Chưa có thông tin tác giả

 
 
  • Hội quán thư pháp Thạch Thiện
 
 

Nắng trên sông Neranjara

 

Buổi sáng hôm đó, nắng vàng rất đẹp, mây xanh trong vắt và những bông hoa lựu đỏ thắm, nở rực rỡ trên con đường dẫn ra bờ sông Neranjara. Trong không gian ấm áp đó, một vị sa-môn như đang cố gắng tiến về bến sông. Nhìn thân hình quá gầy ốm, tiều tụy của ông, ai cũng có thể biết rằng ông là một nhà tu khổ hạnh như rất nhiều nhà tu khổ hạnh khác, dùng hình thức ép xác để mong tìm sự giải thoát cho tâm linh.

Vị sa-môn này đã quá yếu, bước chân khẳng khiu nghiêng ngả như không mang nổi tấm thân chỉ còn da bọc xương. Nhưng bước đi xiêu vẹo của ông rõ ràng là có chủ đích. Đúng thế, sa-môn muốn xuống tắm gội dưới sông Neranjara, một việc mà lâu nay ông đã chẳng bận tâm làm !

Nhưng trong buổi sáng nắng vàng này thì khác vì ông vừa nhận ra rằng thân và tâm chẳng thể rời nhau, trái lại, thân có khỏe thì tâm mới sáng, tâm có sáng mới quán chiếu sự vật tinh thông. Và ông có một quyết định quan trọng là xả bỏ lối tu khổ hạnh để chuyên tâm thiền định lắng sâu hơn. Ông sẽ xuống sông tắm gội rồi sau đó, sẽ ôm bát vào làng xóm khất thực. Quyết định này ông chưa kịp nói cho năm người bạn đồng tu biết nhưng ông tự nhủ, rồi sẽ tìm họ sau, cũng không muộn.

song-pb

          Khó nhọc lắm, rồi vị sa-môn cũng lần được tới ven sông.

Neranjara là con sông chảy qua ngôi làng nhỏ Uruvela gần thị trấn Gaya hướng đông nam Ấn Độ. Bên kia sông là làng mạc, đồng cỏ, ruộng lúa. Bên này sông thì chỉ có rừng cây, đặc biệt là những cây Pippala tuổi thọ hàng mấy trăm năm, đã khoác lên khu rừng một vẻ đẹp vừa hùng tráng, vững chãi vừa dịu dàng êm mát.

Khi chảy ngang qua đây, sông có những khúc rất cạn, trẻ mục đồng có thể lùa trâu qua rừng khi trâu đã ăn cỏ no nê ở bờ bên kia để khỏi phải canh chừng trâu dẫm đạp lên ruộng lúa. Nhưng cũng có nhiều khúc khá sâu, nước trong và mát, khách bộ hành đường xa mỏi mệt có thể xuống tắm một lát là lại khỏe khoắn đi tiếp.

Neranjara, tự thân chỉ có thế, chỉ như muôn ngàn con sông khác, nhưng nhân gian đã đội vương miện lên cho nó vì chính nơi khúc sông này, một người trí tuệ vô song – vượt lên trên muôn triệu người – đã từng xuống tắm. Rồi khu rừng nữa, nó cũng chỉ như bao khu rừng khác nhưng nhân gian đã tô phết hào quang lên nó chỉ vì dưới bóng đại thụ đã có một người trí tuệ vô song – vượt lên trên muôn triệu người – đã từng ngồi thiền định.

Giòng sông đó, khu rừng đó và vị sa-môn quyết không rời gốc đại thụ nếu không tìm ra đường giải thoát, nay, đã trở thành những biểu tượng tột cùng thiêng liêng, tột cùng tôn quý đối với thế nhân. Nhưng tự thể, giòng sông Neranjara không hề khác gì hơn sau khi được đội vương miện. Khu rừng Pippala cũng thế, vẫn thản nhiên bốn mùa mưa nắng dù được sơn phết hào quang; nhưng mấy ai nhận ra rằng những vương miện tưởng là rực rỡ đó, những hào quang tưởng là sáng chói đó chẳng có một chút giá trị nào đối với sông kia, rừng nọ mà “Cái giá trị vô giá là ở những phương thức giải thoát, người đạt đạo đã tìm ra” và nó chỉ vô giá với ai nhận biết rồi thực hành. Biết mà không hành thì nó vẫn chỉ là vô giá trị.

Theo dõi bước chân người đạt đạo để thấy rằng, trước khi ánh sao mai kỳ diệu hiện lên ở canh ba, soi tỏ lẽ vô thường vô ngã, trước khi nắm được chìa khóa của tên cai ngục phiền não vô minh, người ấy cũng như bao nhiêu sa-môn, đạo-sỹ khác, lang thang đó đây khổ công tìm đạo.

Chỉ khác, cái dũng của người trí tuệ là không chùn bước trước gian khổ, hiểm nguy thử thách. Người đó chỉ nhìn thẳng vào mục đích đã vạch ra. Mục đích đó là tự độ rồi độ tha. Đường đi của những người chỉ sống vì lợi ích chúng sanh không bao giờ là những con đường bằng phẳng, dễ đi. Nghe có vẻ nghịch lý nhưng thật cũng dễ hiểu vì tâm thế gian vốn hẹp hòi, ích kỷ, ganh ghét, đố kỵ, tham sân……Làm sao những cái tâm ấy dễ dàng để cho những người tốt lành, nhân ái, trong sạch hơn họ làm những điều họ không làm được ?

Dù là Phật tử hay không, chúng ta cũng đã ít nhiều biết về con người trí tuệ vô song từng xuống tắm trên giòng sông Neranjara, từng ngồi thiền trong rừng cây pippala gần 2600 năm trước. Người đó đã tìm ra Đạo Cả, người đó được môn đồ tứ chúng gọi Ngài là Phật. Phật là giác ngộ, Đạo Phật là đạo giác ngộ. Dù đã tìm ra chân lý, dù đã miệt mài đi khắp đó đây giáo hóa cho chúng sanh cùng khổ, dù đời sống Ngài chỉ vì lợi người nhưng suốt 49 năm hoằng pháp Ngài thường xuyên gặp kẻ chống báng, vu cáo, bôi lọ, ganh ghét, tỵ hiềm…..

Với tất cả bao chuỗi ác nghiệp trùng trùng bất tận đó Đức Thích Ca Mâu Ni vẫn bình tâm hoằng pháp và chỉ dùng hai thứ khí giới là Từ Bi và Trí Tuệ để chuyển nghiệp cho kẻ tạo nghiệp. Trong màn đêm vô minh, sự thật là đuốc. Người biết nương đuốc mà đi sẽ tới nơi muốn tới.

Hãy như Sujata, Svastika, Rupak, Bala…..những đứa trẻ hồn nhiên hiền hòa trong thôn Uruvela, chúng cúng dường sa-môn Gotama cũng như khi đảnh lễ Phật Thích Ca chỉ cùng một tâm trong suốt.

Hãy như ngũ huynh đệ Kondanna, tuy bất đồng vì không hiểu rõ nguyên do sa-môn Gotama chuyển phương pháp tu tập, nhưng khi biết ra liền xả bỏ tự ngã để hài hòa.

Hãy như voi Nalagiri, nhận ra tiếng hú voi chúa qua âm thanh của Phật là lập tức ngưng ngay sự ác độc hung hãn mà nó được lệnh phải thi hành.

Hãy đừng như Đại Đức Devadatta, ném đá toan sát hại Phật chỉ vì lòng ganh tỵ

Hãy đừng như các giáo phái chống đối Phật thời Phật còn tại thế, chỉ vì tự ái ghét ghen.

Hay, cho đến rốt ráo, tâm thế gian nếu chẳng thể nhu hòa từ ái thì xin hãy được như giòng sông Neranjara, sang không mừng, hèn không tủi vì nó hiểu rằng sang hèn chỉ là thước đo của nhân gian vọng động. Neranjara chỉ đích thực là dòng sông khi nó lặng thinh mà trong suốt, thực chứng tâm đạo, ý đời, một nguồn xuôi chảy, dù gần 2600 năm trước, vị sa-môn ngồi thiền trong cánh rừng bên kia sông có từng xuống tắm hay không.

Hãy như con nước chảy

Vương bước chân người qua

Nước xuôi dòng ra biển

Tâm người sẽ thăng hoa.

 

Huệ Trân – Thư Viện Hoa Sen

 
Ý kiến bạn đọc