư tâm sở phát ra thiện

ác ở thân, khẩu mà lập, hoặc dựa vào Tư

tâm sở trong định ngăn ngừa thân, khẩu tạo

ác mà lập, nên là có giả”. Vì tông Duy thức

cho rằng Vô biểu tuy không phải sắc, nhưng

nó có công năng ngăn ngừa điều sai quấy,

phát sinh điều lương thiện, nên giả gọi là

sắc. Đứng về phương diện Biệt giải thoát

giới mà nói, thì Vô biểu lấy công năng của

chủng tử Tư tâm sở làm thể; còn đứng về

phương diện Đạo cộng giới và Định cộng

giới mà nói, thì nó lấy sự hiện hành của Tư

tâm sở làm thể.

3. Giới thể phi sắc phi tâm pháp: Luận

Thành thực chủ trương giới thể không hình

chất nên chẳng phải sắc; không duyên lự

nên chẳng phải tâm. Như phẩm Vô tác trong

luận Thành thực quyển 7 (Đại 32, 290

trung), nói: “Đối với điều bất thiện hoặc vô

kí mà người ta vô tâm thì cũng gọi là giữ

giới. (…) Pháp vô tác chẳng phải tâm, nay

chính là tâm, tức là tâm bất tương ứng hành.

(…) Sắc là tướng phiền não bại hoại, mà trong

GIỚI THỂ TAM CHỦNG

 

G

2014

pháp vô tác thì không có tướng phiền não

bại hoại, cho nên chẳng phải sắc”. Ngài Đạo

tuyên cũng chủ trương thuyết này, rồi ngay

nơi “đương phần” của luật Tứ phần, theo

lập trường của tông Thành thực mà lập Giới

thể phi sắc phi tâm.

Nhưng, trong Tứ phần luật san bổ tùy

cơ yết ma sớ quyển 3, ngài Đạo tuyên lại

nêu ra thuyết Giới thể của Viên tông Nam

sơn, coi luật Tứ phần gồm chung cho Đại

thừa, nên lấy chủng tử thiện huân tập trong

Tàng thức(Hiện thức chân vọng hòa hợp) làm

giới thể.

Ngoài ra, trong Bồ tát giới nghĩa sớ quyển

thượng, ngài Trí khải cho rằng giới thể là giả

sắc. Nhưng trong Thích thiền ba la mật thứ

đệ pháp môn quyển 2 và Ma ha chỉ quán

quyển 4 phần trên, thì ngài Trí khải lại lấy

tâm tính làm giới thể. Tuy có hai thuyết sắc

và tâm về giới thể, nhưng tông Thiên thai

vẫn lấy giới thể là sắc pháp làm tiêu chuẩn

nhất định.

Mật giáo cũng chủ trương giới thể là tâm

pháp, lấy tâm bồ đề thanh tịnh sẵn có làm

giới thể của Phật tính tam muội da giới.

[X. luận Câu xá Q.1; Câu xá luận quang

kí Q.13; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết

hành sự sao Q.thượng phần 1, Q.trung phần

1; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung

phần 1; Đại thừa nghĩa chương Q.10; Đại

thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3 phần

cuối; Ma ha chỉ quán phụ hành truyền hoằng

quyết Q.4 phần 1; Thụ Bồ tát giới nghi;

Thích thị yếu lãm Q.thượng; Phạm võng

kinh huyền nghĩa].

GIỚI THỪA TỨ CÚ

Bốn loại giới thừa do các tông Thiên thai

và Hoa nghiêm lập ra để phân biệt những

căn cơ khác nhau. Giới chỉ cho các giới nhẹ

hay nặng do đức Phật chế định. Thừa chỉ

cho các pháp Đại thừa hay Tiểu thừa do

đức Phật nói ra. Đó là:

1. Thừa cấp giới hoãn, Cấp tức là gấp

rút, Hoãn nghĩa là chậm rãi. Thừa cấp chỉ

cho người siêng năng nghe giáo pháp để tiến

tu. Giới hoãn chỉ cho người lười biếng không

chịu giữ giới. Hạng người này sẽ bị đọa địa

ngục, ngã quỉ, súc sinh… Nhưng nhờ Thừa

cấp, trong tâm chí thành nghe giáo pháp,

nên vẫn được nghe kinh pháp, như loài rồng,

quỉ v.v… trong tám bộ chúng.

2. Giới cấp thừa hoãn, nghĩa là gấp rút

lo giữ gìn giới pháp nên được sinh trong cõi

người, cõi trời, nhưng vì Thừa hoãn nên làm

biếng nghe pháp.

3. Thừa giới câu cấp, nghĩa là nhờ cấp

thiết giữ giới mà được sinh trong cõi người,

cõi trời, lại cũng nhờ Thừa cấp, nên được

nghe giáo pháp mà ngộ đạo.

4. Thừa giới câu hoãn, nghĩa là đã không

giữ giới, mà cũng chẳng chịu nghe pháp, đến

khi mất thân người, vĩnh viễn đọa vào ác

đạo.

[X. kinh Đại bát niết bàn Q.6 (bản Bắc);

Ma ha chỉ quán Q.4 phần trên; Pháp hoa

kinh văn cú Q.2 phần dưới; Hoa nghiêm

kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.6; Chỉ quán

phụ hành truyền hoằng quyết Q.4 phần 2;

Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng].

GIỚI TRÀNG

Đạo tràng để truyền giới và thuyết giới

Bố tát. Như đạo tràng truyền giới Tam muội

da, gọi là Tam muội da giới tràng. Trong

Giới tràng thiết lập Giới đàn để cử hành tác

pháp truyền giới.

Giới tràng vốn không cần xây cất nhà

cửa, chỉ cần kết giới ở chỗ đất trống là được;

nhưng, để phòng ngừa mưa gió, nên xưa nay

đại khái thường thực hành cả hai là truyền

giới trong nhà hoặc kết giới thụ giới ngoài

chỗ trống.

Sự khác nhau giữa giới tràng và giới đàn:

GIỚI TRÀNG

 

G

2015

Giới đàn là cái nền hơi cao được thiết lập

trên chỗ đất bằng phẳng, còn giới tràng thì

chỉ cần ở chỗ đất bằng thôi. Nhưng đôi khi

cũng gọi Giới đàn là Giới tràng, hoặc gọi

chung là Đàn tràng. Vị sư tổ chức đạo tràng

truyền giới, gọi là Giới tràng chủ, thông

thường chỉ cho vị trụ trì ngôi chùa của đạo

tràng truyền giới. Lại nữa, vị Giới tràng chủ

thường kiêm nhiệm chức Dẫn lễ sư hoặc

Hòa thượng truyền giới trong Tam sư.

(xt. Giới Đàn, Kết Giới).

GIỚI TRẦN (1878-1948)

Vị tăng Trung quốc thời hiện đại, người

Hán xuyên, Hồ bắc, họ Khâu, tự Địch ngô.

Sư xuất gia năm 19 tuổi, chuyên tu khổ

hạnh, rồi đến núi Chung nam tu tập Thiền

định. Về sau, sư chuyển sang niệm Phật cầu

vãng sinh Tịnh độ. Khoảng năm Quang tự

(1875-1908), sư vào núi Kê túc, tỉnh Vân

nam tu định Bát chu. Năm Dân quốc thứ 3

(1914), sư vào học tại Đại học Hoa nghiêm

ở Hàng châu, sau nhập thất ở chùa Phật viên

tại Thường thục, chuyên tu tịnh nghiệp.

Năm Dân quốc thứ 9 (1920), sư cùng

với các pháp sư Liễu trần, Từ chu mở trường

Đại học Hoa nghiêm ở chùa Cửu liên tại

Hán khẩu. Sau khi hoàn thành, sư trở về

Vân nam thiết lập Tịnh nghiệp liên xã,

hướng dẫn đồ chúng tu phạm hạnh (hạnh

thanh tịnh). Người qui y có tới mấy vạn.

Tháng 5 năm Dân quốc 37, sư tịch ở

chùa Cung trúc tại Côn minh, thọ 71 tuổi,

53 tuổi đạo.

Sư có các tác phẩm: Hoa nghiêm nhất

trích, Hoa nghiêm thất xứ cửu hội đồ, Liên

xã minh huấn, Tịnh tông yếu ngữ.

GIỚI TƯ

Cũng gọi Giới kim, Giới mễ.

Trong thời gian thụ giới, các giới tử đóng

góp tiền bạc hoặc vật tư của phần mình để

sung vào các khoản chi phí như ăn uống

v.v…, gọi là Giới tư (tiền thụ giới).

Chương Phạm hạnh thứ 5 trong Hoàng

bá thanh qui (Đại 82, 769 trung), nói: “Người

muốn thụ giới, trước hết phải đến vị Khố ti

nộp giới tư, sau đó, đến liêu của vị Thư kí

ghi tên để điền vào giới điệp”.

GIỚI TỨ BIÊT

Bốn nghĩa trọng yếu riêng biệt của giới:

1. Giới pháp: Những giới luật do đức

Phật chế định như: Không được giết hại,

trộm cướp, dâm dục, nói dối, v.v… để răn

cấm và làm khuôn phép cho người tu hành.

Đây tức là con đường thông suốt để ra khỏi

sinh tử.

2. Giới thể: Thể tính của giới phát sinh

trong tâm hành giả sau khi nhận lãnh giới

pháp. Đây là nguồn gốc sinh ra muôn hạnh.

3. Giới hạnh: Sau khi được giới thể,

thường phải giữ gìn ba nghiệp thân, khẩu,

ý, ngăn ngừa không để phạm lỗi, rộng tu

các phương tiện khiến tâm không tán loạn.

4. Giới tướng: Nhờ sự giữ giới mà thành

tựu các hạnh uy nghi, nên tất cả cử chỉ đều

đúng như pháp, đức tướng hiện rõ.

Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển

thượng phần 1 (Đại 40, 180 trung), nói: “Đức

Phật chế ra giáo gọi là Pháp, nhận lãnh pháp

thành nghiệp gọi là Thể, nương nơi thể mà

giữ gìn giới gọi là Hạnh, do tu hành trì giới

mà có uy nghi gọi là Tướng”.

[X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết

hành sự sao Q.thượng phần 1; Tứ phần luật

hành sự sao tư trì kí Q.trung phần 1 tiết 4;

Bổ trợ nghi Q.thượng].

GIỚI TỰ

Bài tựa giới Bồ tát.

Kinh Phạm võng (Đại 24, 1103 thượng),

GIỚI TỰ

 

G

2016

nói: “Các Phật tử! Hãy chắp tay và dốc lòng

lắng nghe, nay ta muốn nói bài tựa giới Đại

thừa của chư Phật”.

Trong hội Bố tát, khi giới sư tụng giới,

trước hết phải tụng bài tựa giới, sau đó mới

tụng chính văn.

GIỚITỬ

Cũng gọi Giới đệ, Giới đồ.

Đệ tử thụ giới.

Trong Giới đàn, để tránh gọi lẫn lộn với

Giới sư nên những người thụ giới đặc biệt

được gọi là Giới tử.

Ngoài ra, người theo hầu vị Giới sư gọi

là Giới thị giả, hoặc Giới thị. Khi Giới sư lên

chính điện, người bưng lư hương và giúp

Giới sư đốt hương, gọi là Giới thị hương.

GIỚI TỬ

Phạm: Sarwapa. Tạng: Yuís-kar.

Dịch âm: Tát lợi sát bả, Xá lợi sa bà, Gia

lương chí.

Hạt cải. Có các thứ trắng, vàng, đỏ, xanh,

đen khác nhau.

Trong kinh điển Phật thường dùng Giới

tử để ví dụ vật rất nhỏ, như nói: “Hạt cải

(giới tử) chứa núi Tu di, lỗ chân lông thu

biển cả” v.v… Lại vì hạt cải và đầu mũi kim

đều là những vật rất nhỏ, cho nên câu “Hạt

cải ném trúng đầu mũi kim” thường được

dùng để ví dụ cho việc rất khó xảy ra.

Cứ theo kinh Niết bàn quyển 2 (bản

Bắc), thì đức Phật ra đời là việc hiếm có rất

khó xảy ra như hạt cải ném trúng đầu mũi

kim vậy.

Kinh Kim quang minh tối thắng vương

quyển 7, xếp hạt cải là một trong 32 vị hương

dược. Theo Đại nhật kinh nghĩa thích quyển

7, thì vì hạt cải có vị cay khác thường nên

phần nhiều được dùng trong pháp tu hàng

phục chướng nạn.

Trong Mật giáo, hạt cải trắng được dùng

bỏ vào lò lửa đốt để diệt trừ ác ma, phiền não

và cầu nguyện. Nhưng vì hạt cải trắng rất khó

kiếm nên phần nhiều dùng hạt rau cải thìa

hoặc hạt cải thông thường để thay thế.

Ngoài ra theo truyền thuyết, tại Nam

thiên trúc, bồ tát Long thụ đã từng dùng

bảy hạt cải trắng mở tháp sắt Nam thiên mà

lấy được kinh Đại nhật. Thông thường, trong

Mật giáo, hạt cải được coi là có sức thần tiêu

trừ ma chướng, nên khi tu pháp Đà đô cúng

dường Xá lợi Phật, thì hạt cải trắng là một

trong những vật cúng không thể thiếu.

[X. kinh Thủ lăng nghiêm tam muội

Q.thượng; kinh Thất câu chi Phật mẫu chuẩn

đề đại minh đà la ni; phẩm Tức chướng trong

kinh Đại nhật Q.2; luận Đại trí độ Q.30;

Tăng quảng bản thảo cương mục Q.26]. (xt.

Bạch Giới Tử, Cực Vi, Đà Đô Pháp).

GIỚI TỬ GIA TRÌ

Trong Mật giáo, khi tu pháp Hộ ma, chú

nguyện vào hạt cải rồi rải ra khắp chung quanh

để kết giới hàng ma.

Khi hành giả tông Chân ngôn thực hành

pháp Giới tử gia trì, thì phải quán tưởng các

tòa tháp trong 10 phương pháp giới đều mở

ra, rồi lễ thỉnh chư tôn Thánh chúng chứng

minh hứa khả.

Cứ theo phẩm Phụng thỉnh thành tựu

trong kinh Tô tất địa, khi tu pháp, trước hết

dùng chân ngôn “Thành biện chư sự” hoặc

chân ngôn “Quân đồ lợi” gia trì vào hạt cải

trắng rồi rải ra trên đất, như thế có thể diệt

trừ các nạn.

[X. kinh Đà la ni tập Q.7; phẩm Bổ khuyết

thiểu pháp trong kinh Tô tất địa].

GIỚI TỬ KIẾP

Phạm: Sarwapopama-kalpa.

Cũng gọi: Giới thành kiếp.

GIỚI TỬ KIẾP

 

G

2017

Số kiếp nhiều như hạt cải.

Kinh Tạp a hàm quyển 34 và luận Đại

trí độ quyển 5 đều nói về loại ví dụ này.

Nghĩa là có một tòa thành vuông vức mỗi

bề rộng một do tuần, trong đó chứa đầy hạt

cải, gọi là Giới thành; có một người sống

lâu, cứ mỗi trăm năm đến lấy ra một hạt cải,

dù cho lấy hết tất cả hạt cải kia đi mà số

kiếp cũng vẫn chưa hết.

Ngoài Giới tử kiếp, kinh Phật cũng

thường dùng ví dụ “Bàn thạch kiếp, hoặc

ghép chung hai ví dụ lại mà gọi là Giới

thạch, Giới thành kiếp thạch để diễn tả sự

lâu dài của số kiếp.

(xt. Kiếp, Bàn Thạch Kiếp).

GIỚI TƯỚNG

Các tướng trạng sai khác biểu hiện qua

việc giữ giới.

Như giữ 5 giới, 10 giới cho đến 250 giới,

trong mỗi giới đều có sai biệt, tùy theo sự

giữ, phạm, nhẹ, nặng đối với các giới mà

có những tướng trạng khác nhau. Thông

thường chỉ cho các tướng trạng tuân thủ

giới luật.

Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển

trung phần 1, hạ (Đại 40, 274 hạ), nói:

“Tướng có hình dáng nhìn vào có thể phân

biệt được. Trước hết nói về Giới pháp,

nhưng chỉ bàn về công năng. Kế đến nói

về Giới thể, nhưng chỉ bàn về nghiệp tính.

Sau cùng nói về Giới hạnh, nhưng chỉ bàn

qua về phần nhiếp tu. Nếu không biện biệt

rõ tướng thì ba phần Pháp, Thể, Hạnh sẽ

không hiểu được phần nào cả. Tại sao vậy?

Vì Pháp không có pháp riêng, thì tướng tức

là Pháp; Thể không có thể riêng thì Tướng

chung là Thể; Hạnh không có hạnh riêng

thì thực hành phần tướng là Hạnh. Bởi vậy,

người tu học phải tìm hiểu pháp môn này

cho thật sâu”.

(xt. Giới Tứ Biệt).

GIỚI VĂN

Văn chính của giới bản. Như văn chính

của Tứ phần tỉ khưu giới bản, Sa di tắc ngũ

phần giới bản v.v…

Trái lại, Luật văn là văn chính của các

bộ Quảng luật, như luật Tứ phần, luật Ngũ

phần v.v…

GIỚI XÍCH

Gọi tắt: Xích. Thước giới.

Một loại pháp khí dùng để cảnh giác

đại chúng hoặc ổn định trật tự trong các

pháp hội qui y, thế độ, truyền giới, thuyết

pháp, du già diệm khẩu thí thực, tạm thời

hệ niệm…

Giới xích do hai thanh gỗ tạo thành, một

ngửa, một úp. Thanh ngửa ở dưới, hơi lớn

hơn. Lúc sử dụng cầm thanh gỗ trên đánh

xuống thanh gỗ dưới làm phát ra tiếng kêu.

Gần đây, việc dùng Giới

xích đã có sự thay đổi,

phần nhiều chỉ dùng một

miếng gỗ nhỏ và dài

khoảng 15 phân Tây,rộng

và dày ba phân rưỡi.

Ngoài ra, cái phách

mà tông Tịnh độ dùng để

gõ nhịp theo văn kinh

khi đọc tụng, cũng được

gọi là Giới xích.

[X. điều Sa di đắc độ, Đại chúng chương

trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ;

môn Bái khí trong Thiền lâm trượng khí

tiên].

GIỚI XÍCH

Cũng gọi Giới phương. Thước kẻ.

Thanh gỗ được dùng để vạch giới tuyến,

hoặc khi giảng kinh, gõ nhẹ trên mặt bàn

GIỚI XÍCH

Giới Xích

 

G

2018

để báo hiệu giờ giảng kinh sắp kết thúc.

Diêu thị tàn

ngữ (được thu

vào Thuyết phu

quyển 31) của

Diêu khoan đời

Tống, nói: “Thái tổ dùng gỗ cây bách làm

giới xích, gọi là Cách bút giản”.

Thiền lâm loại tụ quyển 1 của ngài Đạo

thái đời Nguyên (Vạn tục 117, 2 hạ), nói:

“LươngVũ đế thỉnh Phó đại sĩ giảng kinh,

Đại sĩ lên tòa, dùng Giới xích đập trên mặt

bànmột cái, rồi xuống tòa”.

Khi viết chép kinh, Giới xích được dùng

để kẻ dòng, như phần lớn kinh sách đào

được ở Đôn hoàng đều có kẻ dòng. Thông

thường, dòng được kẻ bằng mực lợt, theo

đường dọc từ trên xuống dưới, cứ mỗi dòng

một đường vạch, khoảng cách tùy theo khổ

GIỚI XƯNG NHỊ MÔN

Giới Xích

chữ lớn hay nhỏ. Hoặc dùng nhũ bạc kẻ

đường trắng, gọi là Bạch giới(cũng gọi Áp

giới); còn những đường kẻ bằng mực thì gọi

là Ô ti lan(đường chỉ đen).

[X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.19; Nhật

bản thư chí học chi nghiên cứu (Lại xuyên

Nhất mã); Cổ tả kinh tông giám (Điền trung

Khối đường)].

GIỚI XƯNG NHỊ MÔN

Hai môn Viên giới, Niệm Phật, Giáo

nghĩa căn bản của tông Thiên thai chân

thịnh ở Nhật bản.

Giới là giới Bồ tát viên đốn; Xưng là xưng

niệm danh hiệu Phật A di đà. Hai môn này

tuy hai mà chẳng phải hai, tương tức bất li,

người tu đầy đủ hai môn này thì chắc chắn

được vãng sinh.

 

 

 

 
Ý kiến bạn đọc