• Hội quán thư pháp Thạch Thiện
 
 

Ni trưởng Thích nữ Trí Hải (1938 -2003)

 

– Nguyên Phó viện trưởng viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam
– Nguyên thư viện trưởng và Giám đốc An sinh xã hội viện Đại học Vạn Hạnh
– Nguyên Giảng sư Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh
– Trụ trì tịnh thất Tuệ Uyển Vạn Hạnh, Liên Hoa, Diệu Không.

Ni trưởng Pháp danh Tâm Hỷ, Pháp hiệu Thích Nữ Trí Hải, thế danh Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh.

Sinh ngày 09 tháng 03 năm 1938 (Mậu Dần), tại Vỹ Dạ, tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế, nguyên quán Gia Miêu Ngoại Trang, Thanh Hóa.

Xuất thân từ một danh gia vọng tộc nhiều đời thâm tín Phật Giáo, thân phụ là cụ Nguyễn Phước Ưng Thiều tự Mân Hương, Pháp danh Như Chánh, thuộc phủ Tuy Lý Vương, thân mẫu là cụ bà Đặng Thị Quê, Pháp danh Trừng Xuân. Ni trưởng là con thứ năm trong gia đình có sáu anh em.

Bởi có túc duyên sâu đối với Phật pháp như thế, nên lúc còn là thai nhi ba tháng, Ni trưởng đã được sớm quy y Tam Bảo với đức Đệ Nhất Tăng Thống thượng Tịnh hạ Khiết. Ngôi chùa Tường Vân, Diệu Đức đã ươm hạt giống Bồ-đề cho người từ buổi thiếu thời vào những ngày còn học phổ thông. Ni trưởng với thiên tư thông tuệ, tài hoa, phẩm cách thanh cao đã nuôi chí xuất trần vào giữa tuổi hoa niên tươi đẹp.

Năm 17 tuổi đỗ Tú tài toàn phần, tiếp tục vào trường Đại học Sư phạm Huế và sau khi tốt nghiệp, đi dạy trường Phan Chu Trinh – Đà Nẵng.

Năm 1960, Ni trưởng sang Mỹ du học và  tốt nghiệp Thạc sỹ Văn chương tại Đại học Princeton, Hoa Kỳ (M.A).

Năm 1964 Ni trưởng quyết dứt trần duyên, cắt tóc xanh, xuất gia với Ni trưởng thượng Diệu hạ Không, một bậc trưởng lão Ni rất nổi tiếng và giới hạnh tại chùa Hồng Ân, Huế và đã được thọ giới Sa-di Ni. Sau đó, Người được Giáo Hội cử làm thư ký cho Thượng tọa Viện trưởng Thích Minh Châu khi Viện Cao đẳng Phật học trở thành Viện Đại học Vạn Hạnh.

Năm 1968, Ni trưởng được Thượng tọa Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh bổ nhiệm làm Thư viện trưởng và giám đốc Trung tâm An sinh xã hội của Viện. Từ đó Ni trưởng tham gia việc giảng dạy, dịch thuật, thuyết pháp cho sinh viên, Tăng Ni Phật tử tại Viện và thực hiện công tác An sinh từ thiện cho đồng bào bị thiên tai bão lụt và chiến tranh.

Khi Viện Phật học Vạn Hạnh được thành lập, Ni trưởng Trí Hải là một trong những giảng viên đầu tiên giảng dạy tại Thiền viện Vạn Hạnh và Trường Cao cấp Phật học Việt Nam được thành lập năm 1984, (nay là Học viện Phật giáo Việt Nam) tại thành phố Hồ Chí Minh. (nhân vật nữ đầu tiên và duy nhất giảng dạy tại một Học viện Phật giáo trong thời kỳ đó). Tại ngôi trường này, ni trưởng giảng dạy giới luật (Pratimoksa) và đã có nhiều bài thuyết giảng sâu sắc về Trung Bộ Kinh bằng tiếng Anh cho Tăng Ni sinh.

Mở rộng công tác giáo dục, mỗi lần có dịp về Huế, Ni trưởng đều được thỉnh giảng ở các chùa Diệu Đức, Diệu Hỷ, Hồng Ân và phụ trách lớp Cảnh Sách.

Mỗi mùa An cư kiết hạ, Ni trưởng được mời thuyết giảng tại các trường hạ như Vĩnh Phước (ở Hóc Môn), chùa Phước Hòa và các Tự viện trong thành phố hoặc vùng xa như chùa Đại Giác ở Sóc Trăng.

Năm 1996 đến 1999 trường Trung cấp Phật học Long An, Ni viện Thiên Phước thỉnh Ni trưởng dạy Luật Tứ Phần Tỳ-kheo-ni và Bồ-tát giới.

Các Đại Giới đàn Minh Tánh (1996), Liễu Thiền (1999), Khánh Phước (2002) tổ chức tại Ni viện Thiên Phước – Long An đều cung thỉnh Ni trưởng làm Tuyên Luật sư và Trưởng Ban khảo hạch.

Năm 2003 Ni trưởng được cử vào Phó Ban khảo hạch Đại Giới đàn Thiện Hoa ở Từ Nghiêm.

Đầu tháng 12 năm 2003 Ni trưởng được suy cử Phó viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phật học Việt Nam và Trưởng ban vận động tài chính.

Ngoài những hoạt động giáo dục, hoằng pháp, Ni trưởng còn dành nhiều thì giờ cho việc phiên dịch, biên soạn và in ấn kinh điển để giúp Tăng Ni, Phật tử có thêm tài liệu nghiên cứu học tập, mà tổng số lên đến cả trăm tác phẩm. Đặc biệt nổi tiếng là những bản dịch: Câu chuyện dòng sông của Đại văn hào Hermann Hesse, Gandhi tự truyện, Câu chuyện triết học, Thanh tịnh đạo luận, Thắng Man, Tạng thư Sống Chết, Giải thoát trong lòng tay. Ni trưởng còn trước tác một số tác phẩm khác mà quan trọng nhất là các bản Toát yếu Trung Bộ Kinh (3 tập).

Không những tham gia vào sự nghiệp văn hóa, giáo dục, cuộc đời Ni trưởng còn gắn bó mật thiết với thân phận của đồng bào nghèo khó yếu đau khắp mọi miền đất nước. Từ những ngày làm Giám đốc Trung tâm An sinh xã hội, Ni trưởng đã đeo đuổi sự nghiệp giúp người cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời mình, dù có gặp gian khổ đến đâu.

Đầu tháng 3 năm 2003, nhân khi đi cứu trợ đồng bào dân tộc tại xã Thống Nhất huyện Bù Đăng, Ni trưởng đã bị té, chấn thương cột sống suýt nguy đến tánh mạng. Nhờ sự chữa trị tận tình của các bác sĩ thân hữu và sự săn sóc chu đáo của các đệ tử, Ni trưởng đã dần dần bình phục. Trong lúc cơ thể bị đau đớn như thế, sắc mặt Ni trưởng vẫn tươi vui, luôn hoan hỉ với mọi người, không bỏ dở việc dạy học cho đệ tử và đã sáng tác một loạt những tập thơ Ngoạ Bệnh Ca, Báo Ân Ca để tỏ lòng cảm ơn những người thăm hỏi. Nội dung các tập thơ này tỏa sáng ánh trí tuệ và thơm ngát hương từ bi.

Một chiều mùa đông Ni trưởng bận chút Phật sự đi Phan Thiết với ba em thị giả, trên đường trở về Ni trưởng cùng hai em đệ tử Tuệ Nhã và Phước Tịnh đều bị lâm nạn, Người đã Xả báo thân vào lúc 17 giờ ngày 14 tháng 11 năm Quý Mùi tức ngày 07 tháng 12 năm 2003, hưởng thọ 66 tuổi đời với 33 Hạ lạp; như một đóa Ưu-đàm tươi tắn ngát hương chợt bị bão tố vô thường cuốn đi vào cõi vô cùng, để lại bao nỗi ngậm ngùi đau thương cho những người ở lại.

Nhưng không, hương vẫn ngan ngát thơm bay khắp muôn phương: hương giới đức, hương định tuệ, hương giải thoát của một đời Ni trưởng. Một tấm lòng rộng mở vì Phật Pháp, vì an vui cho mọi người và thương tưởng thế hệ tương lai. Dù có nói bao nhiêu cũng không đủ ngôn từ để diễn đạt hết điều đáng nói nhất về Ni trưởng.

 

TRÍ HẢI TOÀN TẬP

A.    CHUYỂN NGỮ

  1. Kinh Đại thừa Nhập Lăng già 7q (Hán tạng, Thật xoa nan đà)
  2. Kinh Pháp Bảo Đàn (Hán, Lục tổ)
  3. Kinh Thắng Man (Hán tạng)
  4. Kim cang Bát nhã trực giải (Hán, Hám sơn đại sư)
  5. Con đường của Phật (Anh, Osho, 12 quyển)
  6. Con đường thoát khổ (dịch, W. Rahula, What the Buddha taught) (bản mới sửa lại năm 1999 lấy tên là Phật dạy những gì)
  7. Huyền Trang nhà chiêm bái và học giả (Anh, HT Thích Minh Châu)
  8. Nẻo vào tịnh lạc (Anh, Osho, 3 quyển)
  9. Vui chay ý đạo (trích từ Con đường của Phật, 2 quyển)
  10. Thanh tịnh đạo
  11. Tự điển Phật Học Pàli-Anh-Việt
  12. Tứ phần Tỳ Kheo Ni chú giải (Hoa ngữ, Phật Oanh)
  13. Luật ngũ phần (Hoa ngữ, Đại tạng), 15 cuốn trước
  14. Tạng thư sống chết (Anh ngữ, Sogyal Rinpoche)
  15. Giải thoát trong lòng bàn tay
  16. Tử thư Tây Tạng (Anh, Even-Wentz)
  17. Người cầm sen trắng (Dalai Lama 14, Freedom in Exile)
  18. Đưa vào Mật tông (Lama Yeshe, Introduction to Tantra)
  19. Thiền đạo (Alan Watts, The Way of Zen)
  20. Sống thiền (Herrigel, Zen in the art of archery)
  21. Tự chữa bệnh theo Mật tông
  22. Phật Giáo truyền thống Tây Tạng (Kelsang Gyatso, Buddhism in Tebetan tradition) song ngữ
  23. Triết lý Trung đạo Phật Giáo (T Murti, The central philosophy of Buddhism)
  24. Pháp Hiển nhà chiêm bái(HT Thích Minh Châu, Fa Hsien)
  25. So sánh Trung A hàm và Trung bộ kinh (HT Thích Minh Châu, A Comparative study)
  26. Tình yêu phổ quát (Kelsang Gyatso, The Universal Love)
  27. Hành trình không đến đích (Choyam Trungpa, Journey without Goal)
  28. Thế quân bình (Tarthang Tulku, Gesture of Balance)
  29. Làm việc một nguồn vui (Tarthang Tulku, Skilful Means)
  30. Minh sát tuệ (hiệu đính bản dịch của Tuệ Dung)
  31. Chuyển họa thành phúc (hiệu đính bản dịch của Tuệ Dung)
  32. Nhật ký cuối cùng (hiệu đính bản dịch của Tuệ Dung)
  33. Niềm vui học Phật (hiệu đính bản dịch lớp Tuệ Uyển)
  34. Thiền yếu chỉ (Alan Watts)
  35. Đi vào cõi tâm
  36. Đèn soi nẻo giác (Atisha)
  37. Sáu pháp Du già (Chang, the Six Yogas of Naropa)
  38. Tâm bất sinh (Bankei)
  39. Nhập Bồ Tát Hạnh.Phạn ngữ Bodhisattvacharyavatara (Shantideva)

B. BIÊN SOẠN

  1. Toát yếu Kinh Trung Bộ, 3 tập
  2. Phật pháp căn bản 4 cấp
  3. Nguồn mạch tâm linh (Thiền và mật)
  4. Bóng nguyệt lòng sông (tìm hiểu giáo lý)
  5. Sự tích giới luật (Tỳ kheo ni)
  6. Đường vào nội tâm (phóng tác truyện tích)
  7. Hương bay suối cũ (thư gửi Phật tử)
  8. Vần thơ cho Bé
  9. Đạo và Thơ
  10. Ảo hóa (dịch truyện ngắn của Hermann Hesse)
  11. Vén mây cuối trời
  12. Còn mãi làn hương
  13. Những chuyến đi (nhiều tác giả)
  14. Tịch mịch ký (tùy bút sau năm 1975
  15. Từ Nguồn Diệu Pháp

C. SÁCH NGOÀI PHẬT HỌC

  1. Krishnamurti tả cảnh
  2.  Krishnamurti tả người
  3. Gandhi tự truyện (Anh ngữ, Gandhi)
  4. Thông điệp Thánh Gandhi (Anh, Louis Fischer)
  5. Câu chuyện dòng sông (Anh, H. Hesse)
  6. Nhà khổ hạnh và gã lang thang (Pháp, H Hesse)
  7. Nhân sinh luận (Krishnamurti)
  8. Câu chuyện triết học (Anh, Will Durant)
  9. Tâm phân học và tôn giáo (Anh, Erich Fromm)
  10. Phương pháp chữa tim của tiến sĩ Ornish (Anh Ornish)
  11. Bắt trẻ đồng xanh (J.D. Salinger)
  12. Tiểu sử Krishnamurti (Pupul Jayakar)
 
Ý kiến bạn đọc