Chưa có thông tin tác giả

 
 
  • Hội quán thư pháp Thạch Thiện
 
 

Những đóng góp của người Trung Hoa đối với Phật giáo – HT. Thích Minh Châu – Thích Nữ Liên Hiếu dịch

 

Những đóng góp của người Trung Hoa đối với Phật giáo

HT.  Thích Minh Châu
Thích Nữ Liên Hiếu dịch
(Nguyên tác bằng Anh ngữ: “Chinese Contributions to Buddhism”  đăng trong Tạp Chí The Maha Bodhi, Vol. 69. No 5. Nov. Dec. CE. 1961)

Nghiên cứu tổng thể lịch sử Phật giáo từ lúc mới du nhập Trung Hoa năm 64 TL dưới triều đại của vua Minh Đế cho đến thời cận đại, chúng ta nhận thấy có hai sự đóng góp nổi bật trong những đóng góp khác nhau của người Trung Hoa đối với Phật giáo nói chung và đối với văn hoá và kiến thức Phật giáo nói riêng. Trước hết là biên tập và bảo tồn Ba Tạng Kinh Trung Hoa (Chinese Tripi.taka). Ba tạng này bao gồm hầu hết những thánh điển quan trọng trong kinh điển Phật giáo. Tiếp theo là những ký sự của những nhà chiêm bái Trung Hoa nổi tiếng đã đến Ấn Độ để nghiên cứu kinh điển. Khi trở về nước các vị đó đã để lại các sử ký của mình hết sức nổi bật, có giá trị về mặt lịch sử, địa lý và xã hội.

Ba Tạng Kinh Trung Hoa hiện nay là thành quả của sự cộng tác mật thiết giữa chư tăng Ấn Độ và Trung Hoa. Với lòng nhiệt thành và cống hiến hết sức mình như để tán thán giáo pháp cao thượng [của Đức Phật], các vị đã thực hiện phiên dịch những bản kinh Sanskrit, Prakrit và ngay cả những bản kinh Paali sang tiếng Hoa. Trong các vị tăng dịch thuật nổi tiếng đầu tiên của Trung Hoa và Ấn Độ, là: Ngài Ca-diếp-ma-đằng (Skt. Kaasyapa Maatanga, Chin. Chia-yeh-mo-ts’eng) và Trúc-pháp-lan (Skt. Dharmaraksha, Chin. Chu-fa-lan) [1]. Hai vị này đã bắt đầu dịch bản kinh đầu tiên là Tứ Thập Nhị Chương Kinh (Ssu-shi-erh-chang-ching) và Phật Bổn Hạnh Kinh (Skt. Buddhacarita, Chin. Fu-pen-hsing-ching). Kế đó là 55 bản dịch của Ngài An Thế Cao (An-shi-kao) ở nước An Tức( Skt. Parthia, Chin. An-si) hết sức có uy tín. Ngài Cưu-ma-la-thập (Skt. Kumaarajiva, Chin. Chiu-mo-lo-shi) cũng dịch được 55 tác phẩm. Ngài Huyền Trang (Hsuan-ts’ang) nổi tiếng đời Đường cũng dịch được 75 tác phẩm, nhưng được trích dẫn [trong Ba Tạng] không nhiều. Ba Tạng Kinh Trung Hoa được chia thành 4 phần lớn. Phần thứ nhất là Kinh Tạng (Skt. Suutrapi.taka, Chin. Ching-pu), phần hai là Luật Tạng (Skt. Vinayapi.taka Chin. Lu-pu), phần ba là Luận Tạng (Skt. Abhidharmapi.taka, Chin. Lun-pu). Trong mỗi phần được chia nhỏ thành các Kinh, Luật, Luận tương ứng của Đại Thừa (Mahaayaana) và Tiểu Thừa (Hiinayaana). Phần bốn bao gồm những tạp phẩm của các vị tăng Ấn Độ và Trung Hoa. Vì các nhà biên tập Trung Hoa không có thái độ [phân biệt] bộ phái, nên những văn bản được sưu tầm của tất cả các trường phái Mahaayaana và Hiinayaana đều được có mặt trong Ba Tạng Kinh này. Do đó, phần Luật Tạng bao gồm [những bộ luật của các trường phái] như Thập Tụng Luật (Sarvaastivaadavinaya), Tứ Phần Luật (Dharmaguptavinaya), Ma-ha-tăng-kỳ-luật (Mahaasanghikavinaya), Ngũ Phần Luật (Mahiisaasakavinaya). Ngay cả bản sớ giải Samantapaasaadikaabằng tiếng Paali về Luật tạng của Ngài Phật Âm (Buddhaghosa) cũng được nói là đã được dịch sang tiếng Hoa. Bản gốc của tác phẩm Vimuttimagga (Giải Thoát Đạo) bằng ngôn ngữ Paali đã bị mất ở Tích Lan, nhưng lại được bảo tồn dưới hình thức bản dịch tiếng Hoa. Một trong những tác phẩm nổi bật trong Luận Tạng của trường phái Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvaastivaada) là luận phẩm nổi tiếng Tỳ-bà-sa (Vibhaasaa). Tác phẩm này là một bản sớ giải nhiều tập của luận phẩm Jnaanaprasthana, được Ngài Huyền Trang dịch thành 200 tập, bản gốc Sanskrit này không may mắn bị mất. Vì vậy Ba Tạng Kinh Trung Hoa cung cấp nguồn tài liệu nghiên cứu vô tận, không những trong phương diện nội điển của các trường phái Phật giáo mà còn là tài liệu có tầm quan trọng rất lớn về địa dư, văn hoá, lịch sử khi nghiên cứu về Ấn Độ cổ đại.

Ba tạng kinh điển Trung Hoa có đánh động [tâm thức] của tín đồ khi tiếp cận về mặt tâm linh hay tri thức [Phật giáo] hay không, nhưng các cuộc hành hương của những nhà chiêm bái Trung Hoa đến Ấn Độ cùng với những ký sự của họ dường như đã để lại tiếng ngân cảm xúc trong trái tim và tâm thức của tất cả mọi người.

Cả hàng trăm, nếu không nói là hàng ngàn vị tăng từ Trung Hoa đến Ấn Độ nghiên cứu kinh điển, có 3 vị vượt trội hơn những vị khác với những thành tựu nổi bật và có nhân cách lỗi lạc, đó là Ngài Pháp Hiển (Fa-hsien), Huyền Trang (Hsuan-t’sang) và Nghĩa Tịnh (Y-tsing).

Nhà chiêm bái Trung Hoa nổi tiếng đầu tiên là Ngài Pháp Hiển, tên thật của Ngài là Cung, quê ở Vũ Dương (Wu-yang) huyện Bình Dương (Ping-yang). Ngài được đưa vào Tăng đoàn lúc 3 tuổi, và được đặt pháp danh là Pháp Hiển. Lúc Ngài đã được 65 tuổi, Ngài rời Trường An (Chang-an) [sang Ấn Độ] cùng với 9 hay 10 [2] vị tăng khác vào năm 339 TL. Ngài băng qua sa mạc Gobi, các nước Trung Á, Cao nguyên Pamir, rồi đi khắp Ấn Độ từ Tây sang Đông, đáp thuyền đến Tích Lan, và từ đó đi vòng đến Sumatra, băng qua biển Trung Hoa và cuối cùng đến Lao Sơn (Lao-shan) vào năm 413 TL. Trở về Trung Hoa lúc ấy Ngài được 79 tuổi. Ngài khởi hành từ Trung Hoa cùng với 9 hoặc 10 vị tăng, nhưng khi trở về trong đơn độc, không một người bạn đồng hành, vì các pháp lữ của Ngài đã trở về Trung Hoa [không tiếp tục cuộc hành trình], hoặc bị chết trên đường hay ở lại Ấn Độ. Cuộc hành trình của Ngài tròn 15 năm.

Ngài Pháp Hiển lên đường đến Ấn Độ với mục đích sưu tầm các bản luật lưu truyền ở Ấn Độ. Vì Ngài nhận thấy ở Bắc Ấn luật tạng chỉ được khẩu truyền, do đó Ngài vội vã xuống phía nam để thu thập một số bản cảo về luật tạng. Bốn bản kinh văn sau đây được cho là Ngài đã sưu tầm, đó là: Mahaaparinirvaanasuutra (gồm có 2 bản dịch), samyuktapi.takasuutra, Mahaasanghabhikkhuniisuutra [3]. Sau khi trở về Trung Hoa Ngài viết ký sự chiêm bái của Ngài, gọi là Phật Quốc Ky� (Ký Sự về Những Nước Phật Giáo, Record of Buddhist Countries) [4].Tác phẩm này ghi lại đầy đủ cuộc hành trình của ngài, và ngang qua tài liệu đó, chúng ta hiểu được những tập quán, thời tiết, địa lý và lịch sử của các nước Trung Á, Ấn Độ, Tích Lan, và Ấn Độ dương.

Những lời tường trình của Ngài cho chúng ta thấy biết bao bất lợi khốc liệt mà Ngài đã phải đối đầu, biết bao sự khổ nhọc mà Ngài phải chịu đựng để hoàn thành cuộc hành trình của mình. Ngài nói rằng: “khi tôi nhìn lại quãng đường mà tôi đã đi qua, tim tôi đánh thình thịch và bắt đầu tháo mồ hôi. Tôi liều mạng trước tất cả những nguy hiểm mà không hề nghĩ đến bản thân, bởi vì tôi đã có mục đích xác định; và thật đơn giản, tâm tôi chỉ có một hướng. Đó là lý do tại sao tôi đã dấn thân vào một cuộc hành trình mà cái chết hầu như chắn chắn, và tôi chỉ có một chút cơ may sống sót của vạn tử nhất sinh mà thôi “[5]. Ở đây, chúng tôi trích dẫn lời ca ngợi của một vị tăng [vô danh] Trung Hoa ở đoạn cuối ký sự của Ngài Pháp Hiển như sau:

“Chúng tôi thật xúc động trước những gì mà Ngài [Pháp Hiển] đã nói. Một con người như vậy thật hiếm có dù xưa hay nay. Từ khi tôn giáo vĩ đại đến phương Đông, chưa từng có một người nào ngang tầm với Ngài Pháp Hiển trong việc xả thân để truy tầm Luật tạng. Qua đó, chúng ta có thể hiểu rằng: mọi việc đều có thể thực hiện từ một trái tim chân thành, và mọi việc có thể được hoàn thành nếu người ấy có kiên định. Phải chăng sự thật Ngài đã thành công là do Ngài từ bỏ những gì mà người khác cho là có giá trị và lại cho là có giá trị những gì người khác từ bỏ?” [6]

Khoảng hai thế kỷ sau, một nhà chiêm bái nổi tiếng khác là Ngài Huyền Trang đến Ấn Độ để nghiên cứu kinh điển. Ngài sinh năm 600 trong một gia đình Khổng giáo ở Hồ Nam. Ngài vào Tăng đoàn lúc 12 tuổi và thọ cụ túc giới vào năm 622 lúc vừa tròn 20 tuổi[7]. Ngài đã thông hiểu Phật pháp khi Ngài còn ở Trung Hoa, căn bản là luận tạng (Abhidharma) của Mahaayaana và Hiinayaana. Đặc biệt là Duy thức (Vij~naanavaada) trong luận phẩm Nhiếp Đại Thừa Luận (Mahaayaana-Sa”mparigraha ‘Saastra) của Ngài Vô Trước (Asa”nga). Vì Ngài đã khám phá rất nhiều sự mâu thuẫn trong các bản kinh của Trung Hoa, và nhiều sai lầm trong các bản dịch. [Để giải quyết vấn đề trên], Ngài Huyền Trang đến Ấn Độ để nghiên cứu Phật giáo tận ngọn nguồn. Năm 629, Ngài bí mật trốn sang Ấn Độ lúc 26 tuổi. Cuộc hành trình của Ngài từ Trung Hoa sang Ấn Độ mất hết gần 2 năm. Ngài đã trải qua 12 năm du hành ở Ấn Độ từ Kashmir ở phía Tây đến Assam [nay vẫn thuộc bang Assam] ở phía Đông Ấn và toàn bộ cao nguyên Decan. Ngài trở về Trung Hoa bằng con đường bộ Tokharistan, [núi tuyết] Pamir, Đôn Hoàng (Tun-Huang) và đến Trường An (Chang-an) vào đầu năm 642, lúc bấy giờ Ngài đã 43 tuổi. Ngài mang về 657 tác phẩm, gồm có 224 bản kinh (suutras), 192 bản luận (saastras) của Mahaayaana, 14 bản của Thượng Toạ Bộ (Sthavira), 15 bản thuộc Đại Chúng Bộ (Mahaasa”nghika), 17 bản thuộc Ẩm Quang Bộ (Kaasyapiya), 42 bản của Đàm-vô-đức Bộ (Dharmagupta), 67 bản thuộc Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvaastivaada), 36 tác phẩm nói về luận lý học (Hetuvidraa), và 13 tác phẩm về ngôn ngữ học (‘Sabdasaastra). Tất cả số sách đó được chuyên chở bằng 20 con ngựa.

Có lần nọ, Ngài Huyền Trang đã từ chối không nhận một chức quan do vua ban, Ngài bắt đầu dịch số sách mà Ngài đã mang về từ Ấn Độ. Ngài đã dịch 75 tác phẩm khác nhau gồm 1335 tập nhỏ (facilities). Công trình dịch thuật của Ngài thật vô song, đã đưa ngài đến vị trí dẫn đầu trong hàng học giả. Các dịch phẩm của Ngài phối hợp được kiến thức hoàn hảo về Sanskrit và kiến thức sâu sắc tuyệt vời của nền văn hoá và ngôn ngữ Trung Hoa. Sự uyên bác về Sanskrit của Ngài rõ ràng là không chỉ trong việc dịch thuật kinh điển mà còn trong các cuộc tranh luận giáo lý với các học giả Ấn Độ, không chỉ trong sáng tác những bài kệ hoà hợp giữa Trung Luận (Madhyamika) với Duy Thức Luận (Vij~naanavaada) mà Ngài còn dịch Đạo Đức Kinh (Tao-te-ching) sang tiếng Sanskrit theo yêu cầu của vua Kumaara Bhaskararman ở Kaamaruupa [thuộc bang Assam, Đông Ấn ngày nay]. Ngài cũng dịch bộ Đại Thừa Khởi Tín Luận (Mahaayaanasraddotpaadasaastra) của Ngài Mã Minh (Asvaghosa) sang Hoa văn. Ngài viên tịch lúc 65 tuổi, năm 664 TL, để lại niềm thương kính cho toàn đất nước. Lễ tưởng niệm Ngài được [toàn quốc] tổ chức hết sức trọng thể.

Nếu Pháp Hiển và Huyền Trang đi đến Ấn Độ bằng đường bộ thì Ngài Nghĩa Tịnh – một vị chiêm bái Trung Hoa khác đã đến đất Phật bằng đường thuỷ.

Ngài Nghĩa Tịnh sinh ở gần Bắc Kinh (Peiking) vào năm 634. Ngài xuất gia năm 13 tuổi. Theo gương của Ngài Huyền Trang, lúc 37 tuổi năm 671 TL, Ngài theo thương thuyền người Ba Tư (Persian) sang Ấn Độ. Ngài có nghỉ lại ‘Sriivijaya [8] (hiện nay là Sumatra), rồi từ đó đi đến Tamralipti. Ngài gặp đệ tử của Huyền Trang và cùng họ đi đến đại tòng lâm Naalandaa, Tỳ-xá-ly (Vaisali), Câu-thi-na (Kusinagara). Ngài Nghiã Tịnh đã lưu lại Naalandaa 10 năm để học với các vị thầy Ấn Độ và sưu tầm một số bản kinh Sanskrit. Sau đó Ngài rời Tamralipti về lại ‘Srivijaya mang theo 10 ngàn bản kinh Sanskrit (gồm 685 quyển) và ở lại đó 4 năm để dịch số kinh điển này. Vì số sách [chưa dịch] quá nhiều mà chỉ một mình thực hiện, nên Ngài đi đến Quảng Đông (Canton) để tìm đệ tử mới.[9] Rồi Ngài trở về ‘Srivijaya và ở lại đó thêm 5 năm nữa. Vào năm 695, Ngài quyết định trở về Lạc Dương (Lo-yang), được triều đình và nhân dân [Trung Hoa] tiếp đón nồng hậu. Từ năm 700 đến năm 712 Ngài dịch được 65 bộ sách trong đó có bộ luật của trường phái Căn Bản Nhất Thiết Hữu Bộ (Muulasarvaastivaada)[10]. Ngài viên tịch ở Lạc Dương (Lo-yang) lúc 79 tuổi.

Trong ký sự của Ngài Nghĩa Tịnh có đề cập đến một ngôi chùa Trung Hoa được đại đế Sri Gupta xây dựng để làm nơi trú chân cho các vị tăng Trung Hoa. Ngôi chùa này nằm ở phía đông của tu viện Naalandaa, cuối dòng sông Hằng (Ganges), có tên là M.rgasikhavana[Lộc Học Uyển]. Khoảng 20 vị tăng Trung Hoa đến Ấn Độ bằng con đường tắt, nhưng con đường ấy rất nguy hiểm, phải ngang qua thượng phần Miến Điện (Upper Burma) và Assam [bang Asam thuộc Đông Ấn ngày nay].Vua Sri Gupta gặp 20 vị tăng Trung Hoa này đang đảnh lễ Đại Tháp ở Bồ Đề Đạo Tràng (Buddha Gaya). Do đó, ông đã ra lệnh xây dựng một ngôi chùa đặc biệt dành cho các vị tăng Trung Hoa, và ban đặc ân ngân khoản [tiền thuế của dân cho quốc gia] của 24 ngôi làng lớn cho các việc sinh hoạt của họ.

Dựa theo tài liệu của Ngài Nghĩa Tịnh, ngôi chùa được vua Sri Gupta xây dựng ở một nơi nào đó gần Naalandaa dành cho các vị tăng Trung Hoa. Bây giờ chúng ta hãy trở về với hiện tại. Ngôi Chùa Trung Hoa ở Naalandaa này hôm nay khánh thành được là nhờ sự cúng dường rộng rãi của người Trung Hoa ở nước ngoài. Sự chuyển tiếp từ quá khứ huy hoàng cho đến cận đại rồi hiện tại này, dường như nó đã nối lại ở đâu đó một truyền thống tốt đẹp nhất của người Trung Hoa về sự nhiệt thành đối với Đạo Phật, và nỗi thao thức truy tầm giáo pháp của người Trung Hoa.

Chúng tôi tha thiết hy vọng rằng ngôi chùa Trung Hoa Tân Naalandaa này cũng là ngôi Chùa Học Thuật, cống hiến hết sức mình cho nhiệm vụ cao quý – thắp sáng và giương cao Ngọn Đuốc Chánh Pháp mà bao thế hệ chư tăng và phật tử Trung Hoa đã từng giương cao trong quá khứ.

Chúng tôi xin cầu nguyện cho Naalandaa mới này dần dần theo kịp hình thức và nội dung của trường Đại Học Naalandaa cũ, sự đổ nát điêu tàn của nó bây giờ vẫn còn chứng minh hùng hồn một thời kỳ vàng son.

Xin Tam Bảo ban phúc lành và hộ trì các tín chủ đã tôn tạo ngôi chùa này!

Cầu nguyện cho tất cả chúng sanh được hạnh phúc trong an bình và thịnh vượng!

CHÚ THÍCH (của người dịch)

[1] Chữ viết tắt Sanskrit là Skt., còn phiên âm chữ Trung Quốc theo kiểu Mỹ, được viết tắt là Chin.

[2] Theo tác phẩm Pháp Hiển – Nhà Chiêm Bái Khiêm Tốn (Fa-shien, The Unassuming Pilgrim) của Hoà Thượng Minh Châu do Ni Sư Trí Hải dịch, thì chín vị cùng tháp tùng với Ngài có tên là: Huệ Cảnh, Huệ Đạt, Đạo Chỉnh, Huệ Ứng, Huệ Ngôi, Trí Nghiêm, Huệ Giản, Tăng Thiệu và Bảo Vân.

[3] Có sự khác biệt rất lớn giữa bài nghiên cứu này với tác phẩm trên của Hoà Thượng. Theo tác phẩm trên có đề cập Ngài Pháp Hiển đã mang về rất nhiều bản Kinh Luật Luận khác như: Samyuttaabhidharahrdayasaastra,…. Ngay cả những tác phẩm đề cập trong bài nghiên cứu trên cũng không tương ứng. (Xem tác phẩm Pháp Hiển – Nhà Chiêm Bái Khiêm Tốn (Fa-shien, The Unassuming Pilgrim), Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, 1997, tr. 244-245).

[4] Người Trung Quốc thỉnh thoảng gọi tác phẩm này là Cao Tăng Pháp Hiển Truyện.

[5] Nguyên bản tiếng Anh “when I look back on what I have been through, my heart begins to pound and I start to sweat. I risked all those dangers with no thought for myself, because I had a fixed purpose and, simple as I am, was single-minded. That was why I embarked upon a journey in which death seemed almost certain, and I had one chance only in 10.000 of surviving”

[6] Nguyên bản tiếng Anh “we were moved by what he said. Such men as this are rare whether in ancient times or at the present day. Since the great religion travelled East, there has been no one to equal Fa-hsien in his selfless search for the Law. From this we may know that all things are possible to a sincere heart, and all things can be accomplished if a man has determination. For is it not true that he succeeded because he disregarded what others value, and valued what others disregard?”

[7]. Con số được Hoà Thượng đề cập trên không tương ứng giữa năm sinh với năm xuất gia, năm thọ giới, năm đi Ấn Độ và năm trở về. Tham khảo thêm trong A Dictionary of Chinese Buddhist Terms của William Edward Soothill và Lewis Hodous

[8] ‘Srivijaya, một tiểu quốc nằm giữa biên giới Trung Hoa và Ấn Độ, chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hoá Ấn được thành lập dưới triều đại ‘Sailendra. Các vị vua của triều đại đóng góp rất nhiều cho các công trình nghệ thuật điêu khắc kiệt tác của Phật giáo.

[9] Theo tác phẩm Buddhism in China của Kenneth K.S. Ch’en, ông cho rằng, Ngài chỉ tìm người trợ giúp (assistants) mà thôi. tr. 239.

[10] Trong tác phẩm Buddhism in China của Kenneth K.S. Ch’en, nói rằng Ngài Nghĩa Tịnh còn viết 2 tác phẩm quan trọng khác nữa là: Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện, [Ký Sự các Nước Phật Giáo ở Quần Đảo Phía Nam] (A Record of the Buddhist Kingdoms in the Southern Archipelago. Chin. Nan-hai-chi-kuei-nei-fa-chuan)và tác phẩm Đại Đường Tây Vức Cầu Pháp Cao Tăng Truyện [Tiểu Sử Cao Tăng Đời Đường Đi Cầu Giáo Pháp ở Ấn Độ] (Biographies of Eminent Monks of the T’ang Who Sought the Dharma in the Western Religions. tr. 239.

 

Nguồn: http://www.buddhismtoday.com

 
Ý kiến bạn đọc